Tải bản đầy đủ
3 Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình

3 Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình

Tải bản đầy đủ

25

Các giả thiết: Năm đi học là từ 6 tuổi, thời gian theo học là liên tục, lên lớp mỗi
năm và số năm đi học của một cá nhân được xác định bằng tổng số năm đi học ở cả
ba bậc theo hệ thống giáo dục Việt Nam: Giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và
giáo dục dạy nghề. Không có sự thay đổi về nơi cư trú.
Bảng 3.2 Số năm đi học quy đổi cho bậc giáo dục đại học
Bậc giáo dục

Cao đẳng

Đại học

Thạc sĩ

Tiến sĩ

3

4

2

4

Số năm đi học quy đổi

Bảng 3.3 Số năm đi học quy đổi cho bậc dạy nghề
Loại hình đào tạo
Sơ cấp nghề

Thời gian đi học khi có bằng
Tiểu học

THCS

THPT

3 tháng đến <1

3 tháng đến <1

3 tháng đến <1

năm

năm

năm

3-4 năm

1-2 năm

Trung cấp nghề
Cao đẳng nghề
Trung học chuyên
nghiệp

2-3 năm
3-4 năm

2 năm

3.3.3 Biến kinh nghiệm:
Hàm thu nhập Mincer giả định rằng: Khả năng học tập của mọi người là như
nhau và thời gian đi học là liên tục, chấm dứt khi bắt đầu làm việc. Thời điểm kể từ khi
thôi học ở các cơ sở giáo dục đến tuổi nghỉ hưu được xem là số năm kinh nghiệm tiềm
năng trong quá trình làm việc của mỗi cá nhân.
Biến kinh nghiệm tiềm năng trong hàm thu nhập Mincer của nghiên cứu này
được tính bằng: số tuổi (xác định theo năm sinh cho đến năm khảo sát 2012) trừ đi số
năm đi học (được tính ở biến giáo dục) và trừ cho 5 (ở Việt Nam, tuổi bắt đầu đi học là
sáu tuổi).

26

3.3.4 Quy đổi một số biến định tính
3.3.4.1 Biến tình trạng hôn nhân:
Tình trạng hôn nhân của mỗi cá nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất
là nhóm đang có vợ hoặc có chồng; nhóm thứ hai là những người đang sống độc thân:
Chưa có vợ hoặc chưa có chồng, đã ly hôn, góa, ly thân. Biến tình trạng hôn nhân là
biến giả, nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó đang có vợ hoặc đang có chồng và nhóm độc
thân nhận giá trị 0.
3.3.4.2 Biến bằng cấp cao nhất đạt được:
Biến này được chia thành các nhóm: không bằng cấp, tốt nghiệp tiểu học, trung
học cơ sở, trung học phổ thông, trình độ cao đẳng – đại học và sau đại học (gồm thạc sĩ
và tiến sĩ). Bằng cấp của cá nhân được mã hóa thành năm biến giả. Không bằng cấp sẽ
là biến tham chiếu. Biến tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao
đẳng – đại học, sau đại học là năm biến giả, các biến đó sẽ nhận giá trị 1 nếu cá nhân
có đặc tính của trình độ đó và sẽ nhận giá trị 0 nếu cá nhân không có đặc tính của trình
độ đó.
3.3.4.3 Biến bằng dạy nghề:
Bằng dạy nghề là biến nhị phân, sẽ nhận giá trị 1 nếu cá nhân đó có bằng đào
tạo nghề nghiệp (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng
nghề) và sẽ nhận giá trị 0 nếu không có bằng đào tạo nghề nghiệp.
3.3.4.4 Biến chuyên môn kỹ thuật:
Trình độ chuyên môn của một cá nhân được chia thành ba nhóm: Lao động có
trình độ kỹ thuật trung và cao cấp, lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp và lao động
giản đơn. Biến lao động có kỹ thuật thấp, lao động chuyên môn kỹ thuật trung và cao
cấp là hai biến giả. Hai biến này sẽ nhận giá trị 1 nếu cá nhân có đặc tính của chuyên
môn đó đó và sẽ nhận giá trị 0 nếu cá nhân không có đặc tính của chuyên môn tương
ứng.

