Tải bản đầy đủ
Cây chùm ruột thuộc chi Phyllanthus từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền các nước để điều trị bệnh về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường ruột, bệnh tiểu đường và viêm gan siêu vi B. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học trên...

Cây chùm ruột thuộc chi Phyllanthus từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền các nước để điều trị bệnh về thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường ruột, bệnh tiểu đường và viêm gan siêu vi B. Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học trên...

Tải bản đầy đủ

HeaderKhóa
Pageluận
4 of
tốt161.
nghiêp

Nguyễn Đình Phước

bao gồm ức chế sự xâm lấn, di căn và kích hoạt sự chết theo chương trình của tế bào
(apoptosis) (Tang và cộng sự, 2011).[29] Năm 2011, các nghiên cứu của Lee và cộng sự
cho thấy cao chiết của bốn loài, gồm Phyllanthus niruri, Phyllanthus urinaria,
Phyllanthus watsonii và Phyllanthus amarus đều có tác dụng ức chế sự di căn của dòng tế
bào ung thư phổi A549 và dòng tế bào ung thư vú MCF-7, bằng cách kích hoạt quá trình
apoptosis (Lee và cộng sự, 2011).[14] IC 50 của cao chiết methanol của các loài trên có giá
trị khoảng 50-180 µg/ml, và của cao chiết nước khoảng 65-470 µg/ml. Trong thành phần
cao chiết, các hợp chất polyphenol giữ vai trò quan trọng trong sự ức chế xâm lấn, di
chuyển và gắn bám của các tế bào ung thư. Năm 2013, Sumalatha đã công bố cao chiết
ethanol của loài Phyllanthus emblica có tác dụng chống oxy hoá và có hoạt tính ức chế
dòng tế bào ung thư tá tràng HT-29 (Sumalatha, 2013).[27] Ngoài ra, cao chiết polyphenol
của loài này còn cho thấy vai trò của nó trong việc ức chế sự phân bào và kích hoạt quá
trình apoptosis ở tế bào ung thư cổ tử cung (Zhu và cộng sự, 2013).[31] Nhiều thử nghiệm
độc tính tế bào in vitro của các loại cao chiết từ các bộ phận của cây chùm ruột và của các
hoạt chất tinh khiết cô lập được trên các dòng tế bào ung thư, bao gồm tế bào ung thử
phổi NCI-H460, ung thư cổ tử cung HeLa, ung thư vú MCF-7, tế bào ung thư gan HepG2.
1.2.2 Tác dụng ức chế kí sinh trùng
Tác dụng kháng ký sinh trùng của chi Phyllanthus vẫn chưa được nghiên cứu
nhiều. Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy nhiều loài thuộc chi Phyllanthus có tác
dụng rất hiệu quả lên ký sinh trùng. Năm 2011, nghiên cứu của Ajala và cộng sự cho thấy
cao chiết của loài P. amarus có tác động kháng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium yoelii in
vivo trên chuột Swiss (Ajala và cộng sự, 2011).[3] Tác động kháng ký sinh trùng này của
loài P. amarus tương đương với thuốc kháng ký sinh trùng tiêu chuẩn khi dùng ở liều
1600 mg/kg thể trọng chuột/ngày. Một nghiên cứu khác trên ký sinh trùng sốt rét
Plasmodium falciparum kháng thuốc chloroquine cho thấy cao chiết nước và cồn của loài
P. amarus ức chế mạnh ký sinh trùng này ở mức độ in vitro với giá trị IC 50 là 11.7 µg/ml
(Opong). Một nghiên cứu cho thấy cao chiết nước từ loài P. niruri có tác dụng làm tê liệt
và chết sán bao tử (Paramphistomes) ở động vật nhai lại theo thứ tự khoảng 2 giờ và 4 giờ

Footer Page 4 of 161.

