Tải bản đầy đủ
Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:

Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:

Tải bản đầy đủ



Các loại ngoại hối khác

-Tiêu chí đánh giá quy mô dự trữ: có 3 tiêu chí chính.
Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và giá trị một tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo.
Nói cách khác, quy mô dự trữ ngoại hối được tính bằng số tuần nhập khẩu. Tiêu chí
này cho thấy mức độ hỗ trợ thanh toán quốc tế của dự trữ ngoại hối. Theo đánh giá của
IMF, dự trữ ngoại hối có quy mô tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu thì quốc gia
sẽ được coi là đủ dự trữ ngoại hối.
Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và nợ ngắn hạn nước ngoài
Tiêu chí này cho thấy khả năng đối phó của quốc gia khi có hiện tượng tấn công ngoại
tệ hoặc rút tiền ra nước ngoài.
Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và mức cung tiền rộng
Tiêu chí này cho thấy khả năng can thiệp tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ương. Tỷ
lệ từ 10% đến 20% được coi là đủ dự trữ ngoại hối.
*Mục sai số
Do khó có thể ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi
chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong
cán cân thanh toán như là mục sai số.
**

Các nước thường sử dụng các biện pháp sau đây để cải thiện cán cân thanh

toán quốc tế khi bi thâm hụt:
Vay nợ nước ngoài: Đây là biện pháp truyền thống và phổ biến. Biện pháp này
thông qua các nghiệp vụ qua lại với các ngân hàng đại lý ở nước ngoài để vay ngoại tệ
cần thiết nhằm bổ sung thêm lượng ngoại hối cung cấp cho thị trường. Ngày nay việc
vay nợ không còn giới hạn bởi quan hệ giữa ngân hàng nước này với nước kia, mà nó
đã được mở rộng ra nhiều ngân hàng khác, đặc biệt là với các tổ chức tài chính tín
dụng quốc tế trên cơ sở các hiệp định đã được ký giữa các bên.
Thu hút tư bản ngắn hạn từ nước ngoài: Ngân hàng Trung ương của các nước
thường áp dụng những chính sách tiền tệ, tín dụng cần thiết thích hợp để thu hút được
nhiều tư bản ngắn hạn từ các thị trường nước ngoài di chuyển đến nước mình, làm
tăng thêm phần thu nhập ngoại tệ của cán cân thanh toán, thu hẹp khoản cách về sự
thiếu hụt giữa thu và chi trong cán cân thanh toán đó. Trong số những chính sách tiền
tệ tín dụng được sử dụng để thu hút tư bản vào, thì chính sách chiết khấu được sử dụng
phổ biến hơn.
Page 13

Để thu hút được một lượng tư bản từ thị trường nước ngoài vào nước mình thì Ngân
hàng Trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu, dẫn đến lãi suất tín dụng trên thị trường
tăng lên làm kích thích tư bản nước ngoài dịch chuyển vào. Thế nhưng biện pháp này
chỉ góp phần tạo ra sự cân bằng cho cán cân thanh toán trong trường hợp bội chi
không lớn lắm và cũng chỉ giải quyết nhu cầu tạm thời.
Cần lưu ý rằng, biện pháp nâng lãi suất chiết khấu chỉ có hiệu quả khi tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội...của quốc gia đó tương đối ổn định, tức là ít rủi ro trong đầu tư tín
dụng.
Phá giá tiền tệ: Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, một số nước tư
bản đã sử dụng chính sách phá giá tiền tệ như là một công cụ hữu hiệu, góp phần cân
bằng cán cân thanh toán quốc tế và bình ổn tổng giá hối đoái.
Phá giá tiền tệ là sự công bố của Nhà nước về sự giảm giá đồng tiền của nước
mình so với vàng hay so với một hoặc nhiều đồng tiền nước khác. Phá giá tiền tệ để
tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu từ đó cải thiện điều kiện cán
cân thanh toán.
Nhưng chúng ta cũng cần nhận thấy rằng, phá giá tiền tệ chỉ là một trong những
yếu tố có tính chất tiền đề cho việc đẩy mạnh xuất khẩu mà thôi. Còn kết quả hoạt
động xuất khẩu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như năng lực sản xuất, khả năng
cạnh tranh... trên thị trường quốc tế.
Như vậy, có nhiều biện pháp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, song việc lựa
chọn phương pháp nào thì phải xuất phát từ kết quả phận tích những nguyên nhân chủ
yếu gây nên tình trạng thiếu hụt của cán cân, phải xem xét tình hình cụ thể, toàn diện
của quốc gia đó cũng như tình hình quốc tế có liên quan để lựa chọn và sử dụng biện
pháp thích hợp và hữu hiệu.

