Tải bản đầy đủ
3 Giải pháp phát huy những tác động tích cực của chính sách cổ tức nhằmtăng trưởng bền vững giá cổ phiếu tại các công ty ngành bát động sản niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Giải pháp phát huy những tác động tích cực của chính sách cổ tức nhằmtăng trưởng bền vững giá cổ phiếu tại các công ty ngành bát động sản niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ

65

cổ phiếu - và một khoản cổ phiếu thưởng thêm. Bên cạnh đo cần phải thủ các
nguyên tắc cơ bản trong chính sách cổ tức.
3.3.1 Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong chính sách cổ tức
Có một số nguyên tắc rút ra từ kinh nghiệm các nước trên thế giới, các công
ty sau khi đã thiết lập được chính sách cổ tức riêng cần tuân thủ đó là:
Công ty cần có một chính sách cổ tức an toàn và nhất quán, ngay cả trong
trường hợp lợi nhuận hoạt động giảm. Một chính sách cổ tức an toàn không đồng
nghĩa với một chính sách cổ tức thấp. Chính sách cổ tức thấp đồng nghĩa với việc
tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại. Nếu tiền mặt tích lũy từ lợi nhuận giữ lại quá lớn thì
khiến cho nhà đầu tư suy nghĩ là công ty khó khăn trong sự tăng trưởng và công ty
lãng phí do giữ tiền mặt quá nhiều ảnh hưởng không tốt lên giá cổ phiếu. Bên cạnh
đó công ty cần có tỷ lệ chia cổ tức hợp lý sao cho vừa thoả mãn được nhu cầu có
một nguồn thu nhập ổn định, nhất quán của cổ đông vừa đảm bảo một tỷ lệ lợi
nhuận giữ lại đủ để tài trợ cho những nhu cầu đầu tư bình thường nhằm duy trì sự
tăng trưởng bền vững của công ty.
Không thể xây dựng chính sách cổ tức chung cho tất cả các công ty trong
mọi thời điểm. Mỗi công ty khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng, hoạt động trong
những lĩnh vực kinh doanh tại những vùng miền riêng biệt và chịu tác động bởi
những nhân tố khác nhau. Trong điều kiện kinh doanh cụ thể, các công ty có chiến
lược và quan điểm kinh doanh khác nhau. Các công ty cần cân nhắc lựa chọn mức
cổ tức phù hợp với đặc điểm, tiềm năng của mình và của cùng một công ty trong
các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển. Chính sách cổ tức khó có thể làm
hài lòng được tất cả các cổ đông. Nhưng công ty phải cân nhắc được lợi ích của
toàn công ty với lợi ích của từng nhóm cổ đông. Ngoài ra, công ty cũng phải dung
hòa được lợi ích giữa cổ đông và ban quản trị, lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ.
Công ty có thể kết hợp các hình thức chi trả cổ tức khác nhau. Các hình thức
chi trả cổ tức không phải chỉ có 3 hình thức: cổ tức tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu
và cổ tức bằng tài sản. Ngoài ra, một số hình thức như: cổ phiếu thưởng, mua lại cổ
phiếu,…cũng có tính chất như một loại hình chi trả cổ tức. Việc sử dụng đa dạng

