Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIỀN LƯƠNG

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIỀN LƯƠNG

Tải bản đầy đủ

8

Tính luôn biến đổi: Khác với giới tính là các đặc điểm sinh học của nam và nữ
đã có từ khi mới sinh ra, giới được hình thành trong quá trình phát triển nhân cách và là
kết quả của một quá trình học hỏi thông qua sự tương tác của cá nhân với môi trường
văn hóa, xã hội (gia đình, nhà trường, nơi làm việc, phương tiện thông tin đại chúng).
Đây là những đặc điểm không bất biến mà có thể đổi chỗ cho nhau và thay đổi theo sự
biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, tập quán.
Tính có thể thay đổi được: Cũng vì các quy định về giới do xã hội tạo ra nên
cùng với sự tiến bộ nhận thức của xã hội thì các quy định về giới cũng thay đổi theo,
chẳng hạn như địa vị xã hội của người phụ nữ hiện nay khác hoàn toàn so với thời
phong kiến, phụ nữ có thể làm tổng thống, nam giới có thể làm người nuôi dạy trẻ.
2.1.2 Bình đẳng giới
Là việc “nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát
huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như
nhau về thành quả của sự phát triển đó” (Điều 5, Luật bình đẳng giới, 2006).
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và
khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng
để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng
để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát
triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng
thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội (Ủy ban quốc gia vì sự
tiến bộ phụ nữ Việt Nam, 2004).
Bình đẳng giới không phải là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu
tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung sự
bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là chủ yếu nên khi đề cập đến bình đẳng giới, sẽ
thường nói đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ. Trong gia đình, bình đẳng giới là các
thành viên có sự bình đẳng với nhau. Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được

9

các thanh viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia sẻ và cùng nhau hưởng thụ
thành quả từ những công việc đó mang lại.
Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không có nghĩa là sự hoán đổi vai trò, vị
trí của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác. Chính khái niệm này cũng không
tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang bằng nhau mà là sự khác biệt về giới tính
trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, nhất là sự chia sẻ
công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình nhằm tạo điều kiện và cơ hội để
cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt. Hơn nữa, khái niệm này cũng đề cập đến
việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ được bù đắp những khoảng trống do gánh vác
phần lớn nội trợ gia đình cũng như việc mang thai, sinh con.
2.1.3 Bất bình đẳng giới
Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW
(1979). Đã định nghĩa việc phân biệt đối xử giới: Bất cứ sự phân biệt, sự loại trừ hoặc
hạn chế nào được thực hiện trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích
làm suy giảm hoặc vô hiệu hoá sự công nhận, quyền thụ hưởng hoặc quyền sử dụng
của phụ nữ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ, trên cơ sở bình quyền nam nữ, nhân
quyền và các quyền tự do cơ bản khác trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá,
dân sự hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngườicủa Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc
năm 1948 định nghĩa rằng: bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở giới tính,
chủng tộc, màu da, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh
hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và
nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia
đình, 2013).
Các dạng tồn tại của bất bình đẳng giới: Gánh nặng công việc, sự phân biệt đối
xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những định kiến và bạo lực trên cơ sở giới
tính.Từ đó có thể thấy bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính

10

mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực
của xã hội và quá trình phát triển của con người. Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì
sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân
biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa
hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ.
2.2 Các lý thuyết liên quan về tiền lương và bất bình đẳng giới về tiền lương
2.2.1 Lý thuyết tiền lương
Lý thuyết tiền lương được các nhà kinh tế thuộc trường phái Kinh tế cổ điển đề
cập vào cuối thế kỷ 18. William Petty, David Ricardo, Adam Smith là những tác giả
nổi bật của trường phái này, là những người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho
nguyên lý giá trị lao động (Bùi Thái Quyên, 2012):William Petty cho rằng người lao
động được trả lương cao hơn sẽ lười lao động hơn nên tiền lương của công nhân không
thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết.David Ricardo coi lao động là hàng hóa,
cho rằng tiền lương là giá cả thị trường của lao động. Tiền lương được xác định trên cơ
sở giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động. Giá cả tự nhiên của lao động là giá trị những
tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình họ.Adam Smith xem tiền
lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao
động. Ông ủng hộ việc trả lương cao.
Lịch sử về lý thuyết tiền lương có thể được chia thành ba giai đoạn: (1) đến năm
1870 lý thuyết về Quỹ lương thống trị; (2) giai đoạn 1870-1914: lý thuyết về năng suất
biên thống trị và (3) giai đoạn 1914- nay: là các lý thuyết về tiền lương theo kinh tế học
(John. T. Dunlop, 1957).
Theo Lý Thuyết tiền lương hiệu quả của Akerlof (1982): Người sử dụng lao động
nên trả lương cao hơn mức cân bằng vì góp phần làm tăng sức khỏe người lao động, từ
đó làm tăng hiệu quả làm việc của công nhân. Khi người lao động nhận được thù lao
tốt hơn, ăn thức ăn nhiều chất dinh dưỡng hơn, họ sẽ khỏe mạnh hơn và có năng suất

