Tải bản đầy đủ
4 Phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong tiền lương

4 Phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong tiền lương

Tải bản đầy đủ

28

học vấn tối ưu, quyết định dừng việc học khi mức lợi tức biên bằng với suất chiết khấu
kỳ vọng của họ. Đây là qui tắc dừng nhằm tối đa hóa giá trị hiện tại của tiền lương.
Mô hình học vấn với giả thiết bỏ qua yếu tố kinh nghiệm, được Mincer diễn dịch
toán học cho thấy logarithm của mức lương là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học:
ln {Y_S} = ln {Y_0} + r*S

(3.1)

Trong đó:
S: là số năm đi học
{Y_0}: là tiền lương hàng năm của người không có đi học
{Y_S}: là tiền lương hàng năm của người có S năm đi học
r: tỉ suất chiết khấu
Hệ số r của S biểu thị mức độ gia tăng tiền lương cũng chính là tỷ suất thu hồi nội
bộ. Đây là dạng thô sơ nhất về hàm tiền lương của cá nhân. Mô hình học vấn trở nên
đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là quá trình đào tạo sau khi thôi học
và sự đào tạo này là có chi phí. Diễn dịch toán học của hàm Mincer đã quy đổi yếu tố
kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn tới hàm tiền lương phụ thuộc và số năm đi
học lẫn số năm kinh nghiệm, cho phép ước lượng các hệ số bằng phương pháp kinh tế
lượng. Phương trình (3.1) được viết lại như sau:
ln {mức lương} = ߙ 0 + ߙ 1Số năm đi học + ߙ 2Kinh nghiệm + ߙ 3Kinh nghiệm2 + ߝ
(3.2)
Trong đó:
S: là số năm đi học
t: là số năm kinh nghiệm. t=0,1,2,…
Ui: là sai số ngẫu nhiên
Các giả định là:
Lương chịu ảnh hưởng của giáo dục và kinh nghiệm theo chiều hướng thuận,
nghĩa là người có nhiều năm đi học hơn sẽ có lương cao hơn và người có kinh nghiệm
làm việc nhiều hơn sẽ có lương cao hơn. Hay hệ số của S và t >0

29

Kinh nghiệm hiệu ứng tác động biên giảm dần, có nghĩa là ở những người có
nhiều kinh nghiệm rồi thì mức độ tăng lương khi tăng thêm kinh nghiệm làm việc sẽ ít
hơn so với những người có ít kinh nghiệm. Hay hệ số của t2<0.
Ngoài ra có ý kiến cho rằng có sự khác biệt lương của lao động nam và lao động
nữ là do bị phân biệt giới, cụ thể mức lương của lao động nam sẽ cao hơn lao động nữ
dù cùng có tay nghề như nhau và công việc tương tự nhau.
3.4.2 Mô hình thực nghiệm và biến số quan sát
3.4.2.1 Mô hình thực nghiệm
Mô hình được phát triển và mở rộng từ phương trình (3.2) cho phép ước lượng
thêm nhiều biến độc lập bằng phương pháp kinh tế lượng. Phương trình được viết lại
như sau:
ln {mức lương} = ߙ 0 + ߙ 1S + ߙ 2t + ߙ 3t2 + các biến khác + ߝ

(3.3)

Thực hiện một phép hồi quy bình phương tối thiểu, trong đó sử dụng logarithm
tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học cũng như số năm kinh
nghiệm và bình phương của nó làm các biến độc lập. Hệ số ước lượng cho số năm đi
học sẽ cho chúng ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học tăng
thêm một năm. Thông qua giả định rằng các cá nhân không khác nhau về năng lực bẩm
sinh, hệ số ước lượng cho số năm đi học có thể được lý giải là suất sinh lợi của việc đi
học. Hệ số ước lượng cho số năm công tác sẽ xác định tác động ước tính của kinh
nghiệm tích lũy theo thời gian đối với tiền lương. Hệ số dương của biến số năm kinh
nghiệm và hệ số âm của biến số năm kinh nghiệm bình phương có nghĩa là khi gia tăng
kinh nghiệm giúp làm tăng tiền lương nhưng với tốc độ giảm dần.
3.4.2.2 Mô hình tương tác
Phân tích tác động khác nhau của các biến độc lập, tác động của các biến tương
tác giữa biến độc lập với biến giới tính lên tiền lương của người lao động, nghiên cứu
này sử dụng mô hình hồi quy tương tác.Bằng việc tiến hành hồi quy logarithm tiền
lương theo giờ giữa các biến độc lập với biến giới tính sau khi loại bỏ các biến không

