Tải bản đầy đủ
1 . Vài nét về Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

1 . Vài nét về Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Tải bản đầy đủ

28

Header Page 34 of 161.
lại Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, trong đó có Học viện Ngân
hàng - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20/08/2003 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 174/2003/QĐ-TTg
thành lập Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở Phân viện
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Học viện Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, trụ sở của trường đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh có các nhiệm vụ : đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ trung cấp, cao đẳng, cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về lĩnh vực
tiền tệ - tín dụng và ngân hàng.
Các ngành đào tạo của Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh bao
gồm:
- Tiền tệ - Thị trường tài chính.
- Quản trị các định chế tài chính.
- Kế toán và kiểm toán ngân hàng.
- Tài chính - Ngân hàng quốc tế.
- Tài chính
Ngoài ra, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh còn đào tạo, huấn
luyện cán bộ ngân hàng theo chương trình của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thực
hiện đào tạo các chuyên ngành sâu theo yêu cầu của thị trường như quản trị doanh
nghiệp, thị trường chứng khoán, xây dựng và thẩm định dự án, ngoại ngữ, tin học.
Trường cũng đang chuẩn bị triển khai chương trình đào tạo cử nhân công nghệ thông
tin ngân hàng và Anh văn thương mại.
2.1.2. Mục tiêu và kết quả đào tạo, nghiên cứu khoa học
❖ Mục tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa học
Với nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học,
thạc sĩ và tiến sĩ về lĩnh vực tiền tệ - tín dụng và ngân hàng cho hệ thống ngân hàng và
các định chế tài chính khác, mục tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường là :

Footer Page 34 of 161.

29

Header Page 35 of 161.
- Đào tạo các chuyên gia cao cấp về tài chính - ngân hàng.
- Đào tạo các nhà quản trị các định chế tài chính.
- Đào tạo các nhà kinh doanh trong các lĩnh vực ngân hàng, thị trường chứng
khoán và các dịch vụ tài chính khác.
- Tư vấn đào tạo và chuyển giao các công nghệ mới cho đội ngũ nhân sự đang
làm việc tại các định chế tài chính.
- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản, ứng dụng và phát triển
công nghệ về lĩnh vực tài chính - ngân hàng và vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan.
- Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ về quản trị, kinh doanh
trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
 Kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trong những năm qua, số học viên được đào tạo dài hạn tại trường Đại học Ngân
hàng ở các bậc trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và tương đương, và đại học là
khoảng hơn 26.000 người, ở bậc tiến sĩ và thạc sĩ nhà trường đã đào tạo được khoảng
hơn 70 người. Ngoài đào tạo dài hạn, nhà trường còn đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ
ngắn hạn cho hơn 20.000 học viên, trong đó có cả hợp tác đào tạo quốc tế, quản lý các
dự án đào tạo như Dự án giúp phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam của Thụy Điển
(SIDA), dự án đào tạo Việt - Pháp do Chính phủ Pháp tài trợ, dự án của Ngân hàng
ING của Hà Lan, Ngân hàng ANZ của úc và New Zealand và Ngân hàng May của
Malaysia.
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu mối
thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học của ngành ngân hàng ở các tỉnh phía
Nam. Cán bộ, giảng viên của trường đã tham gia nhiều công trình nghiên cứu khoa học
của ngành, của Thành phố Hồ Chí Minh cũng như hợp tác thực hiện các chương trình
nghiên cứu với các tổ chức khác như Phân viện Tài chính phía Nam... Trường Đại học
Ngân hàng còn là đầu mối của các hội thảo khoa học về tiền tệ - ngân hàng, đồng thời
là nơi chuyển giao các công nghệ ngân hàng cho cán bộ, nhân viên các ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng khác hoạt động trên địa bàn từ Quảng Trị đến Cà

Footer Page 35 of 161.

