Tải bản đầy đủ
Tiến trình nghiên cứu

Tiến trình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ

6

Header Page 12 of 161.
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
ở bậc đại học, trong đó có việc quản lý dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ
chuyên ngành, nhiều nhà khoa học, cán bộ giảng dạy đã quan tâm, nghiên cứu đề tài
đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học như:
- Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục của Nguyễn Đức Quyết
"Thực trạng và một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực, hiệu qua sử dụng
ngoại ngữ của cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh"
năm 2002. [12]
Tác giả đã khảo sát để đánh giá đúng trình độ ngoại ngữ, thực tế và hiệu quả sử
dụng ngoại ngữ trong công tác chuyên môn-nghiệp vụ và nghiên cứu khoa học của đội
ngũ cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả cũng
đã phân tích rõ các nguyên nhân của thực trạng đó để đưa ra giải pháp quản lý nhằm
nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong
nhà trường.
- Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục của Trần Thị Bình "Thực
trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các
khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh" năm
2002.
Tác giả đã tìm hiểu thực trạng việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không
chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó xác
định nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác
quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa đã nêu ở trên của trường [18].
- Trong các cuộc hội thảo khoa học chuyên ngành, tạp chí Nghiên cứu Giáo dục...
nhiều bài tham luận, nhiều ý kiến khoa học cũng đã được đề xuất như :

Footer Page 12 of 161.

7

Header Page 13 of 161.
- Bài: "Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ hệ không chính quy của Trường
Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội" của PGS.TS. Trần Hữu Luyến Trường Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, [ 17 ] .
- Bài: "Nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ hệ không chính quy nhìn từ góc
độ động lực" của Trần Xuân Điệp - cán bộ giảng dạy Khoa Anh - Đại học Ngoại Ngữ,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Bài : "Một vài biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ
không chính quy" của giảng viên Kim Văn Tất - Khoa Ngôn ngữ và Văn học Anh Mỹ
- Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Bài : "Phát huy tính tích cực học tập - là một biện pháp nâng cao chất lượng đào
tạo ngoại ngữ không chính qui" của TS. Đỗ Thị Châu - Đại học Ngoại ngữ, Đại học
Quốc gia - Hà Nội...
Những bài viết trên đã được in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học : "Nâng cao chất
lượng đào tạo ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế xã hội" được
tổ chức tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001. Trong các
bài tham luận này, các tác giả từ những góc độ khác nhau đã đề cập đến những vấn đề
khác nhau của công tác quản lý chất lượng đào tạo, đến cách dạy và học ngoại ngữ và
đều thống nhất một ý kiến rằng - cần phải đổi mới cách dạy và học để nâng cao chất
lượng giáo dục ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên.
Trên tạp chí nghiên cứu giáo dục, ngày càng xuất hiện nhiều bài viết về các vấn
đề của giáo dục ngoại ngữ. Bài : "Giáo dục ngoại ngữ trong quá trình toàn cầu hóa và
hội nhập" của Bùi Hiền đăng tải trên tạp chí giáo dục số 44/2002; bài "Hệ đào tạo
ngoại ngữ chuyên ngành II một loại hình đào tạo mới" của TS. Nguyễn Ngọc Ly Liên;
bài "Về việc dạy tiếng Anh hệ tại chức của Th.S. Phạm Khải Hoàn ... đăng trên tạp chí
Nghiên Cứu Giáo Dục số 10/92 ... .
Ngay tại Hội nghị Giáo dục Đại học được tổ chức vào tháng 3 năm 2004 tại Hà
Nội, trong bài phát biểu "Những kiến nghị về giải pháp cấp bách để đổi mới giáo dục
Việt Nam và Hội nhập quốc tế. "GS.TS. Mai Quốc Liên cũng thấy rằng: "Cần cấp

Footer Page 13 of 161.

