Tải bản đầy đủ
4 Biện pháp lắp dựng khung cốt thép của dầm cầu lắp ghép

4 Biện pháp lắp dựng khung cốt thép của dầm cầu lắp ghép

Tải bản đầy đủ

III, Ván khuôn và các công trình phụ trợ
3.1. Cấu tạo chung của ván khuôn và các bộ phận của ván khuôn.
Ván khuôn là khuôn đúc của kết cấu bê tông, khuôn như thế nào thì sản phẩm như vậy, do đó ván khuôn có vai trò quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác bê tông
Ván khuôn dùng cho các kết cấu của cầu, ở các bộ phận từ móng mố, trụ đến kết cấu nhịp hình dạng của chúng nằm trong
mấy loại sau:
1- Hình khối chữ nhật. 2.Hình khối lăng trụ. 3. Khối hình trụ. 4. Hình hộp. 5. Kết hợp giữa các dạng trên.
Ván khuôn phải ghép từ các mảnh ván ghép sẵn. Các ván ghép sẵn gọi là các tấm ván đơn. Ván đơn có hai dạng tấm phẳng
và tấm có mặt cong.Ngoài ra còn có đinh, bu lông.. để liên kết cùng hệ thống đà giáo chống ngoài nhằm tránh ván khuôn bị
xô nghiêng hoặc lật đổ.
3.2. Tải trọng tác dụng lên ván khuôn và sự làm việc của các bộ phận trong ván khuôn.
Tải trọng tác dụng lên ván đáy bao gồm: trọng lượng vữa bê tông, trọng lượng khung cốt thép, trọng lượng bản thân của
các bộ phận ván khuôn bao gồm cả các ván khuôn thành, lực xung kích do vữa rơi, lực xung kích do đầm và tải trọng thi
công ngoài lực xung kích do đầm có chiều sâu tác dụng nhất định, những tải trọng khác còn lại đồng thời tác dụng lên ván
khuôn cho đến khi ngừng đổ bê tông.
3.3. Cấu tạo vòng vây cọc ván thép và biện pháp thi công hạ vòng vây cọc ván thép.
a, Cấu tạo
Các cọc ghép lại liên tục với nhau và quây kín khu vực thi công gọi là vòng vây. Rãnh khóa cho phép cọc nọ xoay đi so với
cọc kia một góc nhất định và như vậy vòng vây có thể đóng thành vòng tròn, thành các mặt tường phẳng rồi nối lại với
nhau và nối hai mặt phẳng với hai đầu tròn (hình ô van). Tuy rãnh khóa có thể quay tự do nhưng không thể đổi hướng ghép
đi một góc 90 được, bởi vậy khi ghép vòng vây thành hình chữ nhật, ở bốn góc phải chế tạo cọc góc riêng bằng cách xẻ
đôi cọc thành hai nửa và hàn bụng cọc với hai cánh của một thanh thép góc L100x100x10 như hình cánh dơi hoặc hàn một
cọc nguyên với một nửa cọc xẻ đôi.
Ngoài ra còn có khung định vị và hệ giằng chống. b, Biện pháp thi công hạ vòng vây cọc ván thép.
- Đóng một số cọc thép chữ H xung quanh về phía tròn của vòng vây để làm cọc định vị khoảng cách 2-3m cho một cọc.
Dùng búa rung để đóng.; - Dùng cần cẩu lắp khung chống tựa trên các cọc định vị làm khung dẫn cho các cọc ván.
- Tổ hợp cọc ván: tổ hợp 3-5 cọc thành một mảng trước khi đóng. Dùng các thanh ray kê đệm phía dưới và đặt ngửa hai
cọc ván ở hai bên hướng chiều lòng máng lên trên để một khoảng trống giữa chúng, luồn thanh thứ ba vào giữa theo
chiều úp xuống lắp khớp với cạnh me của hai thanh bên rồi dùng tời kéo chậm để các cạnh me trượt hết chiều dài thanh
cọc. Dùng thanh kẹp, kẹp các cọc đã tổ hợp lại với nhau.
- Xảm me cọc ván thép có tác dụng làm kín mạch nối ghép giữa các cọc. Vật liệu là dây thừng tẩm dầu thải, dùng que
nhét vào khe hở giữa các cạnh me.