30

Header Page 36 of 161.
Mau. Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh còn xuất bản nhiều sách
giáo khoa thuộc các chuyên ngành như tiền tệ - ngân hàng, nghiệp vụ ngân hàng
thương mại, thị trường chứng khoán, marketing ngân hàng, quản trị ngân hàng, tín
dụng ngân hàng v.v....
2.1.3. Yêu cầu về chất lượng đào tạo của Trường Đại học Ngân hàng Thành
phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Đào tạo nguồn nhân lực là một nhiệm vụ thường xuyên của bất cứ một ngành
kinh tế nào, nếu muốn phát triển và phát triển bền vững. Theo chương trình hành động
về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ban hành kèm theo Quyết định số 42/2003/QĐ-NHNN ngày 13/1/2003 đã vạch
rõ nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực như sau :
Xây dựng chiến lược đào tạo về phát triển nguồn nhân lực trung và dài hạn nhằm
củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng đủ năng lực hội nhập kinh
tế quốc tế, vững vàng về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ ngân hàng và các nghiệp vụ
khác, tận dụng tốt các công nghệ thông tin, thành thạo ngoại ngữ, có tác phong công
nghiệp và kỷ luật cao, góp phần nâng cao hiệu suất lao động trong ngành ngân hàng.
Chiến lược này đặc biệt chú trọng đến các cán bộ trực tiếp tham gia vào các cuộc đàm
phán, ký kết hợp đồng quốc tế hoặc gia nhập các tổ chức đa phương, cán bộ thanh tra
giám sát và cán bộ chuyên trách làm công tác pháp luật quốc tế.[ ]
Trước nhiệm vụ được giao, trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
có mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ khả năng giải quyết các vấn
đề lý luận và thực tiễn, tiến đến đạt được các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
Như chúng ta đã biết, nguồn nhân lực là một nhân tố mang tính quyết định đối
với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, đồng thời là nhân tố
thúc đẩy quá trình hội nhập của ngành nhanh chóng và có hiệu quả .
Có thể nói rằng, nhiệm vụ đào tạo của Trường Đại học Ngân hàng trong hiện tại
và tương lai là rất nặng nề, việc này đòi hỏi có sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hang
thương mại với nhà trường và sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo ngân hàng nhà
nước cũng như chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương.

Footer Page 36 of 161.

31

Header Page 37 of 161.
2.1.4. Chương trình đào tạo môn học tiếng Anh
 Mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã
được xác định rõ trong Quyết định thành lập Trường của Thủ tướng Chính phủ. Mục
tiêu của môn học tiếng Anh cũng là hướng tới mục tiêu đó nghĩa là góp phần đào tạo
đội ngũ cán bộ ngân hàng có đủ năng lực hội nhập kinh tế quốc tế, vững vàng về chính
trị, tinh thông về nghiệp vụ ngân hàng và các nghiệp vụ khác, tận dụng tốt các công
nghệ thông tin, thành thạo ngoại ngữ... .
❖ Nội dung chương trình đào tạo
Môn học tiếng Anh của Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay với thời lượng là 240 tiết học được sử dụng vào mục đích cung cấp kiến thức
cơ bản về tiếng Anh chuyên ngành tài chính -ngân hàng cho sinh viên, giúp họ có khả
năng tự học, tự bồi dưỡng trong lĩnh vực chuyên môn ở hiện tại cũng như trong tương
lai. Sau đây là nội dung của môn học;
TT
1

2

3

Nội dung
Bank on your English.
John & Jean McGovern.
Prentice-Hall International
English Language Teaching
Instrumental English for Banking
and Pinance .David M. Stillman,
Ph.D. &Ronni L.Gordon, Ph .D.
Harvard University Extension

Yêu cầu
Cung cấp kiến thức cơ bản về
tiếng Anh nghiệp vụ ngân
hàng ở trình độ sơ cấp cho
sinh viên
Cung cấp kiến thức cơ bản về
tiếng Anh tài chính -ngân
hàng trình độ sơ cấp nhưng
với mức độ cao hơn học phần
trước .
Cung cấp kiến thức tiếng Anh
Banking Transactions
Francis
Radice
. Macmillan về giao dịch ngân hàng ở
Publishers
trình độ trung cấp cho sinh
viên
Tổng cộng

Thời gian
75 tiết
Học phần 1

75 tiết
Học phần 2

90 tiết
Học phần 3

240 tiết

2.2. Thực trạng hoạt động quản lý dạy và học tiếng Anh tại Trường Đại học Ngân
hàng Thành phô Hồ Chí Minh
Để khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Anh tại Trường Đại học Ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra giải pháp quản lý hữu hiệu, góp phần nâng cao

Footer Page 37 of 161.