-3-

HeaderKhóa
Pageluận
5 of
tốt161.
nghiêp

Nguyễn Đình Phước

ở nồng độ 10 mg/ml (Jahan và cộng sự, 2013).[9] Ngoài ra, cao chiết từ chùm ruột có thể
kháng ký sinh trùng giun đũa trên thực vật (Mackeen và cộng sự, 1997).[17] Các kết quả
này cho thấy, chi Phyllanthus có thể là nguồn dược liệu chứa các hợp chất kháng nhiều
loài ký sinh trùng.
1.2.3 Hoạt tính kháng khuẩn
Các bệnh về nhiễm khuẩn đang gây nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe
con người. Escherichia coli (E. coli) là những vi khuẩn thường trú chính trong đường ruột
của người và động vật, nhưng một số chủng E. coli lại có khả năng gây tiêu chảy nặng và
nhiều bệnh ngoài đường ruột như viêm đường tiểu, nhiễm trùng máu. E. coli có liều gây
bệnh thấp và lây truyền qua đường phân – miệng. Trên thế giới đã có nhiều dịch tiêu chảy
do E. coli gây bệnh gây nên và dẫn đến nhiều thương vong. Theo nghiên cứu GEMS
(Global Enteric Multi-Center Study), thì các chủng E. coli gây bệnh là một trong bốn tác
nhân chính gây tiêu chảy ở Châu Phi và Nam Á. Trong đó, tỉ lệ thương vong cao nhất đối
với EPEC (enteropathogenic E. coli) và ETEC (enterotoxigenic E. coli) (Kapper và cộng
sự, 2004).[11] Bệnh lỵ trực trùng (bacilli dysentery), một trong vấn đề về sức khỏe đang
được quan tâm trên toàn cầu, bệnh do nhiễm trùng đường tiêu hóa với những triệu chứng
đặc trưng như sốt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy (đi phân lỏng kèm máu và dịch nhầy).
Trực trùng Shigella được xác định là nguyên nhân chính gây bệnh. Bệnh lỵ trực trùng có
khả năng lây lan cao từ người sang người qua đường phân – miệng, nguồn nước hoặc
thực phẩm nhiễm Shigella. Trong tổng số các ca bị bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới, có
khoảng 5-10% ca nhiễm được xác đinh do trực trùng Shigella gây ra. Cùng với đó, theo
ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999, số ca nhiễm Shigella chiếm đến
164.7 triệu mỗi năm tại các quốc gia đang phát triển với gần 1.1 triệu ca tử vong và hơn
1.5 triệu ca nhiễm hằng năm tại các quốc gia phát triển, trong đó có 61% các ca tử vong là
trẻ em dưới 5 tuổi (Kotloff và cộng sự, 1999).[12] Cũng theo một báo cáo gần đây của
Trung tâm nghiên cứu bệnh truyền nhiễm (CDC) - Mỹ, tỉ lệ nhiễm Shigella đến 7.6 ca
trong tổng số 100 000 trong năm 1993.

Footer Page 5 of 161.

-4-

HeaderKhóa
Pageluận
6 of
tốt161.
nghiêp

Nguyễn Đình Phước

Các loại kháng sinh tổng hợp thường được sử dụng để đối phó với các bệnh nhiễm
khuẩn. Tuy nhiên, hơn 50% các loại thuốc hiện nay đang được sử dụng vẫn có nguồn gốc
từ thiên nhiên (Sharmin và cộng sự, 2015).[26] Việc lạm dụng kháng sinh tổng hợp đang
gây ra tình trạng kháng đa kháng sinh ở nhiều chủng vi khuẩn cũng như gây ra nhiều tác
dụng phụ khác. Việc sử dụng các loài thảo dược được xem là một trong những phương
pháp thay thế để đối phó với tình trạng kháng đa kháng sinh của vi khuẩn. Ngoài ra việc
sử dụng các loài thảo dược còn làm giảm tác dụng phụ, không có hoặc rất ít độc tính, chi
phí thấp hơn (Sharmin và cộng sự, 2015).[26] Cây chùm ruột hiện đang được sử dụng trong
y học cổ truyền ở nhiều quốc gia như các chất kháng sinh và kháng oxy hóa. Nghiên cứu
của Eldeen và cộng sự (2011), cho thấy các loài thuộc chi Phyllanthus thu thập ở
Malaysia có khả năng kháng lại nhiều chủng vi khuẩn gram âm và gram dương như
Escherichia coli, Staphylococcus aures, Bacillus licheniformis, Pseudomonas stutzeri
(Eldeen và cộng sự, 2011).[8] Một số nghiên cứu của Mensah và cộng sự (1990), cho thấy
các loài P. muellerianus và P. discoideus có tiềm năng lớn trong việc sử dụng như là một
chất kháng khuẩn (Mensah và cộng sự, 1990).[18] Ở Việt Nam, chùm ruột cũng được sử
dụng trong một số bài thuốc dân gian để trị các bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, các nghiên
cứu chi tiết hơn về hoạt tính của loài này cũng như khả năng kháng khuẩn của nó vẫn
chưa nhiều.
1.3 NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY CHÙM RUỘT
PHYLLANTHUS ACIDUS
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Một số nghiên cứu hoá thực vật trên cây chùm ruột được thực hiện khá sớm và chỉ
công bố sự cô lập của các triterpene và phytosterol (Dekker, 1908; Sengupta và
Mukhopadhyay, 1966; Pettit và cộng sự, 1982).[3][6][25] Các hợp chất triterpene đã được cô
lập thuộc khung oleane như β-amyrin (22), khung lupane như lupeol (23) và khung
cyclopropyl-hexacyclic triterpenoid như phyllanthol (24). Trong khi đó, các hợp chất
sterol chủ yếu có khung sitosterol và các glycoside của chúng.

Footer Page 6 of 161.