- Dựa vào khung dẫn hướng tiến hành ghép vòng vây. Dùng cần cẩu cẩu từng tổ hợp cọc theo phương thẳng đứng và lùa
một cạnh me của tổ hợp vào hàng cọc đã ghép trước, dưới đáy cạnh me còn lại dùng dây thừng hoặc mảnh gỗ làm nút
ngăn không cho đất hoặc sỏi chèn vào, thả từ từ cho tổ hợp cọc trượt thẳng theo rãnh me và cắm ngập chân trong nền,
Đối với vòng vây hình chữ nhật, xuất phát từ hai góc của vòng vây còn lại đối với vòng vây có hình tròn hoặc elip thì
có thể bắt đầu từ một vị trí bất kỳ của vòng vây.
- Tại điểm hợp long, đo cụ thể khoảng hở còn lại để chế tạo cọc khép mối và tiến hành khép kín mối nối.
- Dùng búa rung rung hạ cọc ván, đi lần lượt từ một góc cho hết một lượt xung quanh vòng vây, chiều sâu hạ giữa các
cọc không chênh quá 1m.
3.4. Phân biệt phạm vi áp dụng của vòng vây cọc ván thép và các loại thùng chụp.
* Cọc ván thép: - Dùng khi có tầng đất đủ dày cho phép đóng ngập với độ sâu sao cho không bị xói hở chân cọc.
* Các loại thùng chụp:
- Được sử dụng chủ yếu ở những nơi và cọc ván thép sử dụng không hiệu quả như khi gặp nền đá
cứng không đóng được cọc ván, hoặc những nơi có sóng lớn, nước sâu…
3.5.Phân loại đà giáo cố định, vai trò của đà giáo trong thi công các hạng mục cầu. Phân biệt đà giáo với dàn giáo.
- Phân loại: phân loại qua dầm chủ đà giáo. Căn cứ vào điều kiện chiu lực và yêu cầu về tĩnh không, dầm chủ đà giáo có thể
làm bằng các bó dầm I số hiệu từ 300 đến 910, hoặc là kết cấu dạng dàn được lắp từ các thanh của bộ kết cấu vạn năng hay
dầm quân dụng Bailey
- Vai trò: chống đỡ tạm thời cho kết cấu nhịp cầu khi kết cấu nhịp chưa đủ khả năng tự đỡ được trọng lượng bản thân, đồng
thời còn tại mặt bằng thi công để thực hiện các công đoạn của các bước công nghệ. - Phân biệt đà giáo với dàn giáo:
+, Đà giáo: dùng để đỡ kết cấu công trình. +, Dàn giáo: Một hệ thống kết cấu tạm thời đặt trên nền vững hoặc có thể treo
hoặc neo, tựa vào công trình để tạo ra nơi làm việc cho công nhân tại các vị trí cao so với mặt đất hay mặt sàn cố định.
3.6.Biện pháp hạ đà giáo trong thi công đúc liền khối kết cấu nhịp dầm bê tông.
Khi lắp đà giáo, người ta đặt nêm dưới chân đà giáo. Khi kết cấu nhịp dầm bê tông đã cứng (đủ khả năng chịu lực), người
ta tiến hành hạ đà giáo bằng cách gỡ nêm dưới chân đà giáo ra nhằm không cho đà giáo tham gia đỡ dầm, rồi tháo dần các
bộ phận đà giáo từ trên xuống.

IV- Thi công móng cọc đóng.
4.1. Cấu tạo cọc BTCT liên quan đên thi công đóng cọc.
Móng cọc đặc: bao gồm các loại cọc bằng gỗ, bằng thép cán hoặc ray cũ và cọc BTCT. Những cọc này có tiết diện đặc và
có nhiều hình dạng khác nhau nhưng có ít nhất là một trục đối xứng. Các loại cọc đặc được đóng vào đất bằng búa xung
kích hoặc ép tĩnh.
Móng cọc ống: là cọc ống tròn có đường kính từ 60-300cm. Chiều dày thành ống nhỏ hơn rất nhiều so với đường kính cọc
thuộc dạng kết cấu thành mảnh. Biện pháp đóng cọc phụ thuộc vào đường kính cọc, cấu tạo mũi cọc. Đối với cọc thép
đường kính < 800mm và cọc BTCT đường kính < 500mm thường có mũi kín và đóng bằng búa xung kích như cọc đặc. Đối
với cọc có đường kính <1000mm mũi cọc hở và được cấu tạo như lưỡi cắt, đóng bằng biện pháp rung. Những cọc có đường
kính lớn hơn 1000mm đêu có cấu tạo lưỡi cắt ở dưới chân cọc và đóng bằng biện pháp rung hạ, vừa rung vừa kết hợp với
những biện pháp giảm sức kháng cắt ở phái chân cọc và thành cọc như đào lấy đất ở phía trong lòng cọc, xói đất ở phía mũi
và thành ngoài.
