Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU

CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU

Tải bản đầy đủ

2

đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp. Đề tài sử dụng dữ liệu bảng
cùng 3 phƣơng pháp ƣớc lƣợng: pooled OLS, fixed effect, random effect. Bài
nghiên cứu này còn sử dụng phƣơng pháp hồi quy biến công cụ để giải quyết vấn
đề nội sinh giữa đòn bẩy tài chính và đầu tƣ. Ngoài ra, tác giả còn kiểm tra sự
vững mạnh của các kết quả bằng cách kiểm soát ngành công nghiệp cho các tác
động và sau đó hạn chế việc phân tích cho các công ty sản xuất.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài nhằm tìm hiểu tác động của đòn bẩy tài
chính đối với quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp bằng việc sử dụng dữ liệu của
các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong
giai đoạn 2008-2013. Bài nghiên cứu này còn xem xét tác động này ảnh hƣởng
nhƣ thế nào đối với các công ty có cơ hội tăng trƣởng cao và các công ty có cơ
hội tăng trƣởng thấp.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ giải quyết 2 vấn đề sau đây:
 Thứ nhất, tác giả sẽ xem xét tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết
định đầu tƣ của công ty phi tài chính niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt
Nam dựa vào bài nghiên cứu gốc của Varouj và các cộng sự. Liệu có mối tƣơng
quan nào giữa đòn bẩy tài chính và hoạt động đầu tƣ hay không?
 Thứ hai, tác giả xem xét tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định
đầu tƣ của các công ty có cơ hội tăng trƣởng khác nhau có khác nhau hay không?

1.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện đối với những công ty niêm yết trƣớc năm 2009
trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. HCM (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán

3

Hà Nội (HNX). Bao gồm các ngành nghề: Xây dựng, công nghiệp, hàng tiêu
dùng, y tế, sản xuất…

1.3. Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Dữ liệu đƣợc thu thập từ các báo cáo tài chính trong giai đoạn 2008-2013.
Mô hình nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) đƣợc hồi quy
theo 3 cách: pooled OLS (Hồi quy tổng hợp), fixed effect (Tác động cố định),
random effect (Tác động ngẫu nhiên). Để tìm hiểu phƣơng pháp nào là phù hợp
nhất, bài nghiên cứu sử dụng hai kiểm định: kiểm định Likelihood Ratio và kiểm
định Hausman (Hausman, 1978). Tiếp theo, tác giả sử dụng phƣơng pháp biến
công cụ (instrumental variable approach) để giải quyết vấn đề nội sinh có liên
quan đến mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tƣ. Ngoài ra, tác giả còn
kiểm định tính vững của kết quả bằng cách kiểm soát ngành công nghiệp cho các
tác động và sau đó hạn chế việc phân tích cho các công ty sản xuất.

1.4. Ý nghĩa của đề tài
Bài nghiên cứu cho thấy mối tƣơng quan âm giữa đòn bẩy tài chính với
quyết định đầu tƣ của các công ty phi tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn 20082013. Tác động nghịch chiều này mạnh hơn đáng kể đối với những công ty tăng
trƣởng thấp so với những công ty tăng trƣởng cao. Kết quả nghiên cứu thực
nghiệm cho các nhà quản lý bài học quan trọng về việc sử dụng đòn bẩy tài
chính để thực hiện các quyết định đầu tƣ. Những công ty tăng trƣởng cao, gánh
nặng vay nợ không cản trở nhiều đến đầu tƣ miễn là công ty có nhiều cơ hội kinh
doanh tốt. Đối với nhóm công ty tăng trƣởng thấp, gánh nặng tài chính khi sử
dụng đòn bẩy tài chính có thể làm tăng nguy cơ phá sản, vì vậy các nhà quản lý
cần cân nhắc kỹ trƣớc khi đƣa ra các quyết định đầu tƣ.

4

1.5. Cấu trúc bài nghiên cứu
Nội dung của đề tài Tác động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tƣ
của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam bao gồm:
Chƣơng 1: Giới thiệu
Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu lý do chọn nghiên cứu đề tài này,
mục tiêu nghiên cứu muốn đạt được và các vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, tác
giả cũng sơ lược phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài và ý nghĩa
của bài nghiên cứu này.
Chƣơng 2: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây
Chương này sẽ tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác
động của đòn bẩy tài chính đến quyết định đầu tư của công ty.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu
Ở chương này, tác giả sẽ mô tả các dữ liệu và tiến hành hồi quy các biến
bằng các phương pháp hồi quy khác nhau.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm,
ngoài ra bài nghiên cứu còn sử dụng biến công cụ để giải quyết vấn đề nội sinh
tồn tại giữa đòn bẩy tài chính và đầu tư.
Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu
Chương này sẽ tóm tắt một cách ngắn gọn kết quả của bài nghiên cứu
đồng thời đưa ra một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.

5

CHƢƠNG 2.