32

Header Page 38 of 161.
chất lượng đào tạo của trường, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra đầu vào môn tiếng Anh
của 256 sinh viên mới vào trường; kiểm tra đầu ra của 223 sinh viên đã học xong học
phần cuối của môn tiếng Anh. Chúng tôi cũng đã lấy ý kiến thăm dò từ 400 sinh viên
thuộc các ngành đào tạo khác nhau của trường và lấy ý kiến của các giảng viên của bộ
môn Tiếng Anh (6 giảng viên). Dưới đây, chúng tôi xin trình bày kết quả nghiên cứu
của các phần: kết quả chung của thang đo và kết quả nghiên cứu trên sinh viên và
giảng viên nhằm làm rõ những vấn đề chính sau:
o Vai trò của tiếng Anh đối với nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên.
o Đặc điểm tâm lý của sinh viên trong việc học tiếng Anh .
o Điều kiện dạy và học tiếng Anh (phương tiện, trang thiết bị phục vụ giảng dạy).
o Hoạt động dạy và học tiếng Anh.
❖ Kết quả chung của thang đo :
Thống kê theo giới tính của sinh viên:
- Sinh viên nam: 78 (19,5 %)
- Sinh viên nữ: 322 (80,5 %)
Thống kê theo địa phương cư trú của sinh viên trước khi vào trường :
- Sinh viên ở thành phố: 89 (22,25 %)
- Sinh viên ở các tỉnh: 331 (82,75 %)
❖ Kết quả nghiên cứu trên sinh viên và giảng viên
2.2.1. Đánh giá chung về vai trò của tiếng Anh đối với nghề nghiệp trong tương
lai của sinh viên
Bảng 2.1: Đánh giá chung của sinh viên
Nội
dung
1
2
3
4

Vai trò của tiếng Anh trong nghề nghiệp tương lai
của sinh viên
Cực kỳ quan trọng
Rất hữu ích
Giúp kiếm được việc làm ngay sau khi ra trường
Giúp kiếm được việc làm có lương cao

Footer Page 38 of 161.

Tần số
đồng ý
152
186
120
106

Tỷ lệ
(%)
38,00
46,50
30,00
26,50

Thứ
bậc
4
3
6
7

33

Header Page 39 of 161.
Là công cụ không thể thiếu được trong công việc
Giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tạo cơ hội thăng tiến

5
6
7

187
191
140

46.75
47,75
35,00

2
1
5

Số liệu của bảng 2.1 cho ta thấy tiếng Anh "giúp nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ" trong tương lai là lựa chọn nhiều nhất của sinh viên (47,75%) ; tiếng Anh
là "công cụ không thể thiếu được trong công việc" là lựa chọn số 2 của họ (46,75%),
tiếp theo, tiếng Anh "rất hữu ích cho nghề nghiệp" là lựa chọn đứng vị trí thứ 3
(46,50%); tiếng Anh "cực kỳ quan trọng" ở vị trí số 4 (38% ); tiếng Anh "tạo cơ hội
thăng tiến" là lựa chọn thứ 5 của sinh viên (35%); tiếng Anh có thể "giúp kiếm được
việc làm ngay sau khi ra truờng" được lựa chọn tiếp theo (30%); tiếng Anh sẽ "giúp
kiếm được việc làm có lương cao" là lựa chọn ít nhất của sinh viên (26,50%) - xếp vị
trí cuối cùng. Như vậy, phần lớn sinh viên đã lựa chọn vai trò của tiếng Anh đối với
những mục tiêu lâu dài nhiều hơn những mục tiêu trước mắt trong nghề nghiệp tương
lai của mình.
Bảng 2.2: Đánh giá chung của giảng viên
Nội
dung
1
2
3
4
5
6
7

Vai trò của tiếng Anh trong nghề nghiệp tương lai
của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng
Cực kỳ quan trọng
Rất hữu ích
Giúp kiếm được việc làm ngay sau khi ra trường
Giúp kiếm được việc làm có lương cao
Là công cụ không thể thiếu được trong công việc
Giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tạo cơ hội thăng tiến

Tần số
đồng ý
0
5
1
4
1
5
0

Tỷ lệ
(%)
00,00
83,33
16,67
66,67
16,67
83,33
00,00

Thứ
bậc
6
1
4
3
4
1
6

Số liệu khảo sát của bảng 2.2 cho ta thấy: đa số giảng viên cho rằng tiếng Anh
"rất hữu ích" và "giúp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ " trong tương lai của
sinh viên (83,33%)- xếp vị trí số 1; tiếp theo là đánh giá tiếng Anh "giúp sinh viên
kiếm được việc làm có lương cao" (66,67%) ; một số giảng viên cho rằng tiếng Anh
giúp sinh viên "kiếm được việc làm ngay sau khi ra trường" và là "công cụ không thể
thiếu được trong công việc" của người cán bộ ngân hàng (16,67%)- xếp vị trí số 4.
Không có giảng viên nào cho rằng tiếng Anh là "cực kỳ" quan trọng, cũng như "tạo cơ
hội thăng tiến" cho sinh viên trong nghề nghiệp tương lai.