11

lao động cao hơn. Lý luận này rất thích hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại đó,
người lao động thường không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng.
Tiền lương được các nhà kinh tế học tư sản giải thích là giá cả của lao động hoặc
giá cả của dịch vụ hay sản phẩm lao động. Còn theo Karl Marx, tiền lương chính là giả
cả của hàng hóa sức lao động. Dưới chủ nghĩa tư bản, người công nhân bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản và nhận được tiền lương với tư cách là vật ngang giá
(Marx và Angel toàn tập, 1980).
2.2.2 Khái niệm tiền lương
Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO, 1949), tiền lương là sự trả công có thể
biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và
người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động
phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện
hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Ở Việt Nam, tại Điều 90 Bộ luật lao động (2012) định nghĩa: “tiền lương là
khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc
theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ
cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp
hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho người lao động căn
cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo
đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công
việc có giá trị như nhau”. Mặc dù Bộ luật lao động không quy định tiền lương được trả
dựa theo yếu tố nào, miễn sao cao hơn mức lương tổi thiểu. Tuy nhiên, trên thực tế các
yếu tố như trình độ giáo dục, kinh nghiệm, ngành nghề công việc, nơi công tác, giới
tính có ảnh hưởng lớn đến tiền lương của người lao động.
2.2.3 Bất bình đẳng giới trong tiền lương
Trong cuộc sống, sự bất bình đẳng đang diễn ra ở rất nhiều dạng. Sự phân biệt đối
xử và bất bình đẳng giới cũng xảy ra ở hầu hết các xã hội trên thế giới. Bất bình đẳng

12

giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập được hưởng của lao động nam và lao
động nữ mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động như nhau (Rio, C.
D và các cộng sự, 2006).
2.3 Ảnh hưởng của bất bình đẳng giới trong tiền lương đến phát triển kinh tế
Ngân hàng thế giới (2001) cho rằng: Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là
một trong những nguyên nhân gốc rễ gây ra nghèo đói vừa là nhân tố gây trở ngại lớn
đối với phát triển kinh tế. Bất bình đẳng giới không chỉ là những bất công đối với cá
nhân mỗi người phụ nữ mà còn có cả những tác động bất lợi đối với gia đình họ. Do ít
có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo dục và đào tạo, thường gặp nhiều khó
khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình nên
cộng với việc thường được trả công thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc.
Sự chênh lệch về thu nhập tương quan với sự bất bình đẳng trong y tế, tiếp cận giáo
dục, và tiếp xúc với các nguy cơ về môi trường, tất cả những vấn đề này đều ảnh
hưởng nặng đối với phụ nữ trong dân số.
Việc giải quyết hiện tượng bất bình đẳng giới trong thu nhập là tạo quyền cho
phụ nữ bị thiệt. Khi có vị thế bình đẳng như nam giới thì phụ sẽ phát huy hết khả năng
và thực hiện các nguyện vọng của mình để đóng góp, tham gia và hưởng thụ các nguồn
lực và thành quả phát triển của xã hội; cũng như được bình đẳng trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống gia đình và xã hội.
2.4 Các công trình nghiên cứu trước có liên quan
Để minh chứng cho vấn đề chênh lệch mức lương theo giới, một vài nghiên cứu
điển hình về sự khác biệt giữa nam và nữ liên quan đến những vấn đề cơ bản như việc
làm (Olson và Becker, 1983; Tansel, 2005), cơ hội thăng tiến (Olson và Becker, 1983),
đặc biệt là bất bình đẳng giới trong thu nhập (Oaxaca, 1973).
Trong nghiên cứu về khoảng cách thu nhập giới của Việt Nam giai đoạn 1993 –
1998, Amy Liu (2004) đã sử dụng mô hình của Juhn (1991) - phát triển từ mô hình của
Oaxaca để xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố như: kinh nghiệm, nhóm ngành nghề,

