Tải bản đầy đủ
3 Phân tích tình hình tài chính của công ty qua các tỉ số tài chính

3 Phân tích tình hình tài chính của công ty qua các tỉ số tài chính

Tải bản đầy đủ

HeaderKHÓA
PageLUẬN
66 ofTỐT
161.
NGHIỆP

GVHD: Ths NGÔ NGỌC CƢƠNG

3.3.1 Về khả năng thanh toán
Tỉ số thanh toán hiện thời
- Năm 2008: Khả năng thanh toán của công ty ở năm 2008 cao hơn so với năm 2007,
cụ thể ở đầu năm 1đ nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 0,485đ tài sản lưu động thì đến
cuối năm 1đ nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,082đ tài sản lưu động. Điều này cho
thấy khả năng thanh toán của công ty được cải thiện tốt.
- Năm 2009: Hệ số khả năng thanh toán hiện thời của công ty tăng lên 1,747 cho thấy
khả năng thanh toán của công ty đã được cải thiện tốt. Nguyên nhân tăng là do tài sản
lưu động tăng với tốc độ tăng là 160.59%, trong khi đó nợ ngắn hạn lại tăng với tỷ lệ
thấp hơn là 61.37%. Qua số liệu phân tích trên có thể cho ta thấy khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn của công ty ngày càng có chiều hướng tốt. Tuy nhiên để xác định
khả năng thanh toán của công ty ở mức độ cao hơn, an toàn hơn ta xác định hệ số
thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
- Thể hiện khả năng doanh nghiệp chuyển nhanh thành tiền các loại tài sản lưu động
để trả nợ.
- Năm 2007 hệ số thanh toán nhanh bằng 0.359 cho thấy khả năng thanh toán của công
ty rất thấp.
- Năm 2008 hệ số này tăng lên 1.075: công ty đã cải thiện được tình hình tài chính. Sự
tăng lên này là do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản phải thu tăng với
tốc độ rất lớn , trong khi đó nợ ngắn hạn lại tăng chậm.
- Năm 2009, hệ số này giảm còn 0.611 nguyên nhân là do tiền giảm, nợ ngắn hạn lại
tăng lên đến 61.37%.
Nhìn chung, tỷ số thanh toán hiện thời và thanh toán nhanh của năm 2008, 2009 đều
cao hơn năm 2007. Điều này cho thấy công ty luôn trong tình trạng sẵn sàng trả các
khoản nợ khi chúng đến hạn mà không cần phải tiêu thụ tồn kho. Tuy nhiên, nếu giá trị
của hệ số này quá cao thì điều này lại không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đã đầu tư
quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu của doanh nghiệp. TSLĐ dư thừa thường
không tạo thêm doanh thu. Tỷ lệ này nếu lớn hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh

Footer Page 66 of 161.

57

HeaderKHÓA
PageLUẬN
67 ofTỐT
161.
NGHIỆP

GVHD: Ths NGÔ NGỌC CƢƠNG

nghiệp tương đối khả quan, doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu thanh toán
nhanh. Tuy nhiên, hệ số này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động.
3.3.2 Về cơ cấu tài chính
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần :
Năm 2007 là 591.2% cho thấy rằng trong năm các nhà cho vay đã tài trợ nhiều
hơn vốn cổ phần gần 6 lần ,điều này dường như công ty đã sử dụng một lượng vốn vay
đáng kể, tuy nhiên đây chủ yếu là những khoản vay phải trả ngắn hạn. Năm 2008 tỷ số
này giảm đột ngột xuống chỉ còn 79.744% ,là do doanh nghiệp đã tăng nguồn vốn tự
có và gia tăng nguồn vốn từ lợi nhuận để lại, cụ thể là tăng vốn điều lệ của công ty
bằng cách cổ phần hóa doanh nghiệp vào cuối năm 2007 đầu năm 2008. Năm 2009 là
148.02% , khi việc cổ phần hóa đã ổn định, công ty tiếp tục gia tăng nợ phải trả để đầu
tư cho các dự án sắp triển khai của công ty.
Khả năng thanh toán lãi vay :
Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo của công ty đối với nợ vay
dài hạn. Nó cho biết khả năng thanh toán lãi của công ty và mức độ an toàn có thể có
đối với người cung cấp tín dụng. Thông thường, hệ số khả năng thanh toán lãi vay > 2
được xem là thích hợp để đảm bảo trả lãi dài hạn. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc
vào xu hướng thu nhập lâu dài của doanh nghiệp. Khả năng này đã giảm nhiều từ năm
2007 sang năm 2008 từ 250.59% xuống còn 101.431%, đến năm 2009 chỉ còn
18.850% cho thấy khả năng trả lãi vay của công ty đã giảm dần, khả năng sinh lợi của
vốn không cao, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
3.3.3 Các tỷ số về hoạt động
Khi phân tích khả năng thanh toán cần thiết phải xem xét số vòng quay các
loại hàng tồn kho và các khoản phải thu, bởi vì tốc độ luân chuyển nhanh hay chậm
của nó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.
Vòng quay các khoản phải thu: Hệ số này càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các
khoản phải thu của khách hàng càng nhanh. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao có thể
ảnh hưởng đến mức tiêu thụ vì hệ số này quá cao đồng nghĩa với kì hạn thanh toán
ngắn, không hấp dẫn khách mua hàng. Nhìn vào bảng tỉ số, ta thấy vòng quay này
giảm dần qua các năm, năm 2007 :3.103(lần); năm 2008: 0.850(lần); năm 2009: 0.494
(lần). Chứng tỏ công ty đã tăng doanh thu bán chịu để mở rộng thị trường , để gia tăng
cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành khác.

