Tải bản đầy đủ
1 Các khái niệm cơ bản

1 Các khái niệm cơ bản

Tải bản đầy đủ

8

Tính luôn biến đổi: Khác với giới tính là các đặc điểm sinh học của nam và nữ
đã có từ khi mới sinh ra, giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là
kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường
văn hóa, xã hội (gia đình, nhà trường, nơi làm việc, phương tiện thông tin đại chúng).
Đây là những đặc điểm không bất biến mà có thể đổi chỗ cho nhau và thay đổi theo sự
biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán.
Tính có thể thay đổi được: Cũng vì các quy định về giới do xã hội tạo ra nên
cùng với sự tiến bộ nhận thức của xã hội thì các quy định về giới cũng thay đổi theo,
chẳng hạn như địa vị xã hội của người phụ nữ hiện nay khác hoàn toàn so với thời
phong kiến, phụ nữ có thể làm tổng thống, nam giới có thể làm người nuôi dạy trẻ.
2.1.2 Bình đẳng giới
Là việc “nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát
huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như
nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Điều 5, Luật bình đẳng giới, 2006).
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và
khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng
để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng
để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát
triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng
thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội (Ủy ban quốc gia vì sự
tiến bộ phụ nữ Việt Nam, 2004).
Bình đẳng giới không phải là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu
tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung sự
bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là chủ yếu nên khi đề cập đến bình đẳng giới, sẽ
thường nói đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ. Trong gia đình, bình đẳng giới là các
thành viên có sự bình đẳng với nhau. Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được

9

các thanh viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia sẻ và cùng nhau hưởng thụ
thành quả từ những công việc đó mang lại.
Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không có nghĩa là sự hoán đổi vai trò, vị
trí của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác. Chính khái niệm này cũng không
tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang bằng nhau mà là sự khác biệt về giới tính
trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, nhất là sự chia sẻ
công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình nhằm tạo điều kiện và cơ hội để
cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt. Hơn nữa, khái niệm này cũng đề cập đến
việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ được bù đắp những khoảng trống do gánh vác
phần lớn nội trợ gia đình cũng như việc mang thai, sinh con.
2.1.3 Bất bình đẳng giới
Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW
(1979). Đã định nghĩa việc phân biệt đối xử giới: Bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ hoặc
hạn chế nào được thực hiện trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích
làm suy giảm hoặc vô hiệu hoá sự công nhận, quyền thụ hưởng hoặc quyền sử dụng
của phụ nữ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ, trên cơ sở bình quyền nam nữ, nhân
quyền và các quyền tự do cơ bản khác trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá,
dân sự hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngườicủa Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
năm 1948 định nghĩa rằng: bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở giới tính,
chủng tộc, màu da, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh
hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và
nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia
đình, 2013).
Các dạng tồn tại của bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối
xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến và bạo lực trên cơ sở giới
tính.Từ đó có thể thấy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính

10

mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực
của xã hội và quá trình phát triển của con người. Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì
sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân
biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa
hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ.
2.2 Các lý thuyết liên quan về tiền lương và bất bình đẳng giới về tiền lương
2.2.1 Lý thuyết tiền lương
Lý thuyết tiền lương được các nhà kinh tế thuộc trường phái Kinh tế cổ điển đề
cập vào cuối thế kỷ 18. William Petty, David Ricardo, Adam Smith là những tác giả
nổi bật của trường phái này, là những người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho
nguyên lý giá trị lao động (Bùi Thái Quyên, 2012):William Petty cho rằng người lao
động được trả lương cao hơn sẽ lười lao động hơn nên tiền lương của công nhân không
thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết.David Ricardo coi lao động là hàng hóa,
cho rằng tiền lương là giá cả thị trường của lao động. Tiền lương được xác định trên cơ
sở giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động. Giá cả tự nhiên của lao động là giá trị những
tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình họ.Adam Smith xem tiền
lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao
động. Ông ủng hộ việc trả lương cao.
Lịch sử về lý thuyết tiền lương có thể được chia thành ba giai đoạn: (1) đến năm
1870 lý thuyết về Quỹ lương thống trị; (2) giai đoạn 1870-1914: lý thuyết về năng suất
biên thống trị và (3) giai đoạn 1914- nay: là các lý thuyết về tiền lương theo kinh tế học
(John. T. Dunlop, 1957).
Theo Lý Thuyết tiền lương hiệu quả của Akerlof (1982): Người sử dụng lao động
nên trả lương cao hơn mức cân bằng vì góp phần làm tăng sức khỏe người lao động, từ
đó làm tăng hiệu quả làm việc của công nhân. Khi người lao động nhận được thù lao
tốt hơn, ăn thức ăn nhiều chất dinh dưỡng hơn, họ sẽ khỏe mạnh hơn và có năng suất

11

lao động cao hơn. Lý luận này rất thích hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại đó,
người lao động thường không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng.
Tiền lương được các nhà kinh tế học tư sản giải thích là giá cả của lao động hoặc
giá cả của dịch vụ hay sản phẩm lao động. Còn theo Karl Marx, tiền lương chính là giả
cả của hàng hóa sức lao động. Dưới chủ nghĩa tư bản, người công nhân bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản và nhận được tiền lương với tư cách là vật ngang giá
(Marx và Angel toàn tập, 1980).
2.2.2 Khái niệm tiền lương
Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO, 1949), tiền lương là sự trả công có thể
biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và
người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động
phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện
hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Ở Việt Nam, tại Điều 90 Bộ luật lao động (2012) định nghĩa: “tiền lương là
khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc
theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ
cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp
hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho người lao động căn
cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo
đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công
việc có giá trị như nhau”. Mặc dù Bộ luật lao động không quy định tiền lương được trả
dựa theo yếu tố nào, miễn sao cao hơn mức lương tổi thiểu. Tuy nhiên, trên thực tế các
yếu tố như trình độ giáo dục, kinh nghiệm, ngành nghề công việc, nơi công tác, giới
tính có ảnh hưởng lớn đến tiền lương của người lao động.
2.2.3 Bất bình đẳng giới trong tiền lương
Trong cuộc sống, sự bất bình đẳng đang diễn ra ở rất nhiều dạng. Sự phân biệt đối
xử và bất bình đẳng giới cũng xảy ra ở hầu hết các xã hội trên thế giới. Bất bình đẳng