Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

34

Từ số liệu của mẫu cho thấy, trình độ học vấn của lao động ở Việt Nam còn
thấp ở cả hai giới. Dẫn đến năng suất lao động còn thấp và kéo theo mức lương không
cao. Ở nước ta, lao động nữ chiếm đa số ở nông thôn, nhưng trình độ tay nghề vẫn thấp
hơn nam giới. Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục phổ
thông của lực lượng lao động.
4.1.2 Lao động và việc làm
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề lao động, trình độ chuyên môn, tổ
chức làm việc, kinh nghiệm làm việc.
Theo báo cáo về điều tra lao động việc làm năm 2012, của Tổng cục thống kê
(2013) thì đến thời điểm 1/7/2012, lực lượng lao động cả nước là 52,3 triệu người bao
gồm 51,4 triệu người có việc làm và 925,6 nghìn người thất nghiệp. Lực lượng lao
động của khu vực nông thôn chiếm 69,7%. Hơn ba phần tư dân số từ 15 tuổi trở lên
tham gia lực lượng lao động. Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn
còn thấp: Cả nước có hơn 8,5 triệu người có việc làm đã được đào tạo chiếm 16,6%.
Về ngành nghề lao động, thống kê cho thấy lao động nữ có xu hướng tập trung
cao hơn so với nam ở các ngành nông nghiệp và thương nghiệp trong khi lao động nam
tại tập trung cao hơn ở ngành thuỷ sản và xây dựng. Chênh lệch giới tính trong một số
ngành kinh tế khá rõ, có những ngành tỷ trọng lao động nữ trong tổng số lao động của
ngành khá thấp, như vận tải kho bãi (9,8%), xây dựng (10,2%) và sản xuất và phân
phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí (16,3%). Ngược lại, có những
ngành chủ yếu là lao động nữ, như: hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia
đình (92,9%), giáo dục và đào tạo (70,4%) và dịch vụ lưu trú và ăn uống (70%).
Trình độ chuyên môn được phân chia thành lao động kỹ thuật bậc cao, lao động
kỹ thuật bậc thấp, lao động giản đơn và quân nhân. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với
công nghệ, tín dụng và giáo dục đào tạo thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công
việc gia đình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới. Trong những năm
qua, việc phát triển đào tạo chuyên môn kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước cải

35

thiện đáng kể. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay
nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà
Nội (35,5%) và thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long (9,2%). Tỷ trọng lực lượng
lao động có trình độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng. Nơi có tỷ trọng
này cao nhất là Hà Nội (18,1%) và Thành phố Hồ Chí Minh (16,9%). Ngược lại, đồng
bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ từ đại học trở
lên thấp nhất (3,5%).
Tổ chức làm việc, theo kết quả của tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự
nghiệp năm 2012 của Tổng cục thống kê xuất bản năm 2013 thì:
Xét ở khu vực kinh tế nhà nước thì đến thời điểm 1/7/2012 cả nước có gần 5,2
triệu đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu hút 22,8 triệu lao động. So với năm
2007, số đơn vị tăng 27,4% tương đương 1,11 triệu đơn vị, lao động tăng 38,5% tương
đương 6,3 triệu người. Tốc độ tăng bình quân hàng năm về đơn vị là 5%, lao động
6,7%, thể hiện sự mở rộng về qui mô của các đơn vị.
Doanh nghiệp là loại hình dẫn đầu về mức tăng số lượng và thu hút lao động.
Thời điểm 01/01/2012 có gần 342 nghìn doanh nghiệp đang tồn tại, tăng 216,5 nghìn
doanh nghiệp thu hút gần 11 triệu lao động trong đó 10,8 triệu lao động trong các
doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 65% (tương đương khoảng 4,3 triệu người) so với
6,6 triệu lao động năm 2007.
Loại hình kinh tế tập thể - hợp tác xã - hiện có 13,6 nghìn, tương đương năm
2007 về số lượng và giảm 11,8% về lao động. Số lượng các hợp tác xã thuộc ngành
nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 52%, ngành công nghiệp và xây dựng
chiếm 24%, dịch vụ chiếm 24% (trong đó 8% là các quỹ tín dụng).
Thời điểm 1/7/2012 cả nước có 4,6 triệu cơ sở SXKD cá thể phi nông lâm nghiệp
và thủy sản (Hộ SXKD cá thể) với 7,9 triệu lao động, tăng 23,4% về số lượng cơ sở và
20,5% về số lao động so với năm 2007, bình quân hàng năm tăng tương ứng 4,3% và
3,8%.