Footer Page 67 of 161.

58

HeaderKHÓA
PageLUẬN
68 ofTỐT
161.
NGHIỆP

GVHD: Ths NGÔ NGỌC CƢƠNG

Số vòng quay tồn kho: Giảm dần qua các năm. Năm 2007 là 11.473 (lần) là
năm cao nhất trong 3 năm gần đây vì đây là năm công ty đang trong giai đoạn cuối xây
dựng các chung cư cao cấp nên việc sử dụng hàng tồn kho là nguyên vật liệu đã giảm
xuống, vòng quay hàng tồn kho diễn ra nhanh hơn. Đến năm 2008 là 10.942 (lần) vì
đây là năm mà việc xây dựng 2 công trình căn hộ cao cấp đã hoàn thành, việc tích trữ
nguyên vật liệu giảm xuống . Qua năm 2009 tỉ số này là 0.277 (lần) với việc khởi công
xây dựng Công trình Hoàng Anh2, Trần Xuân Soạn, Quận 7 nên việc quay vòng chậm
hơn nhiều so với 2 năm trước . Vòng quay hàng tồn kho cao thì công ty được đánh giá
hoạt động có hiệu quả, đã giảm được vốn đầu tư cho hàng hóa dự trữ, rút ngắn được
chu kỳ chuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt và giảm bớt nguy cơ hàng hóa tồn kho
trở thành hàng ứ đọng. Nhưng với một công ty xây dựng, thì việc tích trữ nguồn
nguyên vật liệu là cần thiết nhất là trong thời gian giá cả nguyên vật liệu đang biến
động mạnh như hiện nay.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ : Dùng đo lường việc sử dụng tài sản cố định như thế
nào, tỷ số này càng cao càng tốt. Ta thấy năm 2007 là 0.475 (lần) , năm 2008 là 0.172
(lần), năm 2009 là 0.092 (lần) cho thấy việc sử dụng TSCĐ của công ty là thấp.
Nguyên nhân là do công ty đã không có biện pháp tích cực trong việc nâng cao năng
suất của TSCĐ.Đồng thời trong các năm về sau, công ty ngày càng mở rộng quy mô
đầu tư thêm nhiều dự án mới chiếm tỷ trọng lớn và những dự án này còn trong giai
đoạn thực hiện.
3.3.4 Tỷ suất về doanh lợi
3.3.4.1. Chỉ tiêu doanh lợi tiêu thụ ROS (ROS: Return on sale) : Phản ánh
mức sinh lời trên doanh thu. Chỉ tiêu này rất đáng quan tâm, nhưng sẽ có ý nghĩa hơn
khi so sánh với mức lợi tức sau thuế của năm trước. Mức doanh lợi tiêu thụ năm 2008
là 34.5% , năm 2009 là 93.69% cao hơn rất nhiều so với các năm trước. Do chi phí
hoạt động của công ty thấp vì sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có của công ty. Đó là một
lợi thế để công ty có thể đưa ra mức giá cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng
ngành.doanh lợi tiêu thụ tăng lên cũng là do doanh thu tăng lớn hơn sự tăng của chi
phí chung. Đây là những chi phí ngoài sản xuất, phản ảnh chất lượng công tác quản lý
của doanh nghiệp đã có những biện pháp quản lí hiệu quả nhằm tiết kiệm chi phí để
gia tăng sinh lời.

Footer Page 68 of 161.

