Tải bản đầy đủ
5 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiền lương

5 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiền lương

Tải bản đầy đủ

16

đó già đi. Đặc biệt tiền lương của lao động nam giới trẻ sẽ tăng nhanh hơn tiền lương
của lao động nữ giới cùng trang lứa.
Tình trạng hôn nhân ảnh hưởng lên thu nhập của lao động nam và lao động nữ
(Amy Y.C.Liu, 2004): Khi đã có gia đình và con cái thì nhu cầu tìm việc làm thường
tăng ở cả nam và nữ. Nhưng có sự khác biệt giữa hai giới là: phụ nữ phải chăm sóc con
và công việc gia đình nhiều hơn nam giới làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất kéo
theo thu nhập ít hơn so với lao động nam.
Giới tính có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động. Theo Timothy A.
Judge và Daniel M. Cable (1994) giới tính là yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đáng kể
đến quyết định chọn công việc, từ đó ảnh hưởng đến mức lương của người lao động.
2.5.2.2 Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến thu nhập của
người lao động. Những công việc mà đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức
tạp thì sẽ có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc đơn giản. Người lao động
được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm công việc có thu
nhập cao hơn. Psacharopoulos năm 1994 nghiên cứu rằng trình độ giáo dục có ảnh
hưởng đến mức lương.
Mincer (1974) đã chứng minh rằng số năm đi học tác động cùng chiều với tiền
lương của người lao động. Chi phí cơ hội cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học
được xem là tổng chi phí đầu tư. Mô hình ước lượng suất sinh lợi từ giáo dục của
Mincer đã thể hiện mối quan hệ giữa tiền lương với số năm đi học, số năm kinh
nghiệm, số năm kinh nghiệm bình phương. Theo đó với một năm đi học tăng thêm thì
người lao động sẽ có một khoản thu nhập nhất định tăng lên.
2.5.2.3 Nhóm yếu tố lao động, việc làm
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc,
tổ chức làm việc.

17

Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương
thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu về kỹ năng,
trình độ của ngành này thấp (Borjas, 2005). Trong cùng một ngành nghề thì thu nhập
của người lao động còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh
nghiệm công tác của người lao động đó. Những công việc phức tạp được trả lương cao
hơn những công việc giản đơn và những người có thời gian tiếp xúc với công việc lâu
dài hơn thì sẽ thành thạo công việc hơn những người ít kinh nghiệm. Do đó sẽ được trả
lương cao hơn.
Về yếu tố kinh nghiệm, nghiên cứu của Amy Liu năm 2004 đã chỉ ra sự ảnh
hưởng của các yếu tố kinh nghiệm có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động.
Tổ chức mà cá nhân đang làm việc cũng ảnh hưởng đến sự khác biệt tiền lương
giữa lao động nam và lao động nữ. Tổ chức nào tuân thủ pháp luật hơn sẽ thi hành các
chính sách bình đẳng giới của nhà nước tốt hơn. Từ đó phụ nữ được tạo nhiều cơ hội
làm việc tương xứng với khả năng của mình và tiền lương cũng sẽ bình đẳng hơn.
Ngược lại, phụ nữ sẽ chịu nhiều thiệt thòi nếu tổ chức nào không chịu sự chi phối chặt
sẽ của pháp luật.
2.5.2.4 Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/nông thôn
Theo Amy Y.C.Liu (2004), yếu tố vùng miền có tác động đến mức lương của
người lao động. Điều kiện kinh tế ở mỗi vùng khác nhau nên mức chi tiêu ở các vùng
cũng khác nhau. Ở những vùng miền có mức sống cao thì thu nhập trả cho người lao
động ở vùng miền đó phải cao để đảm bảo cuộc sống của bản thân người lao động và
gia đình họ.
Mức sống và thu nhập của người lao động cũng thuộc khu vực sinh sống là thành
thị hay nông thôn. Những công việc có cùng mức độ phức tạp thì người lao động ở
thành thị có mức thu nhập cao hơn với nông thôn.