Cọc được chế tạo thành từng đốt có chiều dài tối đa 12m để dễ vận chuyển, trong quá trình hạ vào nền, các đốt cọc nối với
nhau bằng mối nối thi công. Khi chia các đốt cọc phải tuân theo quy định trong một bệ cọc các mối nối không được cùng
nằm trên 1 mặt phẳng, cần có ít nhất 2 loại đốt mũi cọc để khi nối các mối nối so le nhau.
4.2. Búa đóng cọc. Chọn búa đóng cọc dựa vào 2 điều kiện: Điểu kiện 1: E ≥ 25.Pgh
E: Năng lượng xung kích của búa (kg.m) dựa vào lý lịch búa. Pgh: Khả năng chịu lực giới hạn của cọc theo đất nền.
Po
=

Pgh
Po: Khả năng chịu lực tính toán của cọc thoe đất nền. m2: Hệ số không đồng nhất của nền đất (0,9)
m2 ×
K
K: Hệ số phụ thược vào cấu tạo tấm lót đầu cọc.
Điều kiện 2:
[n]: Hệ số cho phép của búa. Qbua = Trọng lượng toàn bộ búa
n = Qbua+Qcoc ≤
[ n] E
Qcoc= Trọng lượng cọc + đầu cọc + cọc dẫn. Bảng xác định hệ số [n]
Dạng búa
Cọc gỗ
Cọc BTCT
Cọc thép
Búa ddiezeel dạng ống và búa hơi đơn động
5
6
5,5
Búa ddiezeel động và búa hơi song động
3,5
5
4
4.3. Độ chối vào những công việc trong thi công đóng cọc có sử dụng độ chối.

Q + 0, 2(q1 + q2
nFQH
Độ chối: Độ sụt của cọc sau 1 nhát búa tác dụng vào đầu cọc. et
×
=
Ptt (Ptt +
k
)
Trong đó:
nF )
Q + q1 + q2
Ptt : sức chịu tải tính toán của cọc(Tấn) Q : trọng lượng của quả búa phần rơi.(T) H :chiều cao rơi của quả búa.(cm)
F: diện tích mặt ngang cọc.(cm2) q1: Trọng lượng cọc + đệm đầu cọc (T) q2: Trọng lượng cọc dẫn (T)
n: Hệ số phụ thuộc phương thức đóng cọc.
Cọc gỗ có cọc dẫn: n=0,008 Cọc gõ không có cọc dẫn: n=0,01 Cọc BTCT có đệm đầu cọc: n=0,015
Cọc Thép có cọc dẫn: n=0,02
Xác định độ chối tiến hành trước khi đóng và đúc cọc đại trà.
Nếu ett>etk chưa được. Nếu ett ≤ etk cọc đóng đến thiết kế, đủ khả năng chịu lực.
Xác định độ chối để thống nhất chiều dài cọc, tiết diện cọc, các mối nối đảm bảo cho không cùng 1 mặt phẳng tránh gây
bị cắt. etk: Độ sụt trung bình của cọc do 1 nhát búa rơi vào đầu cọc.
E
Cọc dùng búa rơi tự do:etk ≥
E: Độ sụt của cọc do 10 nhát búa rơi vào đầu cọc.
10
Cọc đóng bằng búa diezel hoặc búa hơi, đơn động và song động.
etk=E2/ Số nhát búa rơi vào đầu cọc/phút E2: Độ sụt của cọc do 1 loạt nhát búa rơi vào đầu cọc trong 1 phút.
4.4. Các sơ đồ đóng cọc trong bệ:
Việc chọn sơ đồ đóng cọc hợp lý nhằm đảm bảo cho khi đóng các cọc trước không làm dồn nén gây khó khăn cho các cọc
đóng sau, đông thời để di chuyển giá búa không phức tạp, không bị vướng bới các đầu cọc đóng trước.
Để thỏa mãn yêu cầu trên có 2 phương án đóng cọc: đóng theo từng hàng zíc zắc và đóng theo đường xoắn ốc từ giữa bãi
cọc đi ra.