30

có ý nghĩa thống kê ở mô hình hồi quy tiền lương Mincer nhằm xác định bất bình đẳng
về tiền lương là do phân biệt giới hay năng suất lao động.
3.4.2.3 Biến phụ thuộc:
Biến phụ thuộc của nghiên cứu này là mức lương. Để xác định giá trị của biến
phụ thuộc này, cần tính tiền lương tiền công lương chính của các cá nhân người lao
động làm công ăn lương, có cam kết, hợp đồng, hưởng lương hàng tháng trong vòng 12
tháng trước thời gian điều tra. Lương ở đây bao gồm cả giá trị và hiện vật được qui đổi.
Lương bao gồm 2 khoản: khoản lương chính thức và khoản theo lương như: tiền lễ tết.
Tiền lương, tiền công ở đây tính bình quân theo giờ lao động. Biến phụ thuộc này được
lấy giá trị logarithm theo từng cá nhân.
3.4.2.4 Biến độc lập, ý nghĩa và dấu kỳ vọng

31

Bảng 3.4 Biến độc lập và dấu kỳ vọng
Tên biến

Ý nghĩa

Số năm đi học của một các nhân được xác định bằng
số năm đi học ở các cấp học gồm: giáo dục phổ
thông, giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học.
Số năm kinh nghiệm của người lao động là khoảng
thời gian được tính từ lúc cá nhân thôi học đến năm
kinhnghiem
khảo sát. Thời điểm tính thâm niên làm việc sớm
nhất là khi cá nhân đó đủ 15 tuổi.
kinhnghiem2 Số năm kinh nghiệm bình phương
tieuhoc
Tiểu học
thcs
Trung học cơ sở
thpt
Trung học phổ thông
cddh
Cao đẳng, đại học
sdh
Sau đại học
bangnghe
Có bằng dạy nghề
honnhan
Tình trạng hôn nhân đang có gia đình
thanhthi
Người lao động làm việc ở thành thị
kythuat
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và
kythuatcc
trung
kvnlts
Làm nông, lâm, thủy sản
kvhosxkd
Làm cho hộ SXKD cá thể
kvnhanuoc
Làm cho khu vực nhà nước
kvtunhan
Làm khu vực Tư nhân
kvnuocngoai Làm khu vực Vốn nước ngoài
bhdv
Người lao động làm về ngành bán hàng, dịch vụ
Làm việc tại thành phố lớn: Hà Nội, Thành phố Hồ
tplon
Chí Minh
gioi
Giới tính của người lao động
sonamdihoc

Dấu kỳ
vọng
(+)

(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)

32

TÓM TẮT Ý CHÍNH CHƯƠNG 3
Mô hình hồi quy hàm tiền lương Mincer được dùng để đánh giá tác động của các
nhân tố ảnh hưởng đến mức lương. Bên cạnh biến số năm đi học, số năm kinh nghiệm
và kinh nghiệm bình phương theo mô hình gốc, nghiên cứu này sử dụng hàm Mincer
gốc và sau đó mở rộng ra bằng cách sử dụng các biến về nhân khẩu học của người lao
động đã trình bày ở chương 2 nhằm kiểm chứng tác động của các yếu tố kinh tế lên
tiền lương của lao động nam và lao động nữ. Phương pháp chọn mẫu là bỏ các quan sát
không đầy đủ các biến trong mô hình. Biến phụ thuộc của nghiên cứu này là mức
lương. Được xác định thông qua tiền lương tiền công lương chính của các cá nhân
người lao động làm công ăn lương, có cam kết, hợp đồng, hưởng lương hàng tháng
trong vòng 12 tháng trước thời gian điều tra và số giờ làm việc của lao động đó trong
một năm. Biến phụ thuộc này được lấy giá trị logarithm theo từng cá nhân. Ngoài ra để
xác định có sự phân biệt đối xử theo giới tính được phân tích kết quả hồi quy mô hình
tương tác.