8

Header Page 14 of 161.
bách có một chiến lược ngoại ngữ để phủ khắp tiếng Anh trong các trường học toàn
quốc." [ 9 ; 6]
Các đề tài và nghiên cứu được nêu ở trên đã đề cập đến nhiều vấn đề của việc
quản lý việc dạy và học ngoại ngữ trong đó có dạy học tiếng Anh. Tuy nhiên, chưa
thấy tác giả nào nghiên cứu sâu vấn đề một cách có hệ thống về quản lý dạy và học
tiếng Anh trong một trường đại học cụ thể thuộc khối các ngành kinh tế.
Vì thế, tôi hy vọng rằng nghiên cứu đề tài này sẽ trực tiếp góp phần vào việc cải
tiến, đổi mới phương pháp quản lý việc dạy và học tiếng Anh tại Đại học Ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường.
1.2. Những khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Quản lý Giáo dục
Có thể hiểu quản lý giáo dục vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Quản lý giáo
dục một cách khoa học đòi hỏi người quản lý phải có những hiểu biết về đối tượng
quản lý (giảng viên, cán bộ công nhân viên, sinh viên, các lực lượng xã hội tham gia
vào giáo dục) và phải biết cách vận dụng linh hoạt các qui luật, các phương pháp thích
hợp trong từng trường hợp cụ thể. Đối tượng trong quản lý giáo dục là những con
người cụ thể và các mối quan hệ được hình thành một cách tự nhiên giữa các con
người cụ thể, giữa các nhóm người, tạo nên một mạng lưới phức tạp và đa dạng mà
chủ thể quản lý phải xử lý khi thực hiện các chức năng của mình. Nhiệm vụ của quản
lý là biết biến các mối quan hệ nói trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột
và tạo nên môi trường thuận lợi để thực hiện mục tiêu. Ở khía cạnh này, quản lý là một
nghệ thuật. Đó là bí quyết làm việc với con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của
tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động
của tổ chức. Quản lý giáo dục có các chức năng chính như: lập kế hoạch, tổ chức, quản
lý nhân sự, lãnh đạo, kiểm tra và ra quyết định. Thông tin đóng vai trò quan trọng
trong từng giai đoạn nói trên để thực hiện các chức năng quản lý, đảm bảo cho việc
thực thi các quyết định giáo dục và có liên quan đến giáo dục thành công trong thực
tiễn.

Footer Page 14 of 161.

9

Header Page 15 of 161.
1.2.2. Quản lý chất lượng giáo dục đại học
Quản lý chất lượng giáo dục đại học là hoạt động nhằm mục đích đảm bảo chất
lượng đào tạo của những trường đại học. Hệ thống quản lý chất lượng đại học thường
phải triển khai các hoạt động sau:
 Xây dựng tiêu chí, quy trình, các tài liệu hướng dẫn và công cụ để đánh giá
chất lượng đại học.
 Theo dõi đảm bảo chất lượng và các hoạt động tự đánh giá bên trong với sản
phẩm là một báo cáo tự đánh giá.
 Tổ chức các đợt đánh giá từ bên ngoài về chất lượng khái quát của từng trường
đại học hoặc từng ngành đào tạo, công bố báo cáo đánh giá.
 Phổ biến các điển hình tốt về đảm bảo chất lượng đại học, về phương pháp
giảng dạy, phương pháp thi cử. [2;324]
1.2.3. Quá trình dạy học đại học
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động thống nhất của thày (tác nhân) và trò
(chủ thể), trong đó thày giữ vai trò tổ chức, chỉ đạo, đánh giá hoạt động học của trò,
tạo điều kiện cho trò tích cực, độc lập hoạt động nhằm nắm vững được đối tượng của
việc dạy học (tri thức, kĩ năng, thái độ ...)
Quá trình dạy học cũng có khi được gọi là quá trình sư phạm theo nghĩa hẹp. Quá
trình sư phạm theo nghĩa rộng bao gồm quá trình dạy học và quá trình giáo dục.
Quy luật cơ bản của quá trình dạy học: hoạt động dạy và hoạt động học phải
thống nhất và biện chứng với nhau. Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của
quá trình dạy học. [2.,326]
1.3. Yêu cầu đổi mới về chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng
1.3.1. Yêu cầu đổi mới về chất lượng giáo dục - đào tạo
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được trước mục tiêu đào tạo
đã đề ra cho một chương trình đào tạo.