Theo sơ đồ zích zắc có 2 phương án di chuyển: theo
hàng cạnh ngắn của bãi cọc nếu bãi chị gồm cọc
thẳng, khi đó chỉ việc di chuyển giá búa mà không
phải di chuyên các vị trí điểm neo dây giữ ổn định
giá búa. Nếu trong bãi cọc có cọc xiên thì di chuyên
theo cạnh dài, đóng các cọc xiên dương trước sau đó
chỉnh lại cột giá búa thẳng để đọc các cọc thẳng,
quay giá bứa 180o để đóng hàng cọc xiên dương nếu
tập và thực hiện: Cầu Đường Sắt K52- CauduongsatK52@gmail.com

5

các cọc trước đóng chưa ngập hết chiều dài cọc. Gặp
độ chối giả thì giữ hướng di chuyển và đóng theo
Biên

hướng xiên âm. Phương pháp này sử dụng cho bãi cọc có kích thước vừa và bé.
Theo sơ đồ đường xoắn ốc áp dụng cho bãi cọc có kích thước lớn, điểm xuất phát là một cọc ở giữa bãi, lần lượn đóng mở
rộng vòng xoay ra đến cạc cọc ở ngoài các hàng biên. Các cọc biên đều phải đóng theo hướng xiên âm. Đóng theo sơ đồ
đường xoắn ốc, giá búa phải xoay nhiều lần nhưng điểm neo các dây neo thì cố định.
Trong quá trình thi công đóng cọc phải thường xuyên theo hướng lên xuống của cọc và độ sụt của nso nhằm kịp thời phát
hiện những hiện tượng dẫn đến sự có làm ảnh hưởng đến chất lượng của móng. Những cọc gặp độ chối giả thì nghỉ đóng và
đợi khi đất nền hoàn toàn trờ lại trạng thái nguyên thổ rồi đóng lại để xác định độ chối thực tế.
4.5. Biện pháp thi công móng cọc bệ chìm, móng cọc bệ nổi trong điều kiện ngập nước.
Móng cọc bệ chìm:
Dùng giá búa dựng lên trên hệ nổi ghép từ các phao đơn để trờ thành giá búa di động. Hệ nổi ghép thành hình chữ H lệch.
Thỏa mản đễ đặt sàn giá búa, ổn định khi đóng cọc, neo được định cột giá búa xuống 4 góc hệ nổi. Đóng các cọc bê tông
trước, sau đó sử dụng cọc dẫn để đóng ngập đầu cọc xuống trước và vùi sâu vào trong nền.
Đóng cọc ván thép bằng búa rung theo kỹ thuật. Đảm bảo tĩnh không giữa mặt bệ cọc sau khi ghép ván khuôn với bề mặt
vòng vây không nhỏ hơn 0,7m. Sau khi đóng cọc đến chiều sâu thiết kế, chân các hàng cọc ván thép cách lưng các cọc bê
tông của hàng biên khoảng cách từ 0,5m trở lên theo phương ngang. Sau khi đóng các cọc ván thép hạ vành đai khung
chống xuống vị trí thiết kế nó và lắp nốt các tầng khung chống bên trên.
Đào đất trong vòng vây bằng biện pháp xói hút đến cao độ cách đáy bệ 1 chiều sâu hb ≥ 1m.
Đổ bê tông bịt đáy dựa trên cơ sở thiết bị và vật tư săn có.
Sau khi đổ lớp bê tông bịt đáy 1 ngày đêm bơm rút nước ra khỏi hố móng.
Đập đầu cọc và xử lsy đầu cọc theo quy định. Chiều dài đoạn cọc phải đập bỏ cách cao độ đáy bẹ là 15cm phần bê tông còn
lại không được nứt vỡ.
Thi công bệ móng.
Móng cọc bệ nổi.: Dùng giá búa dựng lên trên hệ nổi ghép từ các phao đơn để trờ thành giá búa di động. Hệ nổi ghép
thành hình chữ H lệch. Thỏa mản đễ đặt sàn giá búa, ổn định khi đóng cọc, neo được định cột giá búa xuống 4 góc hệ nổi.
Đóng các cọc bê tông trước, sau đó sử dụng cọc dẫn để đóng ngập đầu cọc xuống trước và vùi sâu vào trong nền.