13

di cư, tình trạng hôn nhân, yếu tố khu vực đến biến độc lập là log của tỷ lệ thu nhập.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam có bất bình đẳng giới trong thu nhập, tuy
nhiên khoảng cách về thu nhập và sự phân biệt có xu hướng thu hẹp lại, tương tự như ở
Trung Quốc, sự bất bình đẳng này do sự phân biệt trong xã hội, từ tư tưởng Nho giáo
lâu đời. Sự bất bình đẳng trong thu nhập của nữ so với nam là nguyên nhân của cả định
kiến của người thuê lao động lẫn các nguyên nhân thị trường.
Danijel Nestic (2010) sử dụng dữ liệu vĩ mô từ các cuộc điều tra lao động của
năm 1998 và năm 2008 ở Croatia để xây dựng hàm tiền lương do Mincer (1974) đề
xuất, nhằm đánh giá khoảng cách tiền lương theo giới qua việc phân phối tiền lương.
Bài viết này lập luận rằng phụ nữ làm việc ở Croatia có chất lượng cao hơn nam giới,
đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục nhưng nhận được thu nhập thấp hơn. Để giải thích
sự khác biệt này, kinh tế lao động đã thường nhìn vào sự khác biệt trong đặc điểm vốn
con người, chẳng hạn như giáo dục và kinh nghiệm. Vì phụ nữ trong nhiều quốc gia có
nền giáo dục kém hơn và ít kinh nghiệm thị trường lao động hơn so với nam giới. Từ
đó năng suất lao động thấp hơn, điều này có thể giải thích một phần của khoảng cách
lương giữa hai giới. Vai trò của yếu tố ngành nghề và công ty cụ thể cũng đã được
nghiên cứu. Tuy nhiên, khoảng cách tiền lương vẫn còn ngay cả sau khi tính toán sự
khác biệt trong tất cả các đặc điểm quan sát.
Các nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều yếu tố tác động đến thu nhập của cá nhân
và hộ gia đình, trong số đó có các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế. Mỗi một yếu tố có
sự ảnh hưởng khác nhau đến thu nhập của cá nhân và hộ gia đình. Cụ thể, nghiên cứu
của Acemoglu và Angrist (2000) chỉ ra là với mỗi năm đi học tăng thêm thì mức lương
trung bình tăng 7.5%. Hoặc nghiên cứu của Caponi và Plesca (2009) cho thấy rằng với
những người tốt nghiệp đại học sẽ có thu nhập cao hơn người chỉ tốt nghiệp trung học
phổ thông từ 30% đến 40%. Borjas (2005) ghi nhận rằng giá trị ước lượng thống nhất
về suất sinh lợi từ đi học ở Hoa Kỳ dựa trên hàm thu nhập của Mincer là xấp xỉ 9%
trong thập niên 90. Psacharopoulos (1994) sử dụng số liệu quốc tế để ước lượng hệ số