18

2.5.2.5 Môi trường chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi
mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã
hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội; Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và đánh giá đối với
mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Ngoài ra, còn có Luật Bình
đẳng giới năm 2007 và Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2008 là những luật
chuyên môn về giới bên cạnh các nghị quyết, chính sách riêng cho công tác phụ nữ đều
đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện cho lao động
nam và lao động nữ phát triển bình đẳng, tiến bộ. Điều này cho thấy nổ lực phấn đấu vì
mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc làm
chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát triển của
đất nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao động nữ như
chính sách phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làm các công việc nặng
nhọc, nguy hiểm như có 77 ngành nghề không được sử dụng lao động nữ theo Thông
tư 26/2013/TT-BLĐTBXH.
2.5.2.6 Nhóm các yếu tố khác
Một số yếu tố khác như tình trạng sức khoẻ, chi tiêu bình quân đầu người cũng
có quan hệ nhất định với thu nhập.
Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian lao động, khối lượng và chất lượng
công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệ thuận đối với thu nhập của người lao động.
Nhu cầu chi tiêu cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập do người lao động phải
tìm những công việc lương cao hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia
đình trong khi những người có nhu cầu chi tiêu ít hơn thường dễ vừa lòng với công
việc có mức thu nhập vừa phải.

19

2.6 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu thực chứng về bất bình đẳng giới trong tiền lương đã có
thời gian phát triển lâu dài, ứng dụng để kiểm định các lý thuyết thị trường lao động.
Đặc điểm chính về phương pháp luận của nghiên cứu thực nghiệm trên là sự áp dụng
các phân tích hồi quy để nghiên cứu sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng, trong đó hệ
số gắn liền với các nhóm đối tượng này được xem là dấu hiệu của bất bình đẳng.
Phương trình tiền lương cơ bản được sử dụng ở nghiên cứu này là Mincerian mô
tả mức lương của người lao động trong mối quan hệ với vốn con người. Mincer, J.
(1974) trình bày mối quan hệ giữa tiền lương với giáo dục thông qua mô hình học vấn
với đường tiền lương theo học vấn cho thấy mối quan hệ giữa tiền lương và số năm
được giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm của người lao động làm thuê.Các nghiên cứu
trước đây cho thấy việc sử dụng các dữ liệu từ cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình phù
hợp với mô hình Mincer và cho khả năng giải thích cao. Việc sử dụng hàm hồi quy mở
rộng không có sự khác biệt lớn với mô hình Mincer ban đầu.
Hình 2.1 Khung phân tích đề tài

GIÁO DỤC

KIỂM ĐỊNH
TÁC ĐỘNG

KINH
NGHIỆM

MỨC LƯƠNG

YẾU TỐ
KHÁC

PHÂN BIỆT
ĐỐI XỬ

BẤT BÌNH
ĐẲNG GIỚI
TRONG TIỀN
LƯƠNG

20

TÓM TẮT Ý CHÍNH CHƯƠNG 2
Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt thu nhập giữa nam và nữ trước hết bắt nguồn từ
những quan điểm truyền thống và những tư tưởng định kiến trong các xã hội về trọng
nam khinh nữ. Từ đó dẫn đến sự hạn chế trong các cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo
dục và đào tạo, việc lựa chọn ngành nghề, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn. Ngoài
ra, phụ nữ cũng có ít cơ hội tiếp cận hơn đối với các dịch vụ cũng như nguồn lực cơ
bản khác như nước sạch, giao thông và thị trường, nguồn vốn. Điều này cũng có ảnh
hưởng nhất định đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế của họ cũng là những
yếu tố sức khỏe của người lao động. Dựa vào các nghiên cứu trước có liên quan cho
thấy: Các yếu tố về giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, giáo dục - đào tạo, ngành
nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc có ảnh hưởng đến mức
lương của người lao động.