66

hóa các hình thức chi trả cổ tức vừa giúp các nhà quản trị linh hoạt trong việc lựa
chọn chính sách cổ tức vừa giúp nhà đầu tư dễ dàng lựa chọn danh mục cổ phiếu
sao cho phù hợp với dòng tiền cũng như chiến lược đầu tư ngắn hay dài hạn. Ngoài
ra công ty tránh tối đa việc cắt giảm cổ tức, cho dù công ty đang có một cơ hội đầu
tư mang lại lợi nhuận cao. Những cổ đông quan tâm đến dòng thu nhập tương lai ổn
định và đáng tin cậy từ cổ tức sẽ rất quan tâm đến sự thay đổi chính sách cổ tức đột
ngột của công ty, đặc biệt là khi cổ tức bị cắt giảm với lý do là dùng lợi nhuận giữ
lại để đầu tư vào một dự án mới tạo giá trị gia tăng cho công ty trong tương lai.
Trong trường hợp như thế, để không bỏ lỡ cơ hội đầu tư này, công ty nên chọn giải
pháp đi vay hay phát hành cổ phiếu mới. Nếu vì một lý do nào đó công ty không thể
huy động đủ vốn từ nguồn tài trợ bên ngoài mà buộc phải cắt giảm cổ tức, thì công
ty cần phải cung cấp thông tin đầy đủ và giải thích một cách rõ ràng cho các nhà
đầu tư biết về chương trình đầu tư sắp tới cũng như nhu cầu tài chính cần thiết để tài
trợ cho dự án đó.
3.3.2 Duy trì tỷ lệ trả cổ tức ổn định hàng năm và xác định tỷ lệ chi trả cổ tức
bằng cổ phiếu và bằng tiền mặt hợp lý.
Công ty niêm yết trên TTCK thường chi trả mức cổ tức ổn định hàng năm
trên mệnh giá cổ phiếu. Mức cổ tức này có thể không cao, chỉ bằng lãi suất gửi tiết
kiệm ngân hàng nhưng cũng không nên hoàn toàn không chi trả. Bởi vì:
- Thu hút mọi đối tượng đầu tư là các nhà đầu tư ngắn hạn và dài hạn vì
những nhà đầu tư dài hạn là các nhà đầu tư chiến lược, nắm giữ cổ phiếu trong dài
hạn nhưng các nhà đầu tư ngắn hạn sẽ tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu của
công ty trên TTCK.
- Thu hút và thể hiện sự quan tâm đến những đối tượng đầu tư cổ phiếu cần
cổ tức như một khoản tiền sử dụng cho chi tiêu thiết yếu. Một khoản thu nhập ổn
định tối thiểu cũng sẽ được các nhà đầu tư dài hạn chiết khấu với mức rủi ro thấp và
làm tăng giá cổ phiếu.
Xác định tỷ lệ chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hợp lý, mức chi trả cổ tức bằng cổ
phiếu hàng năm nên dao động trong khoảng từ 10%-15%/năm, đây là mức hợp lý

67

đủ để làm cho cổ phiếu mang tính thanh khoản cao và cao hơn rất nhiều so với việc
trả cổ tức bằng tiền mặt.
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hội tụ đủ các công ty, tập đoàn
có quy mô lớn mạnh, chủ chốt, đại diện cho nền kinh tế cả nước niêm yết, nên chỉ
số giá chứng khoán Việt Nam tại hai Sở giao dịch chưa thực sự là phong vũ biểu
của nền kinh tế và những biến động bất thường nhất thời của thị trường cũng sẽ
nhanh chóng được điều chỉnh. Các nhà đầu tư bản lĩnh vẫn lựa chọn những công ty
có tình hình kinh doanh tốt để đầu tư dài hạn. Vì thế, trong giai đoạn phát triển, có
nhiều dự án đầu tư mới làm tăng giá trị của công ty trong tương lai thì các công ty
nên mạnh dạn vận dụng cách thức trả cổ tức bằng cổ phiếu để giữ lại lợi nhuận sử
dụng tái đầu tư hoặc có thể phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn, nhằm hạn
chế tỷ lệ nợ vay giúp cho tình hình tài chính công ty lành mạnh hơn. Tỷ lệ chi trả
thông thường do đại hội đồng cổ đông quyết định nhưng phải xuất phát từ các yêu
cầu:
- Có nhu cầu sử dụng vốn huy động, không phát hành vì lý do TTCK đang
tăng điểm. Đủ để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động, không huy động dư vì như vậy
công ty sẽ chịu gánh nặng cổ tức ở các năm sau.
- Vẫn đảm bảo một tỷ lệ lợi nhuận giữ lại đủ để tài trợ cho những nhu cầu
đầu tư bình thường khác, nhằm duy trì sự tăng trưởng bền vững của công ty. Tổng
số cổ tức phải trả thêm của những cổ phiếu mới phát hành không vượt quá mức tăng
lợi nhuận của công ty do việc đầu tư thêm dự án mới mang lại.
3.3.3 Chi trả thêm một khoản thưởng cổ tức vào cuối năm.
Ở Việt Nam, các công ty niêm yết thường chia cổ tức làm thành 2 đợt:
Đợt 1 thường là vào tháng 3,4 hàng năm: đây là thời điểm sau khi kết thúc năm tài
chính, các công ty có kết quả của kiểm toán và công bố kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của cả năm và thông báo phân chia lợi nhuận, cổ tức sau khi đã được đại
hội đồng cổ đông thông qua.
Đợt 2 thường vào tháng 7,8 hàng năm: các công ty sau khi có kết quả 6 tháng đầu
năm thường tạm ứng cổ tức cho các cổ đông dựa vào chỉ tiêu kế hoạch và kết quả