36

Bảng 4.2 Mức lương bình quân theo tổ chức làm việc của nam và nữ
Đơn vị tính: đồng/giờ
Tổ chức làm việc

Nữ

Nam

Cả hai giới

Nông, lâm, thủysản

12.059

15.822

14.536

Hộ SXKD cá thể

13.088

16.947

15.834

Tập thể

14.600

14.258

14.370

Tư nhân

17.013

21.292

19.527

Vốn nước ngoài

16.426

23.901

19.055

Nhà nước

26.030

29.097

27.632

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ VHLSS năm 2012
Từ số liệu, có thể thấy làm việc ở tổ chức tập thể, nông lâm thủy hải sản và hộ
sản xuất kinh doanh cá thể có mức lương thấp nhất. Làm việc cho công ty tư nhân, có
vốn đầu tư nước ngoài và làm nhà nước là có mức lương cao nhất. Bên cạnh đó cũng
cho biết, chỉ trừ ở tổ chức làm việc là tập thể thì mức lương của lao động nữ mới cao
hơn lao động nam, còn ở các tổ chức làm việc còn lại thì mức lương của lao động nam
luôn cao hơn mức lương của lao động nữ.
4.1.3 Vùng địa lý
Vùng địa lý bao gồm vùng phân theo khu vực địa lý và yếu tố thành thị/nông
thôn.

37

Bảng 4.3 Mức lương bình quân theo vùng của nam và nữ
Đơn vị tính: đồng/giờ
Vùng địa lý

Nữ

Nam

Đồng bằng sông Hồng

20.168

22.687

21.642

Trung du miền núi phía Bắc

20.227

20.471

20.367

17.246

20.056

19.033

Tây nguyên

18.450

19.818

19.252

Đông nam bộ

19.266

23.801

21.760

Đồng bằng sông Cửu Long

15.163

17.868

16.829

Bắc trung bộ và duyên hải miền
Trung

Tổng cộng

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu VHLSS 2012
Mức lương của người lao động phụ thuộc vào khu vực sinh sống là ở vùng miền
nào, thành thị hay nông thôn. Theo báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2012 thì
có trên 56,7% lực lượng lao động của cả nước tập trung ở ba vùng là Đồng bằng sông
Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ
trọng nữ trong lực lượng lao động chênh lệch không đáng kể giữa thành thị và nông
thôn, nhưng lại khá khác biệt giữa các vùng, tỷ trọng này đạt mức thấp nhất là 45,6% ở
Đồng bằng sông Cửu Long lên mức cao nhất là 50,6% ở Đồng bằng sông Hồng. Số
liệu cho thấy, có sự ngược chiều về mức độ tham gia vào lực lượng lao động giữa hai
giới ở hai vùng đồng bằng lớn của nước ta.
Tuy nhiên, mức lương ở các vùng miền là khác nhau. Cụ thể, mức lương bình
quân ở vùng Đông nam bộ là cao nhất (21.760đồng/giờ), tiếp theo là Đồng bằng sông
Hồng (21.642đồng/giờ) và thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long (16.829đồng/giờ).
Mức lương bình quân của lao động nam và lao động nữ khác nhau ở từng vùng miền
và đều thấp hơn mức lương của nam giới ở cùng vùng miền tương ứng.