33

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả thống kê về thực trang bất bình đẳng giới trong tiền lương
của người lao động theo các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến mức lương dựa trên
mẫu số liệu trích lọc được. Từ kết quả hồi quy hàm tiền lương Mincer tiến hành phân
tích mức độ chênh lệch tiền lương theo các yếu tố.
4.1 Mô tả thực trạng về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam
4.1.1 Giáo dục - đào tạo
Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục và phát triển nguồn nhân
lực. Mặc dù tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường trên toàn quốc chiếm tới 90%, tỷ lệ này
thấp hơn một cách đáng kể ở miền núi, miền trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Theo báo cáo về điều tra lao động việc làm năm 2012, của Tổng cục thống kê (2013)
thì đến thời điểm 1/7/2012: Tỷ trọng lao động chưa bao giờ đi học chiếm 3,9% trong
tổng số lao động, trong đó nữ chiếm nhiều hơn (62,4%). Gần một phần ba số lao động
trong nền kinh tế đã tốt nghiệp trung học cơ sở (30,9%).
Bảng 4.1 Lao động phân theo bằng cấp cao nhất và giới
Bằng cấp cao nhất

Nữ

Nam

Không bằng cấp

276

404

680

Tiểu học

471

793

1,264

THCS

502

956

1,458

THPT

696

976

1,672

Cao đẳng

197

119

316

Đại học

426

538

964

Thạc sĩ

28

25

53

Tiến sĩ

3

10

13

2,599

3,821

6,420

Tổng cộng

Cả hai giới

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu VHLSS 2012

34

Từ số liệu của mẫu cho thấy, trình độ học vấn của lao động ở Việt Nam còn
thấp ở cả hai giới. Dẫn đến năng suất lao động còn thấp và kéo theo mức lương không
cao. Ở nước ta, lao động nữ chiếm đa số ở nông thôn, nhưng trình độ tay nghề vẫn thấp
hơn nam giới. Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục phổ
thông của lực lượng lao động.
4.1.2 Lao động và việc làm
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề lao động, trình độ chuyên môn, tổ
chức làm việc, kinh nghiệm làm việc.
Theo báo cáo về điều tra lao động việc làm năm 2012, của Tổng cục thống kê
(2013) thì đến thời điểm 1/7/2012, lực lượng lao động cả nước là 52,3 triệu người bao
gồm 51,4 triệu người có việc làm và 925,6 nghìn người thất nghiệp. Lực lượng lao
động của khu vực nông thôn chiếm 69,7%. Hơn ba phần tư dân số từ 15 tuổi trở lên
tham gia lực lượng lao động. Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn
còn thấp: Cả nước có hơn 8,5 triệu người có việc làm đã được đào tạo chiếm 16,6%.
Về ngành nghề lao động, thống kê cho thấy lao động nữ có xu hướng tập trung
cao hơn so với nam ở các ngành nông nghiệp và thương nghiệp trong khi lao động nam
tại tập trung cao hơn ở ngành thuỷ sản và xây dựng. Chênh lệch giới tính trong một số
ngành kinh tế khá rõ, có những ngành tỷ trọng lao động nữ trong tổng số lao động của
ngành khá thấp, như vận tải kho bãi (9,8%), xây dựng (10,2%) và sản xuất và phân
phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí (16,3%). Ngược lại, có những
ngành chủ yếu là lao động nữ, như: hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia
đình (92,9%), giáo dục và đào tạo (70,4%) và dịch vụ lưu trú và ăn uống (70%).
Trình độ chuyên môn được phân chia thành lao động kỹ thuật bậc cao, lao động
kỹ thuật bậc thấp, lao động giản đơn và quân nhân. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với
công nghệ, tín dụng và giáo dục đào tạo thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công
việc gia đình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới. Trong những năm
qua, việc phát triển đào tạo chuyên môn kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước cải