Đóng cọc ván thép bằng búa rung theo kỹ thuật. Đảm bảo tĩnh không giữa mặt bệ cọc sau khi ghép ván khuôn với bề mặt
vòng vây không nhỏ hơn 0,7m. Sau khi đóng cọc đến chiều sâu thiết kế, chân các hàng cọc ván thép cách lưng các cọc bê
tông của hàng biên khoảng cách từ 0,5m trở lên theo phương ngang. Sau khi đóng các cọc ván thép hạ vành đai khung
chống xuống vị trí thiết kế nó và lắp nốt các tầng khung chống bên trên.
Đắp đất trong vòng vây đến cao độ cách đáy bệ 1 chiều sâu hb ≥ 1m. Đổ bê tông bịt đáy dựa trên cơ sở thiết bị và vật tư
săn có. +Sau khi đổ lớp bê tông bịt đáy 1 ngày đêm bơm rút nước ra khỏi hố móng.
Đập đầu cọc và xử lsy đầu cọc theo quy định. Chiều dài đoạn cọc phải đập bỏ cách cao độ đáy bẹ là 15cm phần bê tông còn
lại không được nứt vỡ.
Thi công bệ móng
4.6. Biện pháp thi công móng cọc trong điều kiện nước ngập nông.
4.6.1. Biện pháp đóng cọc trên đảo nhô.
Đảo nhô là bãi đất đắp lấn ra vùng ngập nước có một mặt nối liền với bờ hoặc với bãi sông.
Kích thước của đảo được xác định theo mặt bằng thi công móng như ở trên cạn đồng thời mỗi mặt tiếp giáp với mặt nước
có một dải đắp lưu không gọi là đường hộ đạo.
Đắp đảo dùng đắt đắp nền hoặc cát sông, đầm chặt san đến K85..
Dung giá búa vào cọc dẫn đóng cọc bê tông bằng biên pháp đóng trên mwatj bắng. Giá búa quay ra phía sông và đóng hàng
cọc ở ngoài trước theo phương pháp zíc zắc.
Sau khi đóng xong cọc bãi tháo dỡ giá búa và xác định vị trí vòng vây cọc ván thép. Đóng vòng vậy cọc ván thép bằng búa
rung.
Đào đất rong hố móng théo 2 đợt, lớp tren mặt khi chưa vướng các đầu cọc có thể dùng máy xúc… Lớp phái dưới bị úng
nước do thấp hơn MNTC và vướng đầu cọc dùng biện pháp xói hút.
Kiểm tra cao độ đáy hố móng, tiến hành đổ lớp bê toogn bịt đáy. Bơm hút cạn nước hố mong đổ bê tông bệ cọc.
4.6.1. Biện pháp đóng cọc trên sàn đạo.
Sàn đạo là 1 dạng đà giáo trên mặt nước để làm mặt bằng thi công hoặc làm đường công vụ chạy trên mặt nước. Sàn đạo có
chiều cao thấp, móng là cọc H hoặc ray cũ, đặt dầm I trên đỉnh các cọc làm xà mũ và trên đó gác các dầm I để đỡ mặt sàn.
Mặt sàn gồm những xà ngang đặt trên các dầm dọc và lát ván gỗ hoặc đặt các tấm tôn có gờ chống trượt để làm mặt đi lại.
Sàn đạo nối từ bờ ra đến vị trí thi công.
Dung giá búa vào cọc dẫn đóng cọc bê tông bằng biên pháp đóng trên mwatj bắng. Giá búa quay ra phía sông và đóng hàng
cọc ở ngoài trước theo phương pháp zíc zắc.
Sau khi đóng xong cọc bãi tháo dỡ giá búa và xác định vị trí vòng vây cọc ván thép. Đóng vòng vậy cọc ván thép bằng búa
rung.
Đào đất rong hố móng théo 2 đợt, lớp tren mặt khi chưa vướng các đầu cọc có thể dùng máy xúc… Lớp phái dưới bị úng
nước do thấp hơn MNTC và vướng đầu cọc dùng biện pháp xói hút.
Kiểm tra cao độ đáy hố móng, tiến hành đổ lớp bê tông bịt đáy. Bơm hút cạn nước hố mong đổ bê tông bệ cọc.

7

Chương 5 Cọc Khoan Nhồi
1 Các biện pháp tạo hình lỗ khoan
- Phương pháp thi công khô :
Biện pháp đào khô áp dụng để thi công các cọc ngắn nằm ở trên cạn, lỗ cọc không chịu ảnh hưởng của nước ngầm.