38

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu
vực thành thị. Tỷ trọng người làm công ăn lương trong ngành phi nông nghiệp của khu
vực thành thị là 50,6% cao hơn gấp hai lần của khu vực nông thôn 22,5%.
4.2 Kết quả hàm hồi quy tiền lương Mincer
Từ mô hình (3.3), chạy hồi quy hàm tiền lương Mincer lần đầu với các biến phụ
thuộc ở Bảng 3.1.
Ln(mức lương) =β0 + β1 sonamdihoc + β2 kinhnghiem+ β3 kinhnghiem2 +
+β4 kythuat +
++β10 kvhosxkd +

β5 kythuatcc +β6 thanhthi + β7 honnhan
β11 kvtunhan +

β12 kvnuocngoai +

++β15 gioi + ε
Kết quả mô hình hồi quy hàm tiền lương Mincer:

+β8 tplon + β9 kvnlts
β13 kvnhanuoc + β14 bhdv

39

Bảng 4.4 Kết quả hồi quy lần đầu
Biến phụ thuộc Ln( mức lương)
Biến độc lập

Hệ số hồi
quy

Robust
Sai số

P>t

chuẩn

Số năm đi học

0.0292

0.0019

0.0000

Số năm kinh nghiệm

0.0154

0.0021

0.0000

-0.0003

0.0001

0.0000

Lao động có kỹ thuật thấp

0.1146

0.0146

0.0000

Lao động có kỹ thuật trung và cao

0.3861

0.0224

0.0000

Thành thị

0.0804

0.0114

0.0000

Có gia đình

0.0686

0.0135

0.0000

Làm việc ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội

0.1892

0.0157

0.0000

Làm khu vực Nông, lâm, thủy, hải sản

0.3176

0.0629

0.0000

Làm khu vực Hộ SXKD cá thể

0.3198

0.0620

0.0000

Làm khu vực Tư nhân

0.3522

0.0619

0.0000

Làm khu vực Vốn nước ngoài

0.4450

0.0640

0.0000

Làm khu vực Nhà nước

0.4347

0.0623

0.0000

-0.0278

0.0195

0.1540

Giới tính

0.2149

0.0109

0.0000

Tung độ gốc

1.6665

0.0677

0.0000

Số năm kinh nghiệm bình phương

Người lao động làm về ngành bán hàng, dịch
vụ

Số quan sát

6420

R2

0.3954

Prob (F-statistic)

0.0000

40

Kết quả hồi quy lần đầu cho thấy kiểm địnhF-statistic≤ 0.0000,nên mô hình có
ý nghĩa thống kê. Mô hình có R2 = 0.3954 cho biết mô hình đã giải thích được 39.54%
sự biến thiên của tổng thể. Các biến:số năm đi học, số năm kinh nghiệm, số năm kinh
nghiệm bình phương, giới tính có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tương tự,biến lao động
trình độ chuyên môn thấp, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trung và cao,
người lao động làm việc ở thành thị, đang có gia đình, làm việc ở hai thành phố lớn
cũng đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Biến ngành bán hàng, dịch vụ không có ý nghĩa về mặt thống kê: p_value là
0,171>0,1. Mặc dù xét theo ý nghĩa kinh tế cho thấy, người lao động làm trong ngành
dịch vụ, bán hàng thì sẽ có mức lương cao hơn lao động làm trong lĩnh vực nông
nghiệp, sản xuất. Điều này có thể giải thích là: Mỗi ngành nghề đều có yêu cầu nhất
định về trình độ giáo dục và kỹ năng chuyên môn tương ứng. Một lao động có tay nghề
và học vấn hơn so với một lao động khác thì có xu hướng là mức lương của người có
tay nghề và học vấn cao hơn sẽ cao hơn người kia khi hai người cùng hoạt động trong
một ngành. Do đó trong mô hình này, tác giả sẽ xem xét yếu tố số năm đi học và trình
độ kỹ năng chuyên mônvà không cần xem xét yếu tố ngành nghề làm việc nữa.
Đối với biến khu vực làm việc. Mặc dù các biến giả này đều có ý nghĩa thống kê
ở mức 1% và dấu kỳ vọng phù hợp. Tuy nhiên việc chia thành nhiều biến giả đã làm
tình trạng đa cộng tuyến trầm trọng hơn, dẫn đến hệ số hồi quy và sai số chuẩn không
còn đúng nữa. Nên tác giả đề xuất tạo biến khu vực làm việc là biến nhị phân, gồm
biến làm nhà nước và biến ngoài nhà nước.
Lúc này mô hình hồi quy hàm tiền lương Mincer lần haivới mô hình và có kết
quả như bảng 4.2:
Ln(mức lương) =β0 + β1 sonamdihoc + β2 kinhnghiem+ β3 kinhnghiem2 +
+β4 kythuat +
++β10 gioi + ε

