Tải bản đầy đủ
4 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan

4 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan

Tải bản đầy đủ

13

di cư, tình trạng hôn nhân, yếu tố khu vực đến biến độc lập là log của tỷ lệ thu nhập.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam có bất bình đẳng giới trong thu nhập, tuy
nhiên khoảng cách về thu nhập và sự phân biệt có xu hướng thu hẹp lại, tương tự như ở
Trung Quốc, sự bất bình đẳng này do sự phân biệt trong xã hội, từ tư tưởng Nho giáo
lâu đời. Sự bất bình đẳng trong thu nhập của nữ so với nam là nguyên nhân của cả định
kiến của người thuê lao động lẫn các nguyên nhân thị trường.
Danijel Nestic (2010) sử dụng dữ liệu vĩ mô từ các cuộc điều tra lao động của
năm 1998 và năm 2008 ở Croatia để xây dựng hàm tiền lương do Mincer (1974) đề
xuất, nhằm đánh giá khoảng cách tiền lương theo giới qua việc phân phối tiền lương.
Bài viết này lập luận rằng phụ nữ làm việc ở Croatia có chất lượng cao hơn nam giới,
đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục nhưng nhận được thu nhập thấp hơn. Để giải thích
sự khác biệt này, kinh tế lao động đã thường nhìn vào sự khác biệt trong đặc điểm vốn
con người, chẳng hạn như giáo dục và kinh nghiệm. Vì phụ nữ trong nhiều quốc gia có
nền giáo dục kém hơn và ít kinh nghiệm thị trường lao động hơn so với nam giới. Từ
đó năng suất lao động thấp hơn, điều này có thể giải thích một phần của khoảng cách
lương giữa hai giới. Vai trò của yếu tố ngành nghề và công ty cụ thể cũng đã được
nghiên cứu. Tuy nhiên, khoảng cách tiền lương vẫn còn ngay cả sau khi tính toán sự
khác biệt trong tất cả các đặc điểm quan sát.
Các nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều yếu tố tác động đến thu nhập của cá nhân
và hộ gia đình, trong số đó có các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế. Mỗi một yếu tố có
sự ảnh hưởng khác nhau đến thu nhập của cá nhân và hộ gia đình. Cụ thể, nghiên cứu
của Acemoglu và Angrist (2000) chỉ ra là với mỗi năm đi học tăng thêm thì mức lương
trung bình tăng 7.5%. Hoặc nghiên cứu của Caponi và Plesca (2009) cho thấy rằng với
những người tốt nghiệp đại học sẽ có thu nhập cao hơn người chỉ tốt nghiệp trung học
phổ thông từ 30% đến 40%. Borjas (2005) ghi nhận rằng giá trị ước lượng thống nhất
về suất sinh lợi từ đi học ở Hoa Kỳ dựa trên hàm thu nhập của Mincer là xấp xỉ 9%
trong thập niên 90. Psacharopoulos (1994) sử dụng số liệu quốc tế để ước lượng hệ số

14

của biến số năm đi học. Trong khi giá trị ước lượng hệ số bình quân của các nước phát
triển là 6,8%, hệ số ước lượng này của châu Á và châu Mỹ Latin lần lượt là 9,6% và
12,4%.
Timothy A. Judge và Daniel M. Cable (1994) chỉ ra rằng tuổi tác, chủng tộc và
giới tính là các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn công
việc, từ đó ảnh hưởng đến mức lương. Dựa vào nhóm yếu tố về nhân khẩu học ở trên,
các biến tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc được sử dụng làm
các biến điều khiển trong mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, để phân tích sự khác biệt
trong hành vi lựa chọn công việc của từng nhóm người lao động thuộc các thành phần
doanh nghiệp khác nhau, biến loại hình doanh nghiệp đang làm việc được đưa thêm
vào mô hình để phân loại.
Oaxaca Ronal (1973) nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch về thu nhập giữa nam
và nữ trong thị trường lao động thành thị. Ông đã đưa ra phương pháp tiếp cận, đánh
giá sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến sự chênh lệch này.
Trong Báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển xã hội - Liên hiệp quốc về Vấn đề
giới trong chính sách cải cách cơ cấu và vĩ mô toàn diện (Lê Anh Tú, 2005) đã phân
tích ảnh hưởng của chính sách vĩ mô tới phụ nữ bằng việc phân tích mối liên hệ giữa
cải cách, bình đẳng giới, phát triển kinh tế và phúc lợi dành cho nữ giới trong những
năm 90 ở Việt Nam, thời gian diễn ra công cuộc cải cách toàn diện và có ảnh hưởng
sâu rộng của chính phủ. Nghiên cứu này dựa trên phương pháp mô tả, tổng hợp và
phân tích thống kê nhằm giải thích ảnh hưởng của chính sách tự do hóa thị trường và vĩ
mô đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ.
Brassard (2004) tìm hiểu những qui định về lao động và tiền lương ở Việt Nam
trong chương trình giảm nghèo. Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của những quy
định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến việc giảm nghèo ở Việt Nam
thông qua việc sử dụng số liệu cấp xã về lương năm 1998. Nghiên cứu này cũng xác