68

thực tế đạt được trong nửa năm.
Việc thưởng thêm là một khoản rất linh động mà công ty có thể sử dụng để
điều tiết chính sách cổ tức cho phù hợp với hiệu quả kinh doanh thực tế từng thời
kỳ, đồng thời cũng không ảnh hưởng gì đến việc đảm bảo sự ổn định và nhất quán
của chính sách cổ tức. Công ty có thể công bố một tỷ lệ thưởng thêm vào cuối năm
cho tất cả các cổ đông, còn thưởng bằng tiền mặt hay cổ phiếu thưởng là phụ thuộc
vào tình hình tài chính của công ty. Tuy nhiên, chính vì ưu điểm này mà hiện nay
rất nhiều công ty khác niêm yết trên HOSE và HNX đang áp dụng trả cổ phiếu
thưởng kèm với trả cổ tức bằng cổ phiếu. Vấn đề đặt ra là:
- Nhiều cổ phiếu được phát hành thêm cùng một lúc sẽ làm giá cổ phiếu bị
pha loãng do tổng tài sản của công ty không đổi nhưng số lượng cổ phiếu tăng lên.
Nếu công ty không có biện pháp kinh doanh có hiệu quả và không công bố thông tin
đến nhà đầu tư một cách minh bạch, rõ ràng về kết quả sử dụng vốn sẽ dẫn đến việc
các nhà đầu tư bán bớt số cổ phiếu đang nắm giữ, làm giá cổ phiếu trên thị trường
giảm, đặt công ty trước nguy cơ bị thao túng hay bị thâu tóm, sát nhập.
- Nếu công ty chủ trương áp dụng chính sách cổ tức ổn định, không có ý định
cắt giảm thì lượng cổ phiếu phát hành thêm nhiều sẽ dẫn tới chi phí trả cổ tức ở
những năm sau cao lên tương ứng. Vì vậy, khi tái đầu tư công ty phải đưa những
khoản chi phí này vào dòng ngân lưu của dự án để tính toán hiệu quả mang lại.
- Do nguồn chi cổ phiếu thưởng có thể lấy từ quỹ đầu tư phát triển, thặng dư
vốn hoặc lợi nhuận sau thuế, còn trả cổ tức chỉ có thể lấy từ lợi nhuận sau thuế, nên
trong trường hợp công ty đã có số lượng cổ phiếu phát hành phù hợp với nhu cầu
vốn sử dụng thì nên chi cổ tức bằng tiền mặt và trả thêm một khoản cổ phiếu
thưởng. Như vậy, các cổ đông vừa có thu nhập thực tế vừa có một khoản cổ phiếu
thưởng thêm, đáp ứng nhu cầu lãi vốn trong tương lai. Để khắc phục tình trạng này,
nên xem xét và quy định lại cách tính tỷ số P/E. Nếu cổ phiếu thưởng dùng để
thưởng thêm không áp dụng cho mọi cổ đông theo tỷ lệ như nhau mà chỉ áp dụng
cho cán bộ công nhân viên của công ty thì đây phải được xem như một khoản chi
phí có tính chất tiền lương nhằm thu hút và giữ chân người tài. Như vậy, chỉ tiêu thu