Footer Page 39 of 161.

34

Header Page 40 of 161.
Đánh giá của sinh viên và giảng viên về vai trò của tiếng Anh đối với nghề
nghiệp của họ trong tương lai cho chúng ta thấy rõ tiếng Anh rất quan trọng và là công
cụ không thể thiếu được đối với người công chức nói chung và người công chức của
ngành ngân hàng nói riêng.
2.2.2. Thực trạng việc quản lý tổ chức giảng dạy tiếng Anh tại Trường Đại học
Ngân hang
Bảng 2.3 : Đánh giá về thời lượng của môn học Tiếng Anh hiện nay

Số lượng
Tỷ lệ (%)

Ý kiến của sinh viên
Quá nhiều
Đủ
Quá ít
13
152
235
3,25
38,00
58,75

Ý kiến của giảng viên
Quá nhiều
Đủ
Quá ít
0
0
6
00,00
00,00
00,00

Số liệu của bảng 2.3 cho ta thấy, có tới 58,75% sinh viên cho rằng thời lượng học
giành cho môn tiếng Anh là quá ít ; chỉ có 38,00% sinh viên cho rằng thời lượng giành
cho môn học này là vừa đủ. Trong khi đó 100,00% giảng viên cho rằng thời lượng
giành cho môn học tiếng Anh ở trường hiện nay là quá ít.
Thấy rõ vai trò của môn ngoại ngữ và đặc thù của nó, một số trường đại học đã
cố gắng sắp xếp để dành cho môn học này một thời lượng đặc biệt hơn những môn học
khác. Ví dụ: số tiết tiếng Anh của Học viện Ngân hàng là 270 tiết, Trường Đại học
Kiến trúc Hà Nội là 330 tiết và Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội là 1200 tiết.
Rõ ràng là thời lượng mà Trường Đại học Ngân hàng giành cho môn học tiếng
Anh là quá ít để sinh viên có thể đạt được yêu cầu của môn học.
Các nhà quản lý của Trường Đại học Ngân hàng cần giành cho môn tiếng Anh
một thời lượng hợp lý để việc dạy và học tiếng Anh ở Trường đạt hiệu quả hơn nữa,
giúp sinh viên dùng được nó làm phương tiện nắm bắt thông tin khoa học để phục vụ
cho học tập và nghiên cứu khoa học.
Bảng 2.4: Nhận xét về việc phân bổ số tiết học tiếng Anh trong các hoc kỳ, của
khóa học

Nội dung

Anh (chị) có tán thành ý kiến nên Quý thầy, cô có tán thành ý kiến
phân phối đều số tiết học tiếng nên phân phối đều số tiết học
Anh cho các học kì của khoá học tiếng Anh cho các học kì của

Footer Page 40 of 161.

35

Header Page 41 of 161.

Số lượng
Tỷ lệ (%)

không ?
Ý kiến của sinh viên
Rất tán
Tán
Không tán
thành
thành
thành
114
241
45
28,50
60,25
11,25
88,75
11,25

khoa học không?
Ý kiến của giảng viên
Rất tán
Tán
Không
thành
thành
tán thành
3
3
0
50,00
50,00
0,00
100
0,00

Về việc phân bổ số tiết học tiếng Anh trong các học kỳ của khoa học, 88,75%
sinh viên tán thành và rất tán thành ý kiến nên phân phối đều số tiết học tiếng Anh
trong các học kỳ của khóa học; 100% giảng viên cũng có cùng ý kiến như sinh viên.
Việc này giúp cho sinh viên có thể tiếp xúc với tiếng Anh một cách thường xuyên
trong suốt khóa học. Như vậy, việc phân bổ số tiết tiếng Anh hợp lý sẽ nâng cao được
hiệu quả của việc dạy và học. Nếu học hết toàn bộ số tiết tiếng Anh trong học kỳ 2, 3,
4 một cách liên tục như hiện nay rồi bỏ trống môn tiếng Anh trong các học kỳ còn lại
của khóa học, sẽ làm giảm hiệu quả học tập và giảng dạy. Vì vậy, nhà trường nên tạo
mọi điều kiện để sinh viên được học tiếng Anh trong suốt khóa học.
Bảng 2.5: Ảnh hưởng của số lượng sinh viên trong một lớp học tiếng Anh tại
trường Đại Học Ngân Hàng
Nội dung
Số lượng sinh viên trong
một lớp học tiếng Anh hiện
nay có cản trở đến việc dạy
và học không?