59

HeaderKHÓA
PageLUẬN
69 ofTỐT
161.
NGHIỆP

GVHD: Ths NGÔ NGỌC CƢƠNG

3.3.4.2. Chỉ tiêu doanh lợi tài sản ROA (ROA: Return on asset) : Phản ánh
kết quả hoạt động kinh doanh, phản ánh hiệu quả của các tài sản được đầu tư, khả năng
sinh lời của đầu tư. Doanh lợi tài sản của công ty năm 2007, 2008, 2009 chỉ tiêu này
đều tăng chứng tỏ việc sử dụng tài sản của công ty là rất tốt. Do năm 2007 công ty đã
đưa vào sử dụng khu chung cư cao cấp Lê Văn Lương ở Quận 7, TpHCM. Năm 2008
hoàn thành và thu được lợi nhuận từ công trình Trần Xuân Soạn .Năm 2009 có công
trình Hoàng Anh River View
3.3.4.3. Chỉ tiêu doanh lợi vốn tự có ROE(ROE: Rerurn on equity) : Phản ảnh
hiệu quả của vốn tự có ,đo lường mức sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu. Những nhà
đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này vì họ quan tâm đến lợi nhuận họ nhận được
so với vốn họ bỏ ra. Năm 2007 chỉ tiêu này là 34.64%, vẫn cao vượt bậc so với các
năm trước và giảm dần ở năm 2008 là 10.7%., đến năm 2009 lại tăng lên 21.31%. Cho
thấy công ty cũng đã cố gắng để tăng lợi nhuận bổ sung cho nguồn vốn chủ sở hữu.
Nhận xét tổng quát: Qua các tỷ số tài chính đã được tính ta có thể thấy bức
tranh tổng quát về tình hình tài chính của công ty qua bảng. Các tỷ số qua các năm
biến động mạnh do mỗi năm có một mục tiêu và chiến lược khác nhau. Đáng chú ý
nhất là năm 2008 với những tỷ số tăng vượt bậc. Nguyên nhân chủ yếu là do công ty
đã tiến hành cổ phần hóa, tăng vốn điều lệ nên việc đầu tư vào các dự án ngày càng
thuận lợi và đạt hiệu quả cao
3.4. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
3.4.1. Nhận xét
3.4.4.1. Ƣu điểm
Kinh doanh bất động sản là một loại hình kinh doanh phụ thuộc vào yếu tố môi
trường, tâm lý, sự chiếm hữu sử dụng và quan trọng nhất là cơ chế chính trị của quốc
gia. Năm 2008, dự kiến sẽ có khoảng 20 tỉ USD đổ vào thị trường bất động sản. Theo
Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch- Đầu tư, tính hết quý I/2008, riêng nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào thị trường này khoảng 4,6 tỉ USD, chiếm 89,9%
trong tổng số 5,4 tỉ USD FDI.
Trên cơ sở phân tích báo cáo tài chính của công ty, ta nhận thây công ty đã đạt được
kêt quả hoạt động tốt, khả năng tăng trưởng cũng như khả năng thanh toán tốt. Đồng

Footer Page 69 of 161.

60

HeaderKHÓA
PageLUẬN
70 ofTỐT
161.
NGHIỆP

GVHD: Ths NGÔ NGỌC CƢƠNG

thời, công ty cũng đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, với những
chiến lược kinh doanh mới, những dự án đầu tư bất động sản mang tính khả thi cao.
tư dài hạn.
3.4.1.2. Nhƣợc điểm
Chi phí nguyên liệu vật liệu của ngành xây dựng tăng lên dẫn đến tăng chi phí giá
vốn hàng bán, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Bên cạnh đó,
HAGL là thương hiệu mạnh, chiến lược phát triển đa ngành và liên kết dọc một cách
nhanh chóng của công ty có thể dẫn đến những khó khăn trong công tác quản trị, điều
hành, đặc biệt là nguồn nhân lực cấp .
Tốc độ thi công công trình còn chậm, việc áp dụng máy móc kĩ thuật hiện đại vào
công trình còn nhiều hạn chế.
Ngoài ra mức lãi suất cao cũng gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công
ty vì hiện nay công ty đang áp dụng các chương trình hỗ trợ khách hàng vay vốn ngân
hàng để mua căn hộ của Hoàng Anh nhưng do lãi suất cao nên lượng khách hàng có
nhu cầu về vay vốn gặp nhiều khó khăn về tài chính trong việc chi trả hàng tháng.
3.4.2. Kiến nghị
3.4.2.1. Về phƣơng hƣớng phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.
Hiện nay Công ty đã và đang xây dựng một số công trình ở Thành phố Hồ Chí
Minh và coi đây là thị trường đầy tiềm năng, nên trong thời gian sắp tới công ty tiếp
tục đẩy mạnh tình hình kinh doanh vào thị trường này bằng việc tiếp tục đầu tư vào
một số dự án căn hộ cao cấp và văn phòng cho thuê tại Quận 7, Nhà Bè, Tân Bình và
một số quận huyện khác…Công ty đang cố gắng từ nay đến năm 2010, công ty sẽ xây
dựng được 1.000.000 m2 sàn xây dựng cho căn hộ cao cấp và văn phòng cho thuê để
đáp ứng nhu cầu hiện nay.Đồng thời trở thành một trong những công ty xây dựng và
kinh doanh bất động sản hàng đầu ở Việt Nam và còn mở rộng kinh doanh sang một số
nước trong khu vực Đông Nam Á
3.4.2.2. Về phƣơng hƣớng nâng cao năng lực tài chính cho công ty
- Xác định chính sách tài trợ, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý.

Footer Page 70 of 161.

61