69

nhập bình quân mỗi cổ phiếu sẽ giảm do chi phí tăng, dẫn tới chỉ số P/E phản ánh
đúng thực chất kết quả kinh doanh của công ty hơn. Căn cứ vào đó, các nhà đầu tư
bên ngoài sẽ lựa chọn và ra quyết định đầu tư.
3.3.4 Điều chỉnh chính sách cổ tức của công ty phù hợp trong từng giai đoạn
kinh tế
Việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh để xây dựng chính sách cổ tức cao và
hợp lý chỉ mang tính tình thế trong giai đoạn suy giảm kinh tế. Kinh tế thế giới đã
vượt qua giai đoạn khủng hoảng nhất. Nền kinh tế Việt Nam và TTCK cũng đã
bước qua giai đoạn suy giảm, tình hình hoạt động các công ty theo dự báo sẽ sớm
hồi phục và đi vào ổn định. Đến lúc đó, các công ty cần thực hiện chính sách cổ tức
dài hạn đã đặt ra trước đây. Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2009-2013 là giai đoạn
khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của công ty nói
riêng. Trong bối cảnh TTCK giảm mạnh, một số công ty đã công bố kế hoạch mua
lại cổ phiếu của chính công ty làm cổ phiếu quỹ với mục đích là bình ổn giá, hỗ trợ
tâm lý cho nhà đầu tư và đây cũng là hình thức đầu tư dài hạn vì giá cổ phiếu đang
ở mức thấp. Số tiền bỏ ra mua cổ phiếu quỹ này thường chiếm 5 - 15% vốn điều lệ.
Tuy nhiên, việc mua cổ phiếu quỹ không đúng như kế hoạch đã công bố với tỷ lệ
mua được thấp, có hiện tượng làm giá cổ phiếu sẽ không đạt được hiệu quả như
mong muốn do đó khó có thể đưa giá cổ phiếu về giá trị thật. Ngoài ra, việc mua cổ
phiếu quỹ có thể nâng đỡ giá nhưng một khi việc này chấm dứt thì giá cổ phiếu lại
giảm.
Nếu hội đồng quản trị cắt giảm cổ tức thì sẽ gặp phải sự phản ứng của các
nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu. Hệ quả của việc giảm cổ tức là giảm giá cổ
phiếu công ty trên TTCK tại ngày thông báo giảm hay cắt giảm cổ tức. Các công ty
nên quyết định cắt giảm cổ tức chỉ khi công ty cạn kiệt tiền mặt tại quỹ và khả năng
duy trì nợ an toàn. Mặt khác khi giảm cổ tức sẽ gây cho nhà đầu tư tâm lý là ban
giám đốc làm việc không hiệu quả. Việc ổn định tâm lý của nhà đầu tư trong giai
đoạn này cần được đặt trọng tâm. Trong bối cảnh đa số nhà đầu tư chứng khoán đều
thua lỗ thì việc chi trả cổ tức cao sẽ góp phần cải thiện thu nhập cho nhà đầu tư.

70

Đặc biệt, từ nguồn cổ tức này, nhà đầu tư sẽ có thêm tiền mặt để tái đầu tư khi giá
nhiều cổ phiếu quá rẻ, giúp họ cân bằng lại giá vốn đầu tư. Công ty cần căn cứ vào
tình hình thực tế hoạt động của công ty để điều chỉnh chính sách trả cổ tức bằng tiền
mặt ở mức hợp lý trong ngắn hạn.
3.3.5 Tổ chức công bố thông tin chi trả cổ tức của công ty niêm yết
Trong mô hình nghiên cứu cho thấy sự tác động của nhân tố giá cổ phiếu
trước ngày có thông báo chi trả cổ tức tiền mặt có tác động đến giá cổ phiếu tại thời
điểm có thông tin chi trả cổ tức. Với mức ý nghĩa của nghiên cứu khá cao nên thông
qua tác động tích cực này chúng ta có thể tác động làm giá cổ phiếu tăng trưởng bền
vững.
Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam nên cần có một bộ phận làm báo
cáo ngắn hạn, trung và dài hạn tình hình lợi nhuận, các dự án và kế hoạch đầu tư, dự
báo các dòng tiền một cách chính xác để nhà quản trị hoạch định được một chiến
lược chi trả cổ tức hợp lý, thời gian công bố thông tin chính xác và bảo mật. Thậm
chí, công ty cũng phải có một bộ phận xem xét, nghiên cứu chính sách cổ tức của
các công ty trong và ngoài nước, đặc biệt là các công ty trong cùng ngành hay cùng
đặc điểm hay cả đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Sau khi xây dựng các đội ngũ và phòng ban bộ phận phụ trách các công việc
báo cáo và dự báo tình hình kinh doanh và kế hoạch cổ tức,các công ty niêm yết cần
phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm thay đổi cách thức công bố thông tin về
các báo cáo, dự báo tình hình kinh doanh và chính sách cổ tức để ngăn chặn được
tình trạng thông tin bất cân xứng. Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư có sự đánh
giá chính xác và rõ ràng hơn về hoạt động chi trả cổ tức của công ty cũng như đánh
giá tiềm năng của công ty.
Công ty cũng nên xem xét đến việc thống nhất các phương thức thông báo
chi trả cổ tức. Việc này vừa giúp các nhà quản trị linh hoạt trong việc công bố chính
sách cổ tức vừa giúp nhà đầu tư dễ dàng lựa chọn danh mục cổ phiếu sao cho phù
hợp với dòng tiền cũng như chiến lược đầu tư ngắn hay dài hạn.