-5-

HeaderKhóa
Pageluận
7 of
tốt161.
nghiêp

Nguyễn Đình Phước

Những nghiên cứu trong khoảng 15 năm gần đây trên các loài thuộc chi
Phyllanthus đã công bố sự cô lập của một nhóm các hợp chất norbisabolane
sesquiterpenoid, với hoạt tính sinh học của chúng khá đa dạng (Lv J.-J. và cộng sự, 2014;
Vongvanich và cộng sự, 2000).[16][30] Năm 2000, hai hợp chất Phyllanthusol A (2) và B
(3) đã được cô lập, có khung sườn serquiterpenoid loại norbisabolane gắn các phân tử
đường glucosyl và mannosamine-N-acetate (Vongvanich và cộng sự, 2000).[30] Tuy nhiên,
đến năm 2014, cùng với sự cô lập 19 hợp chất cũng thuộc khung sườn norbisabolane, các
hợp chất Phyllanthusol A và B được xác nhận cấu trúc, trong đó hai đơn vị đường là
glucopyranosyl và glucosamine-N-acetate. Như vậy, cho đến nay, 21 hợp chất
norbisabolane đã được cô lập, với tên gọi tương ứng là phyllanthacidoid A-T (1-21).
Trong đó hai hợp chất phyllantacidoid S (20) và T (21) chứa khung sườn rất lạ so với các
hợp chất được cô lập trước đây, với hợp phần tricyclo[3.1.1.1] có trong cấu trúc của
chúng. Các hợp chất này đã được thử nghiệm hoạt tính kháng virus viêm gan siêu vi B
(HBV), với giá trị IC 50 trong khoảng 0.8-36.0 µM (Lv J.-J. và cộng sự, 2014).[16] Ngoài
ra, các hợp chất phyllanthacidoid cũng được xác định là thành phần chính có trong rễ cây
chùm ruột, với hàm lượng khoảng 1 mg/g, tính trên khối lượng rễ chưa khô (Vongvanich
và cộng sự, 2000).[30] Quá trình chiết xuất và phân tích hàm lượng của phyllanthacidoid A
và B cũng được xác nhận bằng phương pháp điện di (capillary electrophoresis) (Durham
D. G. và cộng sự, 2002).[7]
Năm 2010, các hợp chất kaemferol (28), adenosine (29), 4-hydroxybenzoic acid
(30), hypogallic acid (31), caffeic acid (32) được cô lập từ cao n-butanol của lá cây chùm
ruột (Leeya Y. và cộng sự, 2010).[15] Cao n-butanol toàn phần và 5 hợp chất được cô lập
đều có khả năng làm giảm huyết áp và giãn cơ vòng ở động mạch chủ.
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước
Năm 2014, nhóm nghiên cứu Nguyen T.T và cộng sự đã cô lập được các hợp chất
phenylbutanoid và diphenylheptanoid, trong đó có một hợp chất diphenylpentanoid mới
(Nguyen T. T. và cộng sự, 2014).[20] Cho đến nay, các hợp chất có khung sườn
phenylbutanoid và phenylheptanoid chưa được công bố trong chi Phyllanthus. Các hợp

Footer Page 7 of 161.

-6-

HeaderKhóa
Pageluận
8 of
tốt161.
nghiêp

Nguyễn Đình Phước

chất cô lập gồm glochodinone (25), 4-[4’-(O-β-D-glucopyranosyl)phenyl-2-butanone
(26),

1-[4’-(O-β-D-glucopyranosyl)phenyl]-5-[4”-(O-β-D-glucopyranosyl)phenyl]-3-

pentanone (27).
Năm 2015, trong tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài luận văn Thạc sĩ của Võ Thị
Như Thảo, với đề tài : “Nghiên cứu tách chiết và xác định thành phần hóa học của vỏ thân
cây chùm ruột Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong một số dịch chiết”, tác giả công bố đã thu
được một số kết quả như xác định độ ẩm của nguyên liệu bột khô là 8.87%; hàm lượng
tro trung bình là 5.00%; định tính được dịch chiết n-hexane có 15 cấu tử hữu cơ thuộc các
nhóm hợp chất acid hữu cơ, ester, vitamin, sterol; dịch chiết chloroform có 9 cấu tử hữu
cơ thuộc nhóm sterol, acid hữu cơ, ester của acid béo; dịch chiết ethyl acetate có 14 cấu tử
hữu cơ thuộc nhóm acid béo, sterol, sesquiterpene....Ngoài ra, tóm tắt luận án cũng công
bố thông tin về thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của bột vỏ cây chùm ruột trên hai dòng
chủng vi khuẩn là Bacillus subtilis và Klebsiella. Tuy nhiên, công bố của tác giả không
cho thấy bất kỳ sự xác định cấu trúc của hợp chất nào cô lập được từ vỏ thân cây chùm
ruột ở Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, và cho đến nay, các kết quả này vẫn chưa được tìm thấy
trong các báo cáo khoa học tại Việt Nam.

Footer Page 8 of 161.

-7-