15

định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, ảnh hưởng của các qui định về
lương và lao động đến người nghèo.
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiền lương
2.5.1 Các quan niệm và tư tưởng truyền thống
Theo Ngân hàng thế giới (2001) thì những quan niệm bất bình đẳng giới đã và
đang là những trở ngại đối với sự phát triển cân bằng giới, quan hệ bình đẳng giữa nam
và nữ.
Những quan niệm từ thời phong kiến về giá trị, địa vị của người phụ nữ trong
gia đình và xã hội đã rất lạc hậu nhưng không dễ thay đổi: Nam giới được quyền tham
gia việc ngoài xã hội, đứng ra thực hiện chức năng sản xuất, chịu trách nhiệm gánh vác
gia đình và quản lý xã hội nên được xã hội tôn trọng. Còn phụ nữ chỉ là người thừa
hành, trông con, nội trợ, làm việc nhà, chăm sóc người bệnh. Đây là những công việc
không được trả lương nên sẽ phụ thuộc vào nam giới. Đây là nguyên nhân làm hạn chế
cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục, lựa chọn nghề nghiệp, nâng cao trình độ
chuyên môn. Chính những bất lợi này đã gây cản trở việc cải thiện vị thế kinh tế cho
phụ nữ, tạo ra bất bình đẳng trong thu nhập so với nam giới (Nguyễn Huy Toàn, 2010).
2.5.2 Các yếu tố kinh tế
Dựa vào các nghiên cứu trước có liên quan được liệt kê ở trên, tác giả tổng kết
các yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong tiền lương phù hợp với điều
kiện của Việt Nam.
2.5.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
Nhóm yếu tố đặc điểm của người lao động gồm: Giới tính, độ tuổi, tình trạng
hôn nhân.
Nghiên cứu thực nghiệm của Borjas (2005) cho thấy rằng thu nhập của một cá
nhân phụ thuộc vào tuổi tác của người đó. Những người trẻ thì tiền lương thấp, sẽ tăng
lên khi họ trưởng thành do tích lũy được kinh nghiệm rồi có thể giảm xuống khi người

16

đó già đi. Đặc biệt tiền lương của lao động nam giới trẻ sẽ tăng nhanh hơn tiền lương
của lao động nữ giới cùng trang lứa.
Tình trạng hôn nhân ảnh hưởng lên thu nhập của lao động nam và lao động nữ
(Amy Y.C.Liu, 2004): Khi đã có gia đình và con cái thì nhu cầu tìm việc làm thường
tăng ở cả nam và nữ. Nhưng có sự khác biệt giữa hai giới là: phụ nữ phải chăm sóc con
và công việc gia đình nhiều hơn nam giới làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất kéo
theo thu nhập ít hơn so với lao động nam.
Giới tính có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động. Theo Timothy A.
Judge và Daniel M. Cable (1994) giới tính là yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đáng kể
đến quyết định chọn công việc, từ đó ảnh hưởng đến mức lương của người lao động.
2.5.2.2 Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến thu nhập của
người lao động. Những công việc mà đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức
tạp thì sẽ có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc đơn giản. Người lao động
được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm công việc có thu
nhập cao hơn. Psacharopoulos năm 1994 nghiên cứu rằng trình độ giáo dục có ảnh
hưởng đến mức lương.
Mincer (1974) đã chứng minh rằng số năm đi học tác động cùng chiều với tiền
lương của người lao động. Chi phí cơ hội cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học
được xem là tổng chi phí đầu tư. Mô hình ước lượng suất sinh lợi từ giáo dục của
Mincer đã thể hiện mối quan hệ giữa tiền lương với số năm đi học, số năm kinh
nghiệm, số năm kinh nghiệm bình phương. Theo đó với một năm đi học tăng thêm thì
người lao động sẽ có một khoản thu nhập nhất định tăng lên.
2.5.2.3 Nhóm yếu tố lao động, việc làm
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc,
tổ chức làm việc.