Page 14

Chương 2: Đánh giá cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thời kì 2003 -2007
A.Nhận xét chung tình hình kinh tế Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển
vượt bậc, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều mặt yếu kém, đã trải qua hầu hết các loại
lạm phát như lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986-1988 với tỷ lệ lạm phát trung bình
năm đạt 463,9%/năm; lạm phát cao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệ lạm phát bình
quân năm tương ứng là 46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ 1996 - 1999 và 2001 2003 với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 4,4%/năm và 4,3%/năm; thậm chí là giảm phát
trong năm 2000 (-0,6%).
Mặc dù gặp những tác động bất lợi của kinh tế thế giới và thiên tai, dịch bệnh ở
trong nước, nhưng kinh tế-xã hội Việt Nam đã có nhiều thành tích đáng khích lệ về
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư, tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảm nghèo...; đồng thời cũng
còn một số hạn chế, bất cập.
Thành tích nổi bật là tăng trưởng kinh tế cao nhất so với tốc độ tăng của 12 năm
trước đó, đạt được mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các
nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy
mô kinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình
quân đầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839
USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoát
khỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới.
Cùng với tăng trưởng kinh tế cao là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực. Theo nhóm ngành kinh tế, nông, lâm nghiệp-thủy sản vốn tăng thấp, năm nay lại
gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh lớn nên tăng thấp và tỷ trọng trong GDP của
nhóm ngành này tiếp tục giảm (hiện chỉ còn dưới 20%). Công nghiệp-xây dựng tiếp
tục tăng hai chữ số, cao nhất trong ba nhóm ngành, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục
tăng (hiện đạt gần 42%), phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Dịch vụ được mở cửa rộng hơn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), nên đã tăng cao hơn tốc độ chung, nhờ đó đã chặn được
sự sút giảm trong tỷ trọng GDP của nhóm ngành này trong thời kỳ 1995 - 2004 và cao
hơn năm trước. Theo thành phần kinh tế, kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là kinh tế tự
Page 15

nhiên, tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã
cao lên và hiện đã đạt cao hơn khu vực nhà nước (46% so với dưới 37%). Khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao hơn tốc độ chung, nên tỷ trọng trong GDP
cũng cao lên (hiện đạt trên 17%). Khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài có tổng tỷ trọng trong GDP cao hơn, lại có tốc độ tăng cao hơn khu vực
nhà nước, nên đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế chung, phù hợp với đường
lối đổi mới, mở cửa, hội nhập.
Tăng trưởng kinh tế cao đạt được do sự tác động của cả hai yếu tố đầu vào và
đầu ra.Ở đầu vào, vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 40,6%, là tỷ lệ thuộc loại cao
nhất từ trước tới nay, cũng thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới (có chăng chỉ thấp thua tỷ lệ trên 44% của nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa - tỷ lệ góp phần làm cho kinh tế nước này liên tục trong nhiều năm tăng trưởng
hai chữ số). Đáng lưu ý, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước
trong tổng vốn đầu tư phát triển tiếp tục giảm xuống, thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu
vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên (đạt 38%); hiệu quả đầu tư của khu vực này lại
cao gấp đôi khu vực kinh tế nhà nước. Vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục mới ở cả ba
nguồn. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp đạt được sự vượt trội cả về tổng số vốn đăng ký
mới và bổ sung (20,3 tỉ); cả về quy mô bình quân một dự án (trên 14 triệu USD/dự
án); cả về cơ cấu đầu tư vào nhóm ngành dịch vụ; cả về lượng vốn thực hiện (4,6 tỉ
USD). Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cuối năm 2006 (cam kết cho năm 2007)
đạt mức kỷ lục (4,4 tỉ USD); cuối năm 2007 (cam kết cho năm 2008) còn đạt kỷ lục
cao hơn (trên 5,4 tỉ USD). Lượng vốn giải ngân năm nay đạt 2 tỉ USD, vừa vượt kế
hoạch, vừa đạt cao nhất từ trước tới nay. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp năm nay ước đạt
5,6 tỉ USD, cao gấp 4,3 lần năm trước.
Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay giảm xuống rất thấp và lạm phát ở mức rất cao (trên
20%). Chỉ số tăng trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng
trưởng của Việt Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua. Mục tiêu tăng trưởng GDP
năm 2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là 8,5- 9%, Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9%. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đã chậm
lại so với tốc độ của quý 1/2007. Ở đầu ra, cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng
cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và danh thu dịch vụ tiêu dùng tăng tới gần 23%; nếu
loại trừ yếu tố tăng giá bình quân năm nay so với năm trước (8,3%), thì vẫn còn cao
Page 16