• các Phương pháp thi công ướt. Là phương pháp áp dụng để thi công cọc có chiều dài lớn, nằm trong khu vực chịu ảnh
hưởng của nước ngầm hoặc bị ngập nước. Đây là phương pháp chủ yếu dùng để thi công móng cọc khoan nhồi của các
móng mố, trụ cầu. Căn cứ biện pháp khoan lấy đất người ta chia ra làm bốn biện pháp công nghệ thi công cọc khoan
nhồi.
• Biện pháp khoan bằng máy khoan ống vách xoay . Đây là loại máy khoan có ống chống vách hạ suốt chiều dài xuống
tận đáy cọc bằng biện pháp xoay lắc liên tục, đầu khoan làm việc theo nguyên l. của máy đào gầu ngạm.
• Biện pháp khoan gầu xoay : Biện pháp này sử dụng máy khoan xoay với đầu khoan có trang bị lưỡi cắt hoặc các răng
gầu để phá đất đá đồng thời là gầu chứa đất và đưa ra khỏi lỗ khoan
• Các biện pháp khoan tuần hoàn . là biện pháp khoan có sử dụng vữa sétđể chống vách, đất đá trong lỗ khoan bị đầu
khoan gọt phá tạo thành mùn khoan và bị khấy trộn lẫn cùng với vữa sét, hỗn hợp này được lấy lên khỏi lỗ khoan bằng
bơm hút hoặc đẩy.
• Biện pháp khoan đập cáp ( khoan dộng) sử dụng đầu khoan là một quả búa có trọng lượng 2 ÷ 3 tấn treo trên dây cáp
và thả rơi xuống mặt đá ở đáy lỗ khoan từ độ cao 50÷100cm.
2) Biện pháp giữ ổn định thành vách
 ống chống vách trên miệng lỗ khoan :
trên miệng lỗ khoan cần bố trí một đoạn ống chống vách bằng thép với vai trò :
- Tạo thànhvòngcổ áo giữ cho đất nền quanh mép lỗ khoan không bị lở do áp lực mặt đất và những va chạm cơ học.
- Chống giữ vách lỗ khoan nằm trong lớp đất phía trên thường là lớp mềm yếu như cát chảy,bùn nh.o dễ bị sụt lở
- Chịu áp lực chủ động của đất nền tác dụng lên thành vách trong phạm vi mà áp lực thủy tĩnh của vữa sét chưa đủ lớn để
cân bằng .
- Tăng chiều cao cột áp của vữa sétlàm tăng áp lực lên thành lỗ khoan ở đoạn phía dưới không có ống chống vách.
- Giữ cho vữa sét trong khi khoan và vữa bê tông trong khi đúc cọc không bị rửa trôi do ảnh hưởng của dòng nước ngầm
lưu động trong phạm vi lớp đất phía trên mặt đối với trường hợp khoan cọc trên mặt đất hoặc trên đảo
- Dẫn hướng cho đầu khoan đi thẳng theo tim cọc ở những mét khoan đầu tiên
 Hạ ống chống vách : Ống vách được hạ bằng búa rung như hạ cọc ống vào trong nền, do đáy ống hở nên rung hạ phải
hết hợp với đào lấy đất trong l.ng ống .
 Vữa sét
TÁC DỤNG VỮA SÉT
Tác dụng của vữa sét là :
1- Vữa sét có tỉ trọng cao hơn nước tạo nên áp lực lên thành lỗ khoan lớn hơn áp lực chủ động từ phía đất nền tác dụng vào
trong l.ng lỗ khoan, mặt khác do có độ nhớt, vữa séttạo màng trên bề mặt thành lỗ cố kết các hạt rời có tác dụng làm ổn
định chống được sụt lở thành vách .
2- Có độ nhớt phù hợp làm cho mùn khoan được trộn lẫn với vữa sét tạo nên trạng thái huyền phù để dễ dàng lấy mùn
khoan ra khỏi lỗ khoan.
