Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG I : CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

CHƯƠNG I : CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

Tải bản đầy đủ

+ Tổng cung bao gồm tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các doanh
nghiệp sẽ sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản
xuất và chi phí sản xuất đã cho. Tổng cung liên quan đến khái niệm sản lượng tiềm
năng. Đó là sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất ra trong điều kiện toàn
dụng nhân công, mà không gây nên lạm phát. Sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào việc
sử dụng các yếu tố của sản xuất, đặc biệt là lao động.
+ Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ ( tổng sản phẩm quốc
dân ) mà các tác nhân trong nền kinh tế sẽ sử dụng tương ứng với mức giá cả, thu nhập
và các biến số kinh tế khác đã cho
III. Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô:


Mục tiêu

- Mục tiêu sản lượng:
Đạt đựoc sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng
Tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.
- Mục tiêu việc làm:
Tạo đựoc nhiều việc làm tốt
Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp
- Mục tiêu ổn định giá cả:
Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do.
- Mục tiêu kinh tế đối ngoại:
Ổn định tỷ giá hối đoái
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
- Phân phối công bằng: Đây là một trong những mục tiêu quan trọng.
Lưu ý:


Những mục tiêu trên thể hiện trạng thái lý tưởng và các chính sách kinh tế vĩ mô

chỉ có thể tối thiểu hoá các sai lệch thực tế so với các trạng thái lý tưởng.


Các mục tiêu trên thường bổ sung cho nhau, trong chừng mực chúng hướng vào

đảm bảo tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế. Song trong từng trường hợp có thể
xuất hiện những xung đột, mâu thuẫn cục bộ.


Về mặt dài hạn thứ tự ưu tiên giải quyết các mục tiêu trên cũng khác nhau giữa

các nước. Ở các nước đang phát triển, tăng trưởng thường có vị trí ưu tiên số 1.


Công cụ:
Page 3

Để đạt được những mục tiêu trên kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước có thể sử dụng nhiều
công cụ chính sách khác nhau. Mỗi chính sách lại có công cụ riêng biệt. Dưới đây là
một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển thường sử dụng trong lịch sử lâu dài và đa dạng của họ.
* Chính sách tài khoá: Là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng
để tác động đến nền kinh tế hướng nền kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong
muốn.
-

Công cụ:

Chi tiêu của chính phủ (G)
Thuế (T)

-

Đối tượng:

Quy mô của chi tiêu công cộng
Chi tiêu của khu vực tư nhân
Sản lượng

-

Mục tiêu:
Ngắn hạn: ổn định nền kinh tế
Dài hạn : hướng nền kinh tế đến sự phát triển lâu dài
* Chính sách tiền tệ: tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tế tới mức sản

lượng và việc làm mong muốn.
-

Công cụ:

Mức cung tiền (MS)
Lãi suất (i)

-

Đối tượng:

Tác động đến đầu tư (I)

Chi tiêu của hộ gia đình (C)
Tiết kiệm (S)
Tỷ giá hối đoái (e)
-

Mục tiêu: (giống chính sách tài khoá)

* Chính sách thu nhập: bao lạm phát gồm các biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm
tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả và để kiềm chế.
-

Tiền lương danh nghĩa (Wn)

-

Đối tượng: Chi tiêu của các hộ gia đình (C)
Tổng cung ngắn hạn (SAS)

-

Mục tiêu:

Kiềm chế lạm phát

Page 4

* Chính sách kinh tế đối ngoại: Nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, giữ cho thâm hụt cán
cân thanh toán quốc tế ở mức có thể chấp nhận được.
-

Công cụ:

Thuế quan

Hạn ngạch
Tỷ giá hối đoái
-

Đối tượng:

-

Mục tiêu:

Hoạt động xuất-nhập khẩu và đầu tư nước ngoài

Chống suy thoái, lạm phát
Ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế.
Một số khái niệm và mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
- Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế:


Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà

một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định.


Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế.



Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa.



Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế.

- Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản lượng:
+ Nền kinh tế thị trường của các nước công nghiệp phát triển tiêu biểu thường phải
chống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế. Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự đình trệ sản
xuất, thất nghiệp và lạm phát.
+ Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lên của
sản lượng tiềm năng.
+ Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sản lượng.
Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế
-Tăng trưởng và thất nghiệp:
Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân
quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Như vậy tăng trưởng nhanh thì
thất nghiệp có xu hướng giảm đi
- Tăng trưởng và lạm phát:
Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng
trưởng cao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại. Song mối quan hệ giữa
Page 5