Ý kiến của sinh viên Ý kiến của giảng viên
Số lượng Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ (%)

Không

104

26,00

0

0



264

66,00

4

66,67

Rất cản
trở

32

8,00

2

33,33

4

1,00

0

0

87

21,70

0

0

309

77,25

6

100,00

113

28,25

2

33,33

107

26,70

0

0

Với số lượng sinh viên Rất có thể
trong một lớp học như hiện
Có thể
nay, giảng viên tiếng Anh
có thể luyện tập các kỹ
Hoàn
năng ngôn ngữ, đặc biệt là
toàn
kỹ năng nghe nói cho từng
không thể
sinh viên được không ?
Theo anh (chị), số lượng Quá đông
sinh viên trong 1 lớp học
Vừa đủ

Footer Page 41 of 161.

Số lượng

36

Header Page 42 of 161.
tiếng Anh ở trường ta hiện Nên 20nay là
30 sinh
viên

185

45,00

4

66,67

Theo số liệu của bảng trên, 74,00% sinh viên cho rằng, số lượng sinh viên mà
nhà trường xếp cho một lớp học tiếng Anh như hiện nay là cản trở và rất cản trở đến
hoạt động dạy và học; 77,25% sinh viên cho rằng với số lượng sinh viên đông như thế
trong một lớp học thì giảng viên không thể luyện tập được các kĩ năng tiếng đặc biệt là
kĩ năng nghe và nói cho từng sinh viên; 28,25% sinh viên cho rằng số lượng sinh viên
trong một lớp học tiếng Anh là quá đông. Hiện nay phần lớn các lớp của trường có sĩ
số 70, 80, 90 sinh viên và không ít lớp học tiếng Anh có sĩ số 100 hoặc hơn 100 sinh
viên, cá biệt có những lớp lên đến 140 sinh viên; 45% sinh viên cho rằng sĩ số của một
lớp học tiếng Anh chỉ nên khoảng 20-30 sinh viên là phù hợp với điều kiện ở Việt
Nam.
Khi phát biểu về số lượng sinh viên mà nhà trường xếp cho một lớp học tiếng
Anh, 100% giảng viên của bộ môn tiếng Anh đã nhận xét rằng số lượng sinh viên mà
nhà trường xếp cho một lớp học tiếng Anh hiện nay là cản trở và rất cản trở đến việc
dạy và học. Với một số lượng sinh viên nhiều như vậy trong một lớp học, giảng viên
hoàn toàn không thể luyện tập các kỹ năng tiếng đặc biệt là kỹ năng nghe - nói cho
từng sinh viên; 100% giảng viên của bộ môn tiếng Anh cho rằng số lượng sinh viên
trong một lớp học tiếng Anh hiện nay là quá đông. Ở một số quốc gia, số lượng sinh
viên trong một lớp học ngoại ngữ bình thường chỉ là dưới 10 người học.
Số lượng sinh viên quá đông trong một lớp học, bên cạnh những ưu điểm như tiết
kiệm thời gian, chi phí... đã bộc lộ những nhược điểm của nó: chất lượng học tập
không đảm bảo, kết quả kiểm tra, đánh giá không phản ánh chính xác trình độ của sinh
viên.
Khi lớp học tiếng Anh có sĩ số phù hợp, giảng viên có thể kiểm tra, đánh giá sinh
viên bằng phương pháp kiểm tra, đánh giá liên tục. Phương pháp kiểm tra, đánh giá
nhiều lần nếu được áp dụng sẽ khắc phục được phần lớn các nhược điểm của phương
pháp kiểm tra, đánh giá một lần tập trung cuối kỳ. Để nâng cao hiệu quả của kiểm tra,
đánh giá kết quả dạy và học môn tiếng Anh ở trường Đại học Ngân hàng, nhà trường

Footer Page 42 of 161.