β5 kythuatcc +β6 thanhthi + β7 honnhan

+β8 tplon + β9 kvnhanuoc

41

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy lần thứ hai
Biến phụ thuộc Ln(mức lương)
Biến độc lập

Hệ số hồi
quy

Robust
Sai số

P>t

chuẩn

Số năm đi học

0.0297

0.0018

0.0000

Số năm kinh nghiệm

0.0144

0.0021

0.0000

-0.0003

0.0001

0.0000

Lao động có kỹ thuật thấp

0.1235

0.0132

0.0000

Lao động có kỹ thuật trung và cao

0.3931

0.0223

0.0000

Thành thị

0.0820

0.0111

0.0000

Có gia đình

0.0701

0.0136

0.0000

Làm việc ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội

0.1894

0.0154

0.0000

Làm khu vực nhà nước

0.0893

0.0166

0.0000

Giới tính

0.2039

0.0112

0.0000

Tung độ gốc

1.9875

0.0245

0.0000

Số năm kinh nghiệm bình phương

Số quan sát

6420

R2

0.3890

Prob (F-statistic)

0.0000

Kết quả hồi quy lần hai cho biết mô hình có ý nghĩa thống kê (F-statistic≤
0.0000). Mô hình có R2 = 0.3890 cho biết mô hình đã giải thích được 38.9% sự biến
thiên của tổng thể. Mô hình hồi quy hàm tiền lương Mincer cho kết quả hồi quy và dấu
các hệ số hồi quy phù hợp với kỳ vọng. Tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê và
không có đa cộng tuyến cao (Xem phụ lục 3). Kết quả cụ thể:
Số năm đi học của người lao động tác động dương (+) với mức lương: Với mỗi
năm đi học tăng thêm thì mức lương của người lao động sẽ tăng thêm e0.0297= 1.0302