Footer Page 15 of 161.

10

Header Page 16 of 161.
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc
trưng về phẩm chất, năng lực hành nghề, giá tri nhân cách của người tốt nghiệp một
chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị
trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả
của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ
sở vật chất, đội ngũ giảng viên ... mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và sự thích
ứng của người đã được đào tạo với thị trường lao động. Điều này được phản ánh ở tỷ
lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các cơ sở, doanh
nghiệp, cơ quan hay các tổ chức sản xuất, dịch vụ cùng với khả năng phát triển nghề
nghiệp của họ tại các cơ sở này.
Từ quan niệm trên về chất lượng đào tạo, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng
đào tạo đại học đối với từng ngành đào tạo bao gồm các tiêu chí sau:
- Các phẩm chất về xã hội, nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín ...)
- Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý
- Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn
- Năng lực hành nghề
- Khả năng thích ứng với thị trường lao động
- Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp
1.3.2. Yêu cầu đổi mới về chất lượng đào tạo đại học
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảng xác định: "Đổi mới
phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự đào tạo của người học,
coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học
vẹt, học chay. Đổi mới và tổ chức thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử. Đề cao tính tự
chủ của các trường đại học." [ 31 ; 203 -204 ]
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã
xác định kế hoạch triển khai công tác đổi mới chất lượng giáo dục trong đó khẳng
định: "Các trường đại học, cao đẳng đẩy nhanh quá trình đổi mới và hiện đại hóa nội
dung chương trình và phương pháp đào tạo; tăng cường dạy ngoại ngữ và công nghệ

Footer Page 16 of 161.

11

Header Page 17 of 161.
thông tin; liên kết với các trường đại học, cao dẳng có uy tín trong khu vực và trên thế
giới để nâng cao chất lượng đào tạo, hội nhập với nền giáo dục các nước ... Các trường
phải đảm bảo đủ giáo trình và tài liệu học tập cho sinh viên, chú ý sử dụng thông tin,
tư liệu khoa học qua Internet[ 5 ].
Trước những yêu cầu đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong điều
kiện toàn cầu hóa, mở rộng giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế, công tác giáo dục-đào
tạo không thể coi nhẹ việc giáo dục ngoại ngữ nói chung và giáo dục tiếng Anh nói
riêng trong các trường đại học. Ngoại ngữ là một phương tiện đặc biệt quan trọng và
không thể thiếu trong việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
1.4. Vai trò của ngân hàng và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong thời kỳ đổi
mới đất nước
1.4.1. Vai trò của ngân hàng trong thời kỳ đổi mới đất nước
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại nói chung và trong nền kinh tế
nước ta nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt.
Ngành ngân hàng mà đứng đầu là Ngân hàng Trung ương chịu trách nhiệm thực
hiện chính sách tiền tệ, cung ứng tiền cho nền kinh tế, điều hành chính sách lãi suất,
điều hành chính sách tỷ giá, nhằm đảm bảo cho nền kinh tế có một sự phát triển bền
vững, lâu dài.
Có thể nói Ngân hàng Trung ương là một cơ quan quản lý vĩ mô có chức năng
điều tiết mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương chỉ là cơ quan quản lý nhà nước, Ngân hàng
Trung ương không trực tiếp quan hệ với các chủ thể trong nền kinh tế, mà chính các
ngân hàng thương mại mới là các tổ chức có chức năng huy động các nguồn vốn, quan
hệ với Ngân hàng Trung ương để tái cấp vốn, qua đó sử dụng nguồn vốn huy động để
cung ứng cho nền kinh tế, tổ chức thanh toán hộ cho khách hàng và cung cấp các dịch
vụ tài chính - ngân hàng khác cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu.

Footer Page 17 of 161.