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC
ĐÂY

2.1. Những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối
quan hệ nghịch giữa đòn bầy tài chính và quyết định đầu tƣ
Theo nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958), trong một thị trƣờng
hoàn hảo thì quyết định đầu tƣ độc lập với quyết định tài trợ. MM cho rằng chính
sách đầu tƣ của công ty phụ thuộc hoàn toàn vào các nhân tố nhƣ cầu trong
tƣơng lai, công nghệ sản xuất của công ty, lãi suất thị trƣờng, đó là những nhân
tố quyết định cơ bản của lợi nhuận, dòng tiền và giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong thực tế do tồn tại những bất hoàn hảo của thị trƣờng nhƣ
chi phí giao dịch, thông tin bất cân xứng, chi phí đại diện giữa nhà quản lý, cổ
đông và chủ nợ… Do đó, có nhiều lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm đã đƣa
ra bằng chứng để chứng tỏ quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tƣ của công ty
rất phức tạp, không giống nhƣ phát biểu của Modigliani và Miller (1958). Các
nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, có ba quan điểm khác nhau về mối quan
hệ giữa đòn bẩy tài chính và đầu tƣ.
Các nhà nghiên cứu đã cho rằng đòn bẩy tài chính và quyết định đầu tƣ có
tƣơng quan nghịch. Trong nghiên cứu của Myers (1977): “Determinants of
corporate borrowing”, ông đã kiểm tra những khó khăn mà các doanh nghiệp có
thể gặp phải trong việc nâng cao tài chính để nâng giá trị hiện tại ròng dƣơng
(NPV) của các dự án, nếu chúng đƣợc đánh giá cao. Vì vậy, đòn bẩy cao có thể
dẫn đến vấn đề thanh khoản và có thể ảnh hƣởng đến khả năng tài trợ cho tăng
trƣởng của một công ty. Tác giả đã kết luận rằng, chính những mâu thuẫn giữa
các cổ đông, nhà quản lý và các trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay có
thể làm giảm động cơ đầu tƣ vào những cơ hội kinh doanh có NPV dƣơng vì họ
lo sợ những lợi ích từ các dự án sẽ thuộc về trái chủ. Do đó, các doanh nghiệp sử

6

dụng nợ vay cao ít có khả năng đầu tƣ vào các cơ hội tăng trƣởng có giá trị hơn
các doanh nghiệp có mức đòn bẩy tài chính thấp. Chính điều này đã dẫn đến vấn
đề “đầu tƣ dƣới mức” (under-investment). Vì vậy, Myers đã đƣa ra bằng chứng
về mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy với đầu tƣ, nếu công ty sử dụng càng
nhiều nợ vay thì ít có khả năng đầu tƣ vào các dự án có giá trị, và họ có xu
hƣớng đầu tƣ dƣới mức làm giảm giá trị công ty.
Theo nghiên cứu của Jensen (1986): “Agency problems of free cash flow,
corporate finance and takeovers”, các giám đốc vì lợi ích bản thân thƣờng có xu
hƣớng mở rộng quy mô của công ty, thậm chí là thực hiện cả những dự án gây
hại đến lợi ích của cổ đông, dẫn đến “đầu tư quá mức” (over-investment). Trong
trƣờng hợp này nếu sử dụng nợ vay sẽ giúp hạn chế vấn đề đầu tƣ quá mức. Việc
nhà quản lý thực hiện một chính sách nhƣ vậy bị hạn chế bởi sự có sẵn của dòng
tiền tự do và rào cản này bị thắt chặt hơn nữa thông qua vay nợ. Việc phát hành
các hợp đồng nợ buộc các công ty phải trả tiền mặt cả lãi và vốn gốc. Khi công
ty thực hiện các hợp đồng nợ vay, buộc các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm
thanh toán các khoản lãi và tiền gốc khi đến hạn, làm tăng khả năng dẫn đến phá
sản. Do dó, các nhà quản lý sẽ hạn chế đầu tƣ vào các dự án kém. Vì vậy, đòn
bẩy là một trong những công cụ hạn chế việc đầu tƣ quá mức, cho thấy mối quan
hệ nghịch biến giữa nợ và đầu tƣ của các công ty có cơ hội tăng trƣởng thấp. Có
nghĩa là khi công ty có ít cơ hội tăng trƣởng thì khi nợ vay càng cao, công ty
càng ít đầu tƣ. Không những thế, đòn bẩy tài chính còn có tác dụng hạn chế đầu
tƣ quá mức, làm tăng giá trị của công ty.
Ngoài vấn đề chi phí đại diện làm nảy sinh vấn đề đầu tƣ dƣới mức và đầu
tƣ quá mức, một số nhà nghiên cứu khác nhƣ: Lang và cộng sự (1996), Varouj và
cộng sự (2005), Odit và Chittoo (2008), McConnell và Servaes (1995) đã đƣa ra
bằng chứng thực nghiệm về sự khác nhau trong mối quan hệ nghịch biến giữa
đòn bẩy tài chính – quyết định đầu tƣ giữa các công ty có cơ hội tăng trƣởng cao