14

của biến số năm đi học. Trong khi giá trị ước lượng hệ số bình quân của các nước phát
triển là 6,8%, hệ số ước lượng này của châu Á và châu Mỹ Latin lần lượt là 9,6% và
12,4%.
Timothy A. Judge và Daniel M. Cable (1994) chỉ ra rằng tuổi tác, chủng tộc và
giới tính là các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn công
việc, từ đó ảnh hưởng đến mức lương. Dựa vào nhóm yếu tố về nhân khẩu học ở trên,
các biến tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc được sử dụng làm
các biến điều khiển trong mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, để phân tích sự khác biệt
trong hành vi lựa chọn công việc của từng nhóm người lao động thuộc các thành phần
doanh nghiệp khác nhau, biến loại hình doanh nghiệp đang làm việc được đưa thêm
vào mô hình để phân loại.
Oaxaca Ronal (1973) nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch về thu nhập giữa nam
và nữ trong thị trường lao động thành thị. Ông đã đưa ra phương pháp tiếp cận, đánh
giá sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến sự chênh lệch này.
Trong Báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển xã hội - Liên hiệp quốc về Vấn đề
giới trong chính sách cải cách cơ cấu và vĩ mô toàn diện (Lê Anh Tú, 2005) đã phân
tích ảnh hưởng của chính sách vĩ mô tới phụ nữ bằng việc phân tích mối liên hệ giữa
cải cách, bình đẳng giới, phát triển kinh tế và phúc lợi dành cho nữ giới trong những
năm 90 ở Việt Nam, thời gian diễn ra công cuộc cải cách toàn diện và có ảnh hưởng
sâu rộng của chính phủ. Nghiên cứu này dựa trên phương pháp mô tả, tổng hợp và
phân tích thống kê nhằm giải thích ảnh hưởng của chính sách tự do hóa thị trường và vĩ
mô đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ.
Brassard (2004) tìm hiểu những qui định về lao động và tiền lương ở Việt Nam
trong chương trình giảm nghèo. Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của những quy
định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến việc giảm nghèo ở Việt Nam
thông qua việc sử dụng số liệu cấp xã về lương năm 1998. Nghiên cứu này cũng xác

15

định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, ảnh hưởng của các qui định về
lương và lao động đến người nghèo.
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiền lương
2.5.1 Các quan niệm và tư tưởng truyền thống
Theo Ngân hàng thế giới (2001) thì những quan niệm bất bình đẳng giới đã và
đang là những trở ngại đối với sự phát triển cân bằng giới, quan hệ bình đẳng giữa nam
và nữ.
Những quan niệm từ thời phong kiến về giá trị, địa vị của người phụ nữ trong
gia đình và xã hội đã rất lạc hậu nhưng không dễ thay đổi: Nam giới được quyền tham
gia việc ngoài xã hội, đứng ra thực hiện chức năng sản xuất, chịu trách nhiệm gánh vác
gia đình và quản lý xã hội nên được xã hội tôn trọng. Còn phụ nữ chỉ là người thừa
hành, trông con, nội trợ, làm việc nhà, chăm sóc người bệnh. Đây là những công việc
không được trả lương nên sẽ phụ thuộc vào nam giới. Đây là nguyên nhân làm hạn chế
cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục, lựa chọn nghề nghiệp, nâng cao trình độ
chuyên môn. Chính những bất lợi này đã gây cản trở việc cải thiện vị thế kinh tế cho
phụ nữ, tạo ra bất bình đẳng trong thu nhập so với nam giới (Nguyễn Huy Toàn, 2010).
2.5.2 Các yếu tố kinh tế
Dựa vào các nghiên cứu trước có liên quan được liệt kê ở trên, tác giả tổng kết
các yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong tiền lương phù hợp với điều
kiện của Việt Nam.
2.5.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
Nhóm yếu tố đặc điểm của người lao động gồm: Giới tính, độ tuổi, tình trạng
hôn nhân.
Nghiên cứu thực nghiệm của Borjas (2005) cho thấy rằng thu nhập của một cá
nhân phụ thuộc vào tuổi tác của người đó. Những người trẻ thì tiền lương thấp, sẽ tăng
lên khi họ trưởng thành do tích lũy được kinh nghiệm rồi có thể giảm xuống khi người

16

đó già đi. Đặc biệt tiền lương của lao động nam giới trẻ sẽ tăng nhanh hơn tiền lương
của lao động nữ giới cùng trang lứa.
Tình trạng hôn nhân ảnh hưởng lên thu nhập của lao động nam và lao động nữ
(Amy Y.C.Liu, 2004): Khi đã có gia đình và con cái thì nhu cầu tìm việc làm thường
tăng ở cả nam và nữ. Nhưng có sự khác biệt giữa hai giới là: phụ nữ phải chăm sóc con
và công việc gia đình nhiều hơn nam giới làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất kéo
theo thu nhập ít hơn so với lao động nam.
Giới tính có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động. Theo Timothy A.
Judge và Daniel M. Cable (1994) giới tính là yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đáng kể
đến quyết định chọn công việc, từ đó ảnh hưởng đến mức lương của người lao động.
2.5.2.2 Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến thu nhập của
người lao động. Những công việc mà đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức
tạp thì sẽ có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc đơn giản. Người lao động
được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm công việc có thu
nhập cao hơn. Psacharopoulos năm 1994 nghiên cứu rằng trình độ giáo dục có ảnh
hưởng đến mức lương.
Mincer (1974) đã chứng minh rằng số năm đi học tác động cùng chiều với tiền
lương của người lao động. Chi phí cơ hội cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học
được xem là tổng chi phí đầu tư. Mô hình ước lượng suất sinh lợi từ giáo dục của
Mincer đã thể hiện mối quan hệ giữa tiền lương với số năm đi học, số năm kinh
nghiệm, số năm kinh nghiệm bình phương. Theo đó với một năm đi học tăng thêm thì
người lao động sẽ có một khoản thu nhập nhất định tăng lên.
2.5.2.3 Nhóm yếu tố lao động, việc làm
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc,
tổ chức làm việc.

