Tải bản đầy đủ
3 Thực trạng giá cổ phiếu của các công ty ngành bất động sản niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam

3 Thực trạng giá cổ phiếu của các công ty ngành bất động sản niêm yết trênthị trường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ

42

của thị trường khi niềm tin sụp đổ bởi tác động của bất ổn kinh tế bộc lộ, chính
sách tiền tệ thiếu nhất quán, đồng thời thị trường chịu tác động bởi nguồn cung lớn
từ các cổ phiếu niêm yết mới và phát hành thêm trong thời điểm trước bắt đầu được
giao dịch và khó khăn thanh khoản chung của toàn hệ thống ngân hàng khiến các
khoản đầu tư vào chứng khoán bị siết lại. Các chỉ số đã nhiều lần kiểm tra các mốc
đáy của năm vào tháng 8 và tháng 11. VN-Index hai lần giảm về mức đáy 420
trong khi HNX-Index giảm thấp nhất trong vòng 18 tháng xuống 97.44 điểm
vào tháng 11/2010.

Biểu đồ 2.1: VN-Index giai đoạn quý 1/2009 - quý 4/2013

(Nguồn:SGDCK TPHCM)

43

Biểu đồ 2.2: HNX-Index giai đoạn quý 1/2009 - quý 4/2013

(Nguồn:SGDCK Hà Nội)
Năm 2011 là một năm khó khăn của nền kinh tế Viêt Nam theo đó TTCK,
vốn là phong vũ biểu của nền kinh tế, cũng phản ánh rõ điều này với xu hướng giảm
điểm là xu hướng chính và chủ đạo. Trong cả năm, thị trường chỉ có được hai đợt
hồi phục ngắn vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8, toàn bộ khoảng thời gian
còn lại thị trường chủ yếu đi xuống. Chốt phiên ngày 30/12/2011, VN- Index và
HNX- Index lần lượt đóng cửa ở 351,55 và 58,74 điểm, như vậy so với đầu năm
2011, VN- Index đã giảm mạnh 27,46% còn HNX- Index thì giảm đến hơn 48%.
Không chỉ chịu áp lực giảm về mặt điểm số, diễn biến giao dịch trên thị trường
càng ngày càng theo hướng trầm lắng và ảm đạm hơn, thể hiện qua sự giảm sút của
tính thanh khoản, so với con số của năm 2010 thì giá trị trung bình mỗi phiên giao
dịch của mỗi Sở giao dịch đều sụt giảm mạnh đến xấp xỉ 60%.
Thị trường chứng khoán cũng ghi nhận những dấu hiệu tích cực hơn trong
năm 2012 cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế. Những nỗ lực trong việc kiềm chế
và ổn định lạm phát của NHNN và Chính phủ đã kéo theo mặt bằng lãi suất liên
tiếp được hạ xuống sau khi lạm phát giảm mạnh, giúp tháo gỡ khó khăn một phần

44

cho các công ty và thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế. Chốt phiên ngày
28/12/2012, VN- Index dừng ở mức 413,73 điểm (+17,69%), trong khi HNXIndex chốt tại 57,09 điểm (-2,81%) so với cuối năm 2011. Khối lượng giao dịch
trung bình trên hai Sở giao dịch đều tăng trên 50% so với năm 2011. Mặc dù giao
dịch thỏa thuận vẫn đóng góp một phần không nhỏ trong tổng khối lượng và giá trị
giao dịch toàn thị trường nhưng trong năm 2012, đóng góp nhiều nhất cho sự cải
thiện của khối lượng và giá trị giao dịch lại đến từ giao dịch khớp lệnh với khối
lượng khớp lệnh trung bình trên HOSE và HNX lần lượt là 46,5 triệu và 44,6 triệu
đơn vị, tương ứng +75% và +57% so với năm 2011.
Trong năm 2013, sau chuỗi ngày mua ròng rất tốt vào nửa đầu năm, nhà đầu
tư nước ngoài đã bất ngờ rút vốn mạnh trên TTCK vào quý 3. Tương tự các năm
trước đó, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu xoay quanh các cổ phiếu
thuộc nhóm vốn hóa lớn. Với việc nhóm blue-chips là nhóm cổ phiếu có ảnh hưởng
rất lớn đến hai chỉ số chính cũng như diễn biến chung của thị trường thì động thái
của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ đầu tư nước ngoài, đã góp công
lớn cho mức tăng điểm ấn tượng của thị trường trong năm 2013. VN-Index tăng
mạnh trong quý 1, sau đó đà tăng chững lại, các cổ phiếu đã xây dựng và củng cố mặt
bằng giá mới khi chỉ số chủ yếu biến động quanh vùng 500 điểm. Trong khi đó HNXIndex ghi nhận những nhịp sóng lớn vào khoảng đầu năm, trong tháng 5 và từ tháng
10 đến cuối năm. Năm 2013 qua đi với những thành công rực rỡ khi VN-Index tăng
rất tốt đến 20,62% và HNX- Index tăng 14,76%.
2.3.2 Thực trạng giá cổ phiếu tại các công ty ngành bất động sản niêm yết
Cùng với nhiều nước trên thế giới, Chính Phủ Việt Nam thực hiện chích sách
kích cầu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng bằng cách đưa nguồn vốn rẻ
vào nền kinh tế. Lãi suất cho vay ngắn hạn chỉ tầm 6%/năm do được hỗ trợ 4% từ
Chính phủ so với mức 20% năm 2008 đã khiến hoạt động tín dụng tăng trưởng mạnh
trong khi nền kinh tế chưa hấp thụ được ngay thì dòng tiền đã chạy qua lĩnh vực
chứng khoán và bất động sản. Kết quả kinh doanh của các công ty bất động sản rất
khả quan. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009, hoạt động kinh doanh của nhiều công ty