3- Và có độ ch.m lắng thích hợp để làm lắng các hạt khi xử l. cặn vệ sinh đáy lỗ khoan . Vữa sétsử dụng phổ biến hiện nay là
vữa sét Bentonite.
một số biện pháp kiểm tra chiều dày lớp cặn lắng
o Kiểm tra độ sạch của vữa sét lấy lên từ khu vực mũi cọc sau khi khuấy hút phía dưới đáy lỗ khoan. So sánh tỉ trọng
giữa loại vữa sét này với vữa sét chưa sử dụng để đánh giá mức độ nhiễm bùn.
o Đo chiều dày của lớp bùn lắng dưới đáy lỗ khoan bằng cách dùng hai loại quả rọi có trọng lượng 3kg treo thả bằng dây
cáp lụa và trục quay tay
o Dùng biện pháp siêu âm,
Cách sử lý
o Đối với biện pháp khoan gầu xoay, : cần phải để cho cặn lắng xuống sau đó dùng biện pháp thổi khuấy dưới đáy lỗ để
lấy cặn.
o Đối với biện pháp khoan tuần hoàn thuận : loại hạt mịn trộn lẫn với vữa sét trên suốt chiều dài lỗ khoan từ dưới lên trên
do đó sau khi ngừng khoan thì nâng đầu khoan và quay không tải để khuấy vữa đồng thời bơm rửa l.ng cọc bằng vữa
sét cho đến khi kiểm tra tỉ trọng của vữa sét lấy lên ở trên miệng lỗ so với tỉ trọng củ vữa sét bơm vào chênh lệch không
vượt quá 10% thì có thể coi là sạch, loại hạt thô không nổi lên được cùng với vữa sét mà lắng đọng ở dưới đáy lỗ cần
phải kiểm tra nếu chiều dày của lớp này lớn hơn 5cm thì phải xử l. cặn lắng đáy lỗ bằng biện pháp thổi khuấy
Đối với biện pháp tuần hoàn nghịch : theo hai cách : đo tỉ trọng của vữa sét lấy lên và đo chiều dày của lớp cặn lắng dưới
đáy lỗ khoan, đối với cọc chống lớp này không được lớn hơn 5cm c.n đối với cọc ma sát không vượt quá 10cm. Biện pháp
xử l. cặn lắng bằng cách nâng đầu khoan lên cách đáy 20cm, quay
đầu khoan đều để khuấy cho mùn cặn cuộn lên đồng thời thổi hơi ép để hút mùn cùng với cặn lắng trong khi đó vẫn tiếp tục
cấp bù vữa sét từ phía trên miệng lỗ để giữ ổn định thành lỗ khoan. Thời gian hút khoảng 10 phút. Kiểm tra độ sạch của
vữa lấy lên,nếu đạt thì vừa quay vừa rút cần khoan với tốc độ không vượt quá 4m/ph.

Trường hợp cặn lắng là cuội sỏi hoặc dăm vụn đá dùng máy hút thủy lực với đầu hút có lồng hút đá ( h.nh 2.11) hoặc có thể
áp dụng biện pháp thổi khuấy đã nêu
4 ) Vai trò ống chống vách
- Tạo thành vòngcổ áo giữ cho đất nền quanh mép lỗ khoan không bị lở do áp lực mặt đất và những va chạm cơ học.
- Chống giữ vách lỗ khoan nằm trong lớp đất phía trên thường là lớp mềm yếu như cát chảy,bùn nh.o dễ bị sụt lở
- Chịu áp lực chủ động của đất nền tác dụng lên thành vách trong phạm vi mà áp lực thủy tĩnh của vữa sét chưa đủ lớn để
cân bằng .
- Tăng chiều cao cột áp của dung dịch khoan làm tăng áp lực lên thành lỗ khoan ở đoạn phía dưới không có ống chống
vách.
- Giữ cho vữa sét trong khi khoan và vữa bê tông trong khi đúc cọc không bị rửa trôi do ảnh hưởng của d.ng nước ngầm lưu
động trong phạm vi lớp đất phía trên mặt đối với trường hợp khoan cọc trên mặt đất hoặc trên đảo. Giữ vữa sét và có vai tr.
như ván khuôn bảo đảm cho vữa bê tông không bị h.a tan trong nước khi khoan cọc
trên sàn đạo hoặc khoan trên hệ nổi.
- Dẫn hướng cho đầu khoan đi thẳng theo tim cọc ở những mét khoan đầu tiên .
7.5.2.3- Biện pháp thi công móng cọc khoan nhồi trên hệ nổi.