27

3.3.4.5 Biến ngành kinh tế:
Biến này là biến nhị phân, sẽ nhận giá trị 1 nếu cá nhân đó làm trong lĩnh vực
bán hàng, dịch vụ và nhận giá trị 0 nếu cá nhân đó làm trong các lĩnh vực còn lại.
3.3.4.6 Biến khu vực kinh tế:
Loại hình tổ chức mà người lao động đang làm việc. Được chia làm năm nhóm:
Nông, lâm, thủy sản; Hộ sản xuất kinh doanh cá thể; Tập thể; Tư nhân; Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài và Nhà nước. Biến Hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tập thể, tư nhân,
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước là các biến giả. Các biến này sẽ nhận giá
trị 1 nếu cá nhân đó làm trong khu vực tương ứng và nhận giá trị 0 nếu cá nhân đó
không tương ứng.
3.3.4.7 Biến thành thị/nông thôn:
Biến này là biến nhị phân, nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó ở thành thị và nhận
giá trị là 0 nếu cá nhân đó ở khu vực nông thôn.
3.3.4.8 Biến thành phố lớn
Biến vùng là biến nhị phân sẽ nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó ở thành phố Hồ
Chí Minh hoặc Hà Nội và nhận giá trị là 0 nếu cá nhân đó ở các tỉnh khác.
3.4 Phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong tiền lương
3.4.1 Hàm thu nhập Mincer
Bằng cách phân tích các yếu tố cấu thành tiền lương lao động như năng lực, kỹ
năng và sự phân biệt đối xử. Hầu hết các công trình nghiên cứu thực nghiệm về mức
lương đều dựa vào hàm thu nhập của Mincer.
Mincer, J. (1974) trình bày mối quan hệ giữa thu nhập với giáo dục thông qua mô
hình học vấn với đường tiền lương theo học vấn cho thấy mối quan hệ giữa tiền lương
và số năm được giáo dục, đào tạo của người lao động làm thuê.
Độ dốc của đường tiền lương theo học vấn cho thấy mức tăng tiền lương khi
người lao động có thêm một năm học vấn. Người lao động sẽ quyết định chọn trình độ

28

học vấn tối ưu, quyết định dừng việc học khi mức lợi tức biên bằng với suất chiết khấu
kỳ vọng của họ. Đây là qui tắc dừng nhằm tối đa hóa giá trị hiện tại của tiền lương.
Mô hình học vấn với giả thiết bỏ qua yếu tố kinh nghiệm, được Mincer diễn dịch
toán học cho thấy logarithm của mức lương là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học:
ln {Y_S} = ln {Y_0} + r*S

(3.1)

Trong đó:
S: là số năm đi học
{Y_0}: là tiền lương hàng năm của người không có đi học
{Y_S}: là tiền lương hàng năm của người có S năm đi học
r: tỉ suất chiết khấu
Hệ số r của S biểu thị mức độ gia tăng tiền lương cũng chính là tỷ suất thu hồi nội
bộ. Đây là dạng thô sơ nhất về hàm tiền lương của cá nhân. Mô hình học vấn trở nên
đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là quá trình đào tạo sau khi thôi học
và sự đào tạo này là có chi phí. Diễn dịch toán học của hàm Mincer đã quy đổi yếu tố
kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn tới hàm tiền lương phụ thuộc và số năm đi
học lẫn số năm kinh nghiệm, cho phép ước lượng các hệ số bằng phương pháp kinh tế
lượng. Phương trình (3.1) được viết lại như sau:
ln {mức lương} = ߙ 0 + ߙ 1Số năm đi học + ߙ 2Kinh nghiệm + ߙ 3Kinh nghiệm2 + ߝ
(3.2)
Trong đó:
S: là số năm đi học
t: là số năm kinh nghiệm. t=0,1,2,…
Ui: là sai số ngẫu nhiên
Các giả định là:
Lương chịu ảnh hưởng của giáo dục và kinh nghiệm theo chiều hướng thuận,
nghĩa là người có nhiều năm đi học hơn sẽ có lương cao hơn và người có kinh nghiệm
làm việc nhiều hơn sẽ có lương cao hơn. Hay hệ số của S và t >0