tăng trưởng và lạm phát như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Vấn đề này
kinh tế vĩ mô chưa có câu trả lời rõ ràng.
- Lạm phát và thất nghiệp:
Các nhà kinh tế cho rằng, trong thời kỳ ngắn thì lạm phát càng cao, thất nghiệp
càng giảm. Trong thời kỳ dài chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất nghiệp có mối
quan hệ “ trao đổi”. Trong thời kỳ dài tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc một cách cơ bản vào
tỷ lẹ lạm phát trong suốt thời gian đó
Trong điều kiện nước ta, quá trình chuyển đổi kinh tế chưa hoàn tất, các yếu tố
thị trường còn non yếu và chưa phát triển đồng bộ, Nhà nước đóng vai trò quan trọng
trong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy khi nghiên cứu những mối quan hệ
này trong điều kiện nước ta cần chú ý những đặc điểm trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể, tránh rập khuôn máy móc
A2. Vị trí của môn học trong chương trình học đại học
Kinh tế học vĩ mô là một trong hai bộ phận hợp thành kinh tế học.
Trong chương trình học đại học kinh tế học vĩ mô có vai trò quan trọng trong
việc tiếp tục bổ sung cho kinh tế học vi mô, đồng thời trang bị cho sinh viên tầm nhìn
kinh tế sâu rộng hơn trên phạm vi kinh tế quốc gia với vai trò của một nhà hoạch định
kinh tế cho đất nước. Vì vậy, việc học tập và nghiên cứu kinh tế vĩ mô là cần thiết với
tất cả sinh viên nói chung, đặc biệt hơn là với sinh viên học kinh tế, để có một kiến
thức và tầm nhin tổng quát về kinh tế trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay.
Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với sinh viên
vì tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của sinh viên. Mức việc làm
và mức thất nghiệp chung sẽ quyết định khả năng tìm kiếm việc làm sau của chúng ta
sau khi tốt nghiệp, khả năng thay đổi công việc và khả năng thăng tiến trong tương lai.
Mức lạm phát sẽ ảnh hưởng đến lãi suất mà chúng ta có thể nhận được từ khoản tiết
kiệm của chúng ta trong tương lai.
Kinh tế vĩ mô sẽ giúp cung cấp cho chúng ta những nguyên lý cần thiết để hiểu
rõ tình hình kinh tế của đất nước, đánh giá các chính sách kinh tế mà Chính phủ đang
thực hiện và dự đoán các tác động của những chính sách đó tới đời sống của chúng ta
như thế nào?
Trong bối cảnh nền kinh tế Viêt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới, đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó tất
Page 6

cả hàng hóa và dịch vụ được lưu chuyển qua biên giới các quốc gia.Lần đàu tiên mọi
người đều chơi theo một luật chơi chung “ Luật chơi của kinh tế thị trường toàn cầu “
Đây là một thách thức rất lớn. Người thắng sẽ có lợi nhuận ,thu nhập cao, thành đạt
trong cuộc sống và kẻ thua cuộc sẽ tụt lại đằng sau nhiều khi còn dẫn đến phá sản. Vì
vậy , vị trí bộ môn kinh tế trong các trường đại học có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nó trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kinh tế học. về kinh tế vi
mô hay kinh tế vĩ mô. Nó giúp cho sinh viên làm quen với các khái niệm kinh tế.
B. Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế và các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân
thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch
kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định.
Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú
trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng
hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự
thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào
bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước
cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có.
Các yếu tố ảnh hưởng đến CCTTQT đó là: cán cân thương mại, lạm phát, thu
nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái, sự ổn định chính trị của đất nước, khả năng trình độ
quản lý kinh tế của chính phủ.
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993,
cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm 4 thành phần sau:
* Tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của
một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú trong
nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư
trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống
kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của
người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng
mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ.
Page 7

Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do IMF
soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm:
i. Cán cân thương mại hàng hóa
1. Xuất khẩu
2. Nhập khẩu
ii. Cán cân thương mại phi hàng hóa
1. Cán cân dịch vụ
1. Vận tải
2. Du lịch
3. Các dịch vụ khác
2. Cán cân thu nhập
1. Kiều hối
2. Thu nhập từ đầu tư
iii.

Các chuyển khoản
Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp

chung vào trong tính toán này.
Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng
nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay
tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể
chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu
ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản
vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán
quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của
một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức
chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0,
thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán
cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở
trạng thái cân bằng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:

Page 8

- Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh
hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên
(MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ,
MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2
đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa
sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng
tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ:
nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì
người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt
hàng này cũng tăng.
- Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia
khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu
phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong
các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
- Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc
tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập
khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với
người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu
và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ
giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và
xuất khẩu ròng tăng lên. Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và
một bộ ấm chén tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với tỷ
giá hối đoái 2.000 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá
66.000 VND trong khi bộ ấm chén tương đương của Việt Nam là 70.000 VND. Trong
trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu
VND mất già và tỷ giá hối đoái thay đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm
chén Trung Quốc sẽ được bán với giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so
với ấm chén sản xuất tại Việt Nam.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại.
Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị
dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại
Page 9

mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý
là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại
trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân
thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ. Cùng với tài khoản
vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cân thanh toán.
Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay
khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia
nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý
quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một
cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính
bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản
vãng lai không lành mạnh.


Tài khoản vốn:

Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính.
Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán
của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như
bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú
trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước
ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người
sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng).
Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai.Tài khoản tài
chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn ghi lại những giao dịch
về tài sản tài chính.

Page 10

-

Tài khoản vốn và lãi suất

Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất trong nước
r. Khi lãi suất tăng lên mức r', tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi suất hạ xuống
mức r, tài khoản vốn trở nên thâm hụt. Vì vốn có quan hệ mật thiết với lãi suất. Vì thế,
cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với lãi suất.

Page 11

Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế dòng vốn vào
sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản vốn, nhờ đó, được
cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi.
Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và, khi
lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện.
-

Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:

Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá hối
đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng lên. Hậu
quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá (tỷ giá tăng),
tài khoản vốn sẽ được cải thiện
Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ là
lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc
gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng
ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v...) nhằm
mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia.
Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm
cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên.
Dự trữ ngoại hối nhà nước
Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối hoặc dự trữ ngoại tệ là
lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc
gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng
ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v...) nhằm
mục đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia.
-

Hình thức dự trữ

Ngoại hối có thể được dự trữ dưới hình thức:


Tiền mặt



Số dư của tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài



Hối phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của chính phủ nước ngoài,

ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế


Vàng
Page 12