42

lần, tức 3.02%. Số năm kinh nghiệm của lao động tăng thêm một đơn vị thì mức lương
sẽ tăng tương ứng e0.0144= 1.0145 lần, tức 1.45%. Hệ số hồi quy của biến kinh nghiệm
bình phương mang dấu âm (-) chứng tỏ mức độ giảm dần của tiền lương biên theo số
năm làm việc.
Về chuyên môn của người lao động tác động rất lớn đối với mức lương của họ.
Cụ thể, đối với lao động có trình độ kỹ thuật có mức lương trung bình cao hơn so với
người làm công việc giản đơn là e0.1235= 1.1314 lần, tức 13.14%. Còn đối với những lao
động có trình độ tay nghề chuyên môn kỹ thuật trung cấp và cao cấp thì có mức lương
cao hơn so với lao động làm công việc giản đơn là đơn là e0.3931= 1.4816 lần, tức
48.16%.
Mức sống, độ phức tạp của công việc ở nông thôn thấp hơn thành thị nên tiền
lương ở nông thôn thấp hơn ở thành thị. Mức chênh lệch này có xu hướng ngày càng
tăng (Gallup, 2004). Cụ thể người lao động làm việc ở thành thị sẽ có mức lương cao
hơn e0.082 = 1.0854 lần, tức 8.54% so với lao động làm việc ở nông thôn. Tương tự như
đối với lao động sinh sống và làm việc ở thành thị, những người lao động làm việc tại
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có mức lương cao hơn các tỉnh khác. Ở hai vùng
kinh tế trọng điểm của cả nước, thì người lao động được trả mức lương cao hơn e0.1894
= 1.2086 lần, tức 20.86% so với lao động ở các tỉnh khác vì ở những nơi này tập trung
phần lớn các hoạt động thương mại, tài chính, văn hóa của các tổ chức kinh tế.
Vì tuổi kết hôn ngày càng tăng cao, nên những người kết hôn thường có một số
năm kinh nghiệm nhất định góp phần làm tăng mức lương. Ngoài ra yếu tố gia đình
cũng là động lực tinh thần để người lao động cố gắng làm việc hơn. Nên người lao
động đang có vợ hoặc đang có chồng thì mức lương cao hơn e0.0701 = 1.0726 lần, tức
7.26% so với những người đang sống độc thân.
Mô hình cũng cho thấy, biến giới tính cho biết nếu người lao động là nam giới
sẽ có mức lương cao hơn e0.2039 = 1.2262 lần, tức 22.62%so với mức lương của lao
động nữ. Điều này chứng tỏ có sự chênh lệch vềtiền lương của nam giới và nữ giới.

43

4.3 Kết quả hàm hồi quy mô hình tương tác
Từ hai mô hình hồi quy trên cho thấy rằng mức lương của lao động nam cao hơn
lao động nữ. Tuy nhiên, chưa thể kết luận rằng có sự phân biệt đối xử trong việc trả
tiền lương cho lao động nam và lao động nữ. Vì tiền lương của người lao động là nam
giới cao hơn nữ giới có thể là do nam giới có học vấn cao hơn hoặc kinh nghiệm nhiều
hơn, chuyên môn kỹ thuật cao hơn hoặc do các yếu tố khác đã phân tích ở trên. Do đó
để đánh giá có sự phân biết đối xử giữa lao động nam và lao động nữ hay không phải
tiến hành phân tích kết quả bằng mô hình hồi quy tương tác.
Kết quả hồi quy mô hình tương tác như sau:

44

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình tương tác
Biến phụ thuộc Ln(mức lương)

hồi quy
0.0356

Robust
Sai số
chuẩn
0.0033

-0.0093**
0.0113
0.0037
-0.0002
-0.0001
0.0858

0.0039
0.0038
0.0046
0.0001
0.0001
0.0245

0.018
0.003
0.424
0.073
0.328
0

Lao động có kỹ thuật thấp*giới tính
Lao động có chuyên môn kỹ thuật cao
Lao động có chuyên môn kỹ thuật cao*giới tính
Thành thị
Thành thị*giới tính
Có gia đình
Có gia đình*giới tính
Làm việc ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội
Làm việc ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội*giới
tính
Làm ở khu vực nhà nước

0.0567**
0.3511
0.0562
0.0647
0.0321
0.0471
0.0415
0.2007

0.0289
0.0345
0.0455
0.0181
0.0229
0.0213
0.0276
0.0229

0.05
0
0.217
0
0.161
0.027
0.132
0

-0.0169
0.1574

0.031
0.0252

0.585
0

Làm ở khu vực nhà nước*giới tính
Giới tính
Tung độ gốc
Số quan sát
R2
Prob (F-statistic)

-0.1215*
0.2355
1.9713
6420
39.41
0.0000

0.0334
0.0506
0.0422

0
0
0

Biến độc lập
Số năm đi học
Số năm đi học*giới tính
Số năm kinh nghiệm
Số năm kinh nghiệm*giới tính
Số năm kinh nghiệm bình phương
Số năm kinh nghiệm bình phương*giới tính
Lao động có kỹ thuật thấp

*

Hệ số

Có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, **Có ý nghĩa thống kê ở mức 10%

P>t
0