12

Header Page 18 of 161.
Với các hoạt động nói trên của hệ thống ngân hàng, chúng ta có thể thấy vai trò
của hệ thống ngân hàng như là hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế, nó có chức năng
"sản xuất" và điều tiết cho nền kinh tế và cụ thể hơn cho các chủ thể của nền kinh tế
một "lượng máu" cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững và hài hoa của "cơ
thể" nền kinh tế.[ ]
Hoạt động ngân hàng là một phát kiến vĩ đại của nhân loại nó làm cho mọi quan
hệ khác trong xã hội từ quan hệ kinh tế, đến quan hệ xã hội đều trở nên dễ dàng hơn.
Chính nhờ vào tiền tệ và hệ thống ngân hàng mà sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất
có thể vươn ra thị trường thế giới, phục vụ cho mọi dân tộc, không phân biệt màu da,
ngôn ngữ, nền văn minh khác nhau.
Trong tương lai, quan hệ tài chính ngân hàng sẽ gắn bó các dân tộc, nền kinh tế
với nhau thành một chỉnh thể kinh tế, mà ở đó mọi người sẽ sống với nhau một cách
hòa bình trong một nền kinh tế thịnh vượng, với một chất lượng văn minh cao.
1.4.2. Vai trò của ngoại ngữ trong thời kỳ đổi mới đất nước
Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 422/TTg ngày 15/08/1994 để
chỉ thị cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ (chủ yếu là
tiếng Anh) cho đội ngũ cán bộ quản lý và công chức thuộc phạm vi quản lý của mình,
phấn đấu đến hết năm 1997 có thể sử dụng ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) và cán bộ
quản lý, công chức Nhà nước được sử dụng một phần thời gian hợp lý trong giờ hành
chính để học ngoại ngữ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã chỉ đạo các trường đại học phải xây dựng đề án
đưa việc giảng dạy ngoại ngữ vào chương trình bắt buộc. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
và Bộ tài chính chịu trách nhiệm cân đối và cấp phát kinh phí cho sự nghiệp này. Ban
Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chịu trách nhiệm theo dõi việc triển khai thực hiện kế
hoạch, phân bố chỉ tiêu, chiêu sinh đối tượng là cán bộ trung, cao cấp đi học ngoại ngữ.
Chỉ thị đã nêu rõ cán bộ từ cấp thứ trưởng trở xuống, dưới 45 tuổi phải sử dụng được ít
nhất một ngoại ngữ thông dụng là yêu cầu bắt buộc. Điều này được coi là một tiêu
chuẩn và điều kiện để xem xét đề bạt, nâng ngạch, cử đi công tác nước ngoài.

Footer Page 18 of 161.

13

Header Page 19 of 161.
Liên quan đến công tác đào tạo ngoại ngữ, ngày 20/11/1996, Thủ tướng Chính
phủ ra tiếp quyết định số 874/TTg, Điều 2 của văn bản này ghi rõ: "Đào tạo, bồi dưỡng
ngoại ngữ cho cán bộ, công chức Nhà nước để tăng cường khả năng giao tiếp, nghiên
cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn."
Để phối hợp trách nhiệm giữa các ngành, ngày 19/09/1997 liên tịch Ban Tổ chức
Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Giáo dục đã ra thông tư liên
tịch số 79/TTLT và thông tư liên tịch số 171/TTLB ngày 04/11/1994 của Ban Tổ chức
- Cán bộ Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo để hướng dẫn thực hiện chỉ thị nói trên.
Chưa bao giờ việc học ngoại ngữ lại có nhiều văn bản pháp lệnh như thế. Điều đó
chứng tỏ ngoại ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân
lực và là thực tế khách quan cần thiết. Ngoài khoa học chuyên ngành, ngoại ngữ và tin
học là một nội dung đào tạo bắt buộc. Đó là phương tiện không thể thiếu được đối với
cán bộ quản lý và công chức, đặc biệt trong bối cảnh khoa học kỹ thuật đang phát triển
với tốc độ như vũ bão hiện nay. Ngoại ngữ không những giúp chúng ta tiếp cận những
thành tựu khoa học, những thông tin mới nhất, mà còn là cầu nối, là phương tiện giao
lưu giữa các quốc gia, các dân tộc.
Đối với sinh viên, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là công cụ hữu
hiệu để sinh viên tự đào tạo mình ngay khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường và sau
khi ra trường.
1.5. Quản lý giảng dạy và học tập tiếng Anh trong trường đại học
Trong công tác quản lý dạy và học tiếng Anh tại các trường đại học, trước hết
cần làm rõ những vấn đề sau:
1.5.1. Quản lý mục tiêu môn học
Quản lý mục tiêu giáo dục của môn học tiếng Anh tại trường đại học phải dựa
vào chất lượng đầu ra nghĩa là đánh giá được kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh
đã tốt nghiệp. Đánh giá không chỉ nhằm xác định mức độ chất lượng mà còn nhằm xác
định sự tiến bộ về các mặt từ khi sinh viên vào trường tới khi sinh viên ra trường.
Đánh giá theo tiêu chí này là đánh giá hiệu quả đào tạo của một trường đại học.