Biện pháp thi công trên hệ nổi là giải pháp cùng loại với biện pháp thi công trên
sàn đạo, áp dụngtrong điều kiện nước ngập sâu, không thể đắp đảo được. hệ nổi khắc phục được điều kiện mực nước thay
đổi thường xuyên với biên độ lớn
Dùng hệ nổi ghép từ các phao đơn hoặc sà lan để tạo mặt bằng thi công. Hệ nổi được neo giữ chống trôi nhưng phải tự
do lên xuống theo mực nước. Người ta thường dùng bốn cọc neo bằng thép đóng ở bốn góc của hệ nổi để khống chế , liên
kết giữa cọc neo và khung cứng của hệ nổi là vành đai có thể trượt theo chiều cao của cọc neo. Hệ
nổi phải thiết kế đủ ổn định chống chao nghiêng vì khi chao nghiêng sẽ làm cho mũi khoan đi lệch và làm cong cần khoan
hoặc khét rộng thành lỗ khoan, làm lỗ khoan bị nghiêng lệch. Sàn công tác tạo chỗ đứng làm việc cho máy khoan là các
dầm gác qua hai hệ nổi ở hai phía của khu vực móng, hai hệ nổi có vai trò như trụ nổi để đỡ sàn công
tác.
Chiều cao thành hộp của thùng chụp cần luôn luôn cao hơn MNTC khi mực nước thay đổi .
5-6 Biện pháp thi công móng cọc khoan nhồi trên sàn đạo.
Khi biên độ nước ít thay đổi và lưu tốc lớn nên áp dụng biện pháp khoan trên sàn đạo .
Sàn đạo dựng trên hệ thống cọc thép chữ H hoặc ống tròn đóng sâu vào nền đủ chịu tải trọng thi công và chống xói
trong giai đoạn thi công. Mặt sàn cao hơn MNTC 0,7m có xét đến khả năng mức nước dâng lên bất thường trong giai đoạn
thi công.Hệ sàn đạo tạo thành mặt bằng thi công bao quanh hoặc tối thiểu là bao lấy hai mặt của khu vực móng.
Phải áp dụng biện pháp khoan cọc có sử dụng vữa sét và đoạn ống chống vách phía trên được để lại cho đến khi đổ xong
bê tông cọc vì các ống chống vách đó còn có vai trò là ván khuôn cọc giữ cho vữa bê tông không bị hòa tan trong nước.
Máy khoan sử dụng loại khoan gầu xoay hoặc khoan tuần hoàn tuỳ theo địa chất của nền, nhưng nên sử dụng loại máy
khoan gọn dễ vận chuyển tập kết lên sàn đạo và cũng giảm tải trọng cho sàn đạo. Sử dụng máy khoan tuần hoàn nghịch có
giá khoan
kiểu chữ môn như dòngmáy GPS của Trung quốc hoặc máy khoan treo là phù hợp với
biện pháp khoan trên sàn đạo.
Sử dụng thùng chụp có đáy, thùng chụp hạ trước khi khoan cọc vì nó có vai trò định vị lỗ khoan đồng thời làm khung
dẫn hướng để hạ các ống chống vách. Tấm đáy của thùng chụp sẽ để lại dưới đáy bệ c.n các tấm bên sẽ tháo dỡ vì vậy
cấu tạo từ các tấm lắp ghép ( xem mục 3.5.5). Kích thước thùng chụp căn cứ vào kích thước của bệ vì
thùng chụp c.n sử dụng làm ván khuôn để đổ bê tông bệ móng.
Sau khi thi công xong các cọc, chuyển máy khoan ra khỏi mặt bằng thi công, cho thợ lặn lặn xuống bịt kín khe hở giữa
thành ống vách và lỗ khoét dưới đáy thùng chụp, những khe này thực ra không lớn nếu chế tạo bộ phận dẫn hướng chính
xác thì có thể để ống vách vừa khít với lỗ khoét và không phải trám kín khe hở này.
Đổ lớp bê tông bịt đáy dày 1,0m bằng biện pháp rút ống thẳng đứng, lớp này có tác dụng làm kín nước và làm đối trọng
để chống đẩy nổi thùng chụp khi bơm cạn nước trong thùng.
Khi bơm cạn nước, thùng chụp chịu một lực đẩy nổi bằng với thể tích nước mà thùng chiếm chỗ. Lực đẩy nổi này sau
khi trừ đi trọng lượng thùng , trọng lượng lớp bịt đáy và lực dính bám của bê tông bịt đáy với các thành ống chống vách thì
vẫn c.n rất lớn. Để an toàn nên hàn hệ thống neo vào xung quanh thành ống vách liên kết đáy
thùng với các đầu cọc.