17

Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương
thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu về kỹ năng,
trình độ của ngành này thấp (Borjas, 2005). Trong cùng một ngành nghề thì thu nhập
của người lao động còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh
nghiệm công tác của người lao động đó. Những công việc phức tạp được trả lương cao
hơn những công việc giản đơn và những người có thời gian tiếp xúc với công việc lâu
dài hơn thì sẽ thành thạo công việc hơn những người ít kinh nghiệm. Do đó sẽ được trả
lương cao hơn.
Về yếu tố kinh nghiệm, nghiên cứu của Amy Liu năm 2004 đã chỉ ra sự ảnh
hưởng của các yếu tố kinh nghiệm có ảnh hưởng đến mức lương của người lao động.
Tổ chức mà cá nhân đang làm việc cũng ảnh hưởng đến sự khác biệt tiền lương
giữa lao động nam và lao động nữ. Tổ chức nào tuân thủ pháp luật hơn sẽ thi hành các
chính sách bình đẳng giới của nhà nước tốt hơn. Từ đó phụ nữ được tạo nhiều cơ hội
làm việc tương xứng với khả năng của mình và tiền lương cũng sẽ bình đẳng hơn.
Ngược lại, phụ nữ sẽ chịu nhiều thiệt thòi nếu tổ chức nào không chịu sự chi phối chặt
sẽ của pháp luật.
2.5.2.4 Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/nông thôn
Theo Amy Y.C.Liu (2004), yếu tố vùng miền có tác động đến mức lương của
người lao động. Điều kiện kinh tế ở mỗi vùng khác nhau nên mức chi tiêu ở các vùng
cũng khác nhau. Ở những vùng miền có mức sống cao thì thu nhập trả cho người lao
động ở vùng miền đó phải cao để đảm bảo cuộc sống của bản thân người lao động và
gia đình họ.
Mức sống và thu nhập của người lao động cũng thuộc khu vực sinh sống là thành
thị hay nông thôn. Những công việc có cùng mức độ phức tạp thì người lao động ở
thành thị có mức thu nhập cao hơn với nông thôn.

18

2.5.2.5 Môi trường chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi
mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã
hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội; Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và đánh giá đối với
mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Ngoài ra, còn có Luật Bình
đẳng giới năm 2007 và Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2008 là những luật
chuyên môn về giới bên cạnh các nghị quyết, chính sách riêng cho công tác phụ nữ đều
đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện cho lao động
nam và lao động nữ phát triển bình đẳng, tiến bộ. Điều này cho thấy nổ lực phấn đấu vì
mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc làm
chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát triển của
đất nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao động nữ như
chính sách phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làm các công việc nặng
nhọc, nguy hiểm như có 77 ngành nghề không được sử dụng lao động nữ theo Thông
tư 26/2013/TT-BLĐTBXH.
2.5.2.6 Nhóm các yếu tố khác
Một số yếu tố khác như tình trạng sức khoẻ, chi tiêu bình quân đầu người cũng
có quan hệ nhất định với thu nhập.
Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian lao động, khối lượng và chất lượng
công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệ thuận đối với thu nhập của người lao động.
Nhu cầu chi tiêu cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập do người lao động phải
tìm những công việc lương cao hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia
đình trong khi những người có nhu cầu chi tiêu ít hơn thường dễ vừa lòng với công
việc có mức thu nhập vừa phải.