71

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng như Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Bộ
tài chính, các ban ngành trong Chính Phủ,…và các công ty niêm yết cùng các hiệp
hội doanh nghiệp, nhà đầu tư phải có những nghiên cứu về các quy định pháp lý
nhằm có thể bảo vệ tích cực hơn nữa lợi ích của các nhà đầu tư nhỏ nhằm tạo ra một
sân chơi công bằng và hướng tới sự phát triển lành mạnh.
3.4 Các giải pháp hỗ trợ
3.4.1 Chính phủ điều hành nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh niềm tin kinh tế suy giảm, tăng trưởng kinh tế đạt mức thấp,
công ty thận trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, các dự án
mới thiếu hụt vốn đầu tư, các dự án cũ không bán được dẫn đến doanh thu và lợi
nhuận sụt giảm, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư cá nhân duy trì ở mức thấp. Vì thế, cần
phải điều hành nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững và công ty làm ăn hiệu quả,
có lợi nhuận tốt thì sẽ xây dựng chính sách cổ tức hợp lý để phân phối lợi nhuận.
Việc xây dựng các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thích hợp là vấn đề
Chính phủ cần giải quyết nhằm khôi phục đà tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế,
Chính phủ ban hành nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất thông qua đề án
tái cơ cấu nền kinh tế như kích cầu tiêu dùng, giải quyết hàng tồn kho, các chương
trình ưu đãi lãi suất dành cho công ty, giảm thuế và phí cho công ty nhằm giảm bớt
gánh nặng về chi phí.
Bên cạnh đó, việc ổn định kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào vai trò của
NHNN thông qua các chính sách và giải pháp nhằm tạo nền tảng hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế như duy trì sự phù hợp giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, điều hành
tỷ giá linh hoạt phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, tạo niềm tin cho cả công ty
và người tiêu dùng vào đồng Việt Nam, góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối, tạo điều
kiện thuận lợi cho các công ty tiếp cận vốn, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh
doanh.
3.4.2 Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp
Chính sách cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong công
ty bên cạnh quyết định đầu tư, quyết định tài trợ. Cả ba quyết định này đều phải

72

nhất quán với mục tiêu nhằm tối đa hóa giá trị công ty. Cấu trúc vốn ảnh hưởng đến
chi phí sử dụng vốn, mặt khác chi phí sử dụng vốn ấn định một phần tác động đến
số cơ hội đầu tư khả thi có thể thực hiện được và chính sách cổ tức ảnh hưởng đến
số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của một công ty thông qua lợi nhuận giữ
lại, do đó ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty gặp khó khăn, nhằm tạo điều kiện ổn định và tiến tới mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh, kích thích tăng trưởng thì việc NHNN có những chính
sách giảm lãi suất, cơ cấu thời hạn trả nợ, giãn nợ không những tạo điều kiện cho
công ty có thể tiếp cận nguồn vốn và giúp công ty tiết giảm chi phí hoạt động, góp
phần cân bằng giữa việc giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư và sử dụng vốn vay ngân
hàng là việc làm hết sức cấp thiết và cần được triển khai quyết liệt.
NHNN thực hiện kế hoạch giảm lãi suất cho vay thông qua những gói hỗ trợ tín
dụng đến công ty, nhưng những gói hỗ trợ cần đến được đúng địa điểm, có chiến
lược và có sự nghiên cứu kỹ càng trong giải ngân. Để công ty có thể vay vốn từ
ngân hàng thương mại, NHNN có thể hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại
để các tổ chức này cho công ty vay dựa trên hàng tồn kho, khoản phải thu như một
tài sản đảm bảo.
3.4.3. Kiểm soát lạm phát
Nhà đầu tư thường so sánh mức cổ tức nhận được hàng năm với lãi suất huy
động của các ngân hàng. Trong khi đó lãi suất huy động ngân hàng lại chịu tác động
rất lớn từ lạm phát của nền kinh tế. Nếu lạm phát cao thì nhà đầu tư sẽ yêu cầu việc
chi trả cổ tức cao tương ứng để cân bằng chi phí vốn đầu tư mua cổ phiếu. Điều này
gây nên áp lực với công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh và chính sách cổ tức cho
công ty. Một trong các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nhằm
tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh thì việc kiên trì mục tiêu ổn định
giá cả và tăng trưởng kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát có vai trò quan trọng, cấp
thiết. Trong nền kinh tế hiện tại, dựa trên nguyên nhân dẫn đến lạm phát cần có
những điều chỉnh phù hợp với tình hình cụ thể nhằm loại bỏ những nguyên nhân
chủ yếu gây ra lạm phát.