Footer Page 19 of 161.

14

Header Page 20 of 161.
Mục tiêu đào tạo của môn học tiếng Anh cho sinh viên các khoa không chuyên
ngữ tại các trường đại học là:
Nâng cao kiến thức tiếng Anh tổng quát và cung cấp kiến thức tiếng Anh chuyên
ngành cho sinh viên, giúp họ có thể tham khảo tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh
trong học tập, nghiên cứu khoa học, có năng lực giao tiếp cơ bản trong lĩnh vực xã hội
và chuyên môn ngay từ khi còn học tập tại trường và trong nghề nghiệp của họ ở
tương lai.
1.5.2. Quản lý trình độ đầu vào của sinh viên
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy định tạm thời về mục tiêu và kế hoạch dạy
học của trường phổ thông trung học. Quy định này có hiệu lực từ ngày 22/03/2002.
Một trong những mục tiêu xác định là học sinh sau khi tốt nghiệp 22/03/2002. Một
trong những mục tiêu xác định là học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học phải
có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường. Trình độ tiếng Anh
ban đầu của sinh viên khi vào trường đại học phải ở mức cơ bản, có sự hiểu biết khái
quát về đất nước, con người và văn hoa của một số nước sử dụng tiếng Anh.
Nếu xét theo yêu cầu của Bộ, khi vào trường đại học, sinh viên đã có khả năng sử
dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ đơn giản, cơ bản, phổ thông ở cả
4 lĩnh vực : nghe - nói - đọc - viết. Cụ thể là:
 Khả năng nghe:
Nghe hiểu các cuộc hội thoại trực tiếp bằng tiếng Anh ở mức độ đơn giản, phổ
thông có liên quan đến các chủ đề, ngôn ngữ đã được học trong chương trình. Đồng
thời, nghe hiểu các ý chính trên phương tiện thông tin đại chúng những thông tin liên
quan đến chủ đề và nội dung ngôn ngữ đã học.
 Khả năng nói:
- Trao đổi trực tiếp bằng ngôn ngữ nói ỏ mức độ đơn giản các tình huống giao
tiếp hàng ngày thông qua việc vận dụng các kiến thức ngôn ngữ cơ bản về ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp.

Footer Page 20 of 161.