37

Header Page 43 of 161.
nên bố trí số lượng sinh viên phù hợp với môn học tiếng Anh để giảng viên có thể áp
dụng được phương pháp kiểm tra đánh giá nhiều lần.
Bảng 2.6: Nhận xét về tính đồng đều của trình độ tiếng Anh trong sinh viên
Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Ý kiến của sinh viên
Rất đồng Khá đồng
đều
đều

Ý kiến của giảng viên

Hoàn toàn
không đồng
đều

Rất đồng
đều

Khá đồng
đều

Hoàn toàn
không đồng
đều

Số lượng

1

190

209

0

2

4

Tỷ lệ (%)

0,25

47,50

52,25

0,00

33,33

66,67

Theo kết quả khảo sát ở bảng trên, có đến 52,25% sinh viên cho rằng trình độ
tiếng Anh của sinh viên trong một lớp học tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố
Hồ Chí Minh là hoàn toàn không đồng đều ; 47,50 % sinh viên cho là khá đồng đều ;
0,25 % sinh viên tức là hầu như không có sinh viên nào cho là rất đồng đều. Đánh giá
của giảng viên cũng cho thấy rõ điều này - Gần 66,67 % giảng viên cho biết trình độ
tiếng Anh của sinh viên trong một lớp học là hoàn toàn không đồng đều, chỉ có hơn
33,33% giảng viên cho là khá đồng đều
Bảng 2.7 : Nhận xét về tính hợp lý của chương trình và kế hoạch đào tạo của
trường Đại học Ngân hàng
Nội dung

Ý kiến của sinh viên Ý kiến của giảng viên

Việc học tiếng Anh chuyên
ngành trước các môn
chuyên ngành quá lâu như Quá khó
hiện nay có gây ra khó
khăn
khăn trong việc học tập và
giảng dạy không ?
Khó khăn
Không khó

Số lượng Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

92

23,00

2

33,33

272

68,00

4

66,67

36

9,00

0

0

173

43,25

2

33,33

khăn
Tiếng Anh chuyên ngành Cần thiết

Footer Page 43 of 161.

38

Header Page 44 of 161.
có cần được học song song
hoác sau các môn chuyên
ngành không ?

Rất cần

211

52,75

4

66,67

16

4,00

0

0

thiết
Không cần
thiết

Số liệu của bảng 2.7 cho ta thấy có đến 91% sinh viên và giảng viên của bộ môn
tiếng Anh cho rằng việc học tiếng Anh chuyên ngành trước các môn chuyên ngành quá
lâu như hiện nay là khó khăn và quá khó khăn trong học tập và giảng dạy; 96% sinh
viên và 100% giảng viên cho rằng việc học tiếng Anh chuyên ngành song song hoặc
sau các môn chuyên ngành là cần thiết và rất cần thiết.
Các môn học trong một chương trình đào tạo luôn được thiết kế với tính logic và
liên thông nhằm đạt mục đích hỗ trợ, tác động tích cực lẫn nhau. Thêm vào đó, sự
bùng nổ thông tin hiện nay dẫn đến việc tài liệu tiếng Anh chuyên ngành phong phú,
đa dạng. Nếu sinh viên được học các môn chuyên ngành song song với môn tiếng Anh
chuyên ngành sẽ giúp họ có cơ hội nghiên cứu sâu hơn lĩnh vực học của mình, từ đó
đạt kết quả học tập tốt hơn .
2.2.3. Thực trạng việc quản lý phương tiện, trang thiết bị phục vụ việc học tập
và giảng dạy môn tiếng Anh tại Trường Đại học Ngân hàng
Bảng 2.8: Đánh giá về phương tiện, trang thiết bị phục vụ việc học tập và giảng
dạy môn tiếng Anh
Ý kiến của sinh viên
Đủ

Số lượng

22

Tỷ lệ (%)

5,50

Ý kiến của giảng viên

Chưa Đủ

Quá thiếu
thốn

Đủ

Chưa đủ

Quá thiếu thốn

199

179

0

6

0

49,75

44,75

0,00

100,00

0,00

Số liệu của bảng 2.7 cho ta thấy có 49,75% sinh viên cho rằng phương tiện và
trang thiết bị phục vụ cho việc học tập và giảng dạy tiếng Anh tại trường Đại học
Ngân hàng là chưa đủ và 44,75% sinh viên cho rằng là quá thiếu thốn và 100% giảng

Footer Page 44 of 161.