15

Header Page 21 of 161.
- Diễn đạt được ý mình trong những tình huống giao tiếp thông thường có liên
quan đến những chủ đề quen thuộc thông qua việc vận dụng các chức năng ngôn ngữ
đã học.
❖ Khả năng đọc :
- Có kỹ năng đọc hiểu cơ bản các đoạn văn trong phạm vi 3.000 từ liên quan đến
các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ được qui định trong chương trình.
- Đọc hiểu nội dung chính các văn bản xác thực có nội dung phù hợp với sở thích
cá nhân, với những vấn đề văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật phổ thông trên cơ sở ngữ
liệu và chủ đề đã học có kết hợp với suy đoán và tra cứu.
 Khả năng viết:
- Viết để phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân và xã giao như viết thư cho bạn
bè, viết các thiệp mừng, thiệp mời sinh nhật... mô tả hoặc tường thuật các hoạt động
của cá nhân, của lớp học hoặc điền vào các phiếu, mẫu đơn các bảng điều tra...
- Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 100 đến 150 từ) có liên quan đến các chủ đề
đã học trong phạm vi nội dung ngôn ngữ được qui định trong chương trình. [ 8]
1.5.3. Quản lý nội dung chương trình môn ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh
nói riêng
1.5.3.1. Quản lý nội dung chương trình môn ngoại ngữ
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lý luận dạy - học, môn ngoại
ngữ trong chương trình giáo dục nói chung quy định những nội dung thiết yếu nhất
trên các mặt: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng trí thức văn hóa và rèn luyện kỹ
năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Các mặt nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp
thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt
động dạy -học tạo nên khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ cho người học. Mối tương
quan các mặt nội dung như vậy chính là đặc trưng cơ bản của môn ngoại ngữ, mà
người dạy và người học cần tâm niệm trong suốt cả quá trình chiếm lĩnh đối tượng
môn học.
- Nội dung kỹ năng giao tiếp

Footer Page 21 of 161.

16

Header Page 22 of 161.
Các kỹ năng thực hành là một bộ phận hợp thành không thể thiếu được của nội
dung, song môn ngoại ngữ lấy hệ thống các kỹ năng thực hành giao tiếp làm trọng tâm
của nội dung dạy -học, bởi vì hệ thống các bài tập thực hành giao tiếp không dừng lại
ở chỗ minh họa các khái niệm khoa học, khắc sâu các ấn tượng thực tế, củng cố các
hiểu biết lý thuyết, mà ở đây thực hành giao tiếp thực sự trở thành nội dung hoạt động
chủ yếu, là mục tiêu chiếm lĩnh hàng đầu của cả thầy trò trong việc dạy - học ngoại
ngữ. Sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu của môn học ngoại ngữ, nếu như hoạt động
chủ đạo lại không phải là rèn luyện thành thạo các kỹ năng thực hành giao tiếp. Bởi
vậy, trong mối tương quan giữa 3 phần cơ bản của nội dung dạy - học ngoại ngữ, việc
hình thành các kỹ năng giao tiếp vừa bao quát cả 2 phần nội dung tư tưởng đạo đức và
kiến thức văn hoá, vừa chi phối cả cả 2 phần nội dung đó.
Nội dung kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ ở nhà trường bao gồm 4 dạng hoạt
động giao tiếp là : nghe, nói, đọc, viết. Cả 4 phần nội dung này đều có mặt thường trực
trong suốt quá trình dạy - học ngoại ngữ .
Nội dung kỹ năng thực hành giao tiếp được thể hiện dưới dạng các bài tập tương
ứng với yêu cầu hình thành từng kỹ năng cụ thể .
- Nội dung tri thức văn hóa
Môn học ngoại ngữ có nhiệm vụ vừa trang bị cho người học những kiến thức
khoa học chuyên ngành lại vừa cung cấp, bổ sung những kiến thức thuộc tất cả các
lĩnh vực của nền văn hóa dân tộc chứa đựng trong tiếng nói mà nhà trường đang dạy
như một ngoại ngữ cho người học .
- Nội dung tư tưởng đạo đức
Ngoại ngữ có khả năng góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan tiến
bộ cho người học thông qua các bài học với những nội dung đa dạng và phong phú,
giúp người học xây dựng cho mình từ những thói quen đạo đức và hành vi văn minh
cần thiết trong cuộc sống xã hội đến những quan niệm và những chính kiến khoa học
về tự nhiên, về xã hội, về lối sống cao đẹp của con người.
1.5.3.2. Quản lý nội dung chương trình môn học tiếng Anh tại Trường Đại
học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

Footer Page 22 of 161.