45

như Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG), Công ty Phát triển Nhà Thủ Đức (TDH)
đã vượt trên 50% kế hoạch. Một số công ty còn có khả năng tạo lợi nhuận đột biến.
Lợi nhuận của CTCP phát triển nhà Từ Liêm (NTL) sẽ là 276,8 tỉ đồng, tăng gần 4
lần so với lợi nhuận năm 2008. Với triển vọng lợi nhuận trên, hệ số EPS dự kiến của
các công ty bất động sản khoảng 5.000-8.000 đồng/cổ phiếu, hệ số P/E từ 10-15 lần.
Các cổ phiếu trong ngành bất động sản như SJS, NTL, RCL…đã tăng giá hơn 100%
trong năm, bên cạnh đó giá các mã cổ phiếu như SC5, NBB cũng tăng giá ấn tượng.
Dù các mức thống kê cho thấy lượng tín dụng cho chứng khoán là không lớn, thấp
hơn mức cho phép của NHNN nhưng mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng và TTCK
là khá chặt chẽ đủ để cho thấy dòng tiền đến từ nhiều nguồn khác nhau như: vay tiêu
dùng cá nhân, sản xuất kinh doanh… Thị trường đạt đỉnh cuối tháng 10 cùng với đà
tăng giá tốt của các cổ phiếu ngành bất động sản, tăng mạnh nhất năm nay là cổ phiếu
CTCP Đầu tư Phát triển Đô thị và KCN Sông Đà (SJS) với mức tăng 258%, tiếp đó
là các cổ phiếu khác ngành bất động sản cũng tăng rất tốt như ITA (99%),
HAG(93%), VIC (84%) so với đầu năm 2009. Sau những lạc quan về tình hình kinh
tế trong năm 2009, sang năm 2010 phần đông các nhà đầu tư đã được cảm nhận
được khó khăn và khắc nghiệt của thị trường. Mặc dù năm 2010, mức tăng P/E chỉ
còn khoảng 10-11. Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của nhóm công ty ngành bất
động sản tuy gặp bất lợi do tình hình chung của thị trường, nhưng vẫn được duy trì
ở mức dự báo lần lượt là 55% và 28%. Tuy nhiên, EPS của nhóm ngành này lại
giảm 4%. Giá cổ phiếu các công ty trong ngành bất động sản niêm yết trên hai Sở
giao dịch như như SJS, NTL, VIC, KBC, HAG, BCI, NBB, LCG…đã tích lũy về
vùng giá thấp khá lâu từ đầu năm 2010. Cổ phiếu duy nhất của ngành bất động sản
là VIC với mức tăng giá 75% so với đầu năm nhờ kết quả kinh doanh và lợi nhuận
rất tốt, công ty còn lại là NBB với mức tăng giá là 12% so với đầu năm cũng có kết
quả kinh doanh khá tốt, còn lại đa phần đều giảm từ 20-40% so với đầu năm 2010.
Bên cạnh đó, các công ty trong ngành bất động sản có giá trị cơ bản tốt vẫn thu hút
số lượng các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài nhận định xu hướng đảo chiều
của TTCK năm 2011.

46

Bảng 2.6: Biến động giá cổ phiếu của các công ty bất động sản niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2013
ST
T


CK

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33

API
ASM
BCI
CCL
CLG
D11
D2D
DIG
DLG
DRH
DTA
DXG
HAG
HDC
HDG
HQC
IDI
IDJ
IDV
IJC
ITA
ITC
KAC
KBC
KDH
LCG
LGL
LHG
NBB
NDN
NHA
NTL
NVN

Giá đóng cửa điều chỉnh tại ngày
02/01/2009

31/12/2009

31/12/2010

30/12/2011

28/12/2012

31/12/2013

12.800
14.700
45.300
13.700
15.400
12.600
34.800
46.500
14.700
13.200
13.700
19.800
44.300
7.400
12.300
32.800
10.300
12.300
15.700
14.300
7.700
25.400
12.800
27.200
22.300
11.100
24.500
32.100
44.300
10.100
25.600
6.000
15.800

8.400
16.800
38.800
20.100
21.800
20.300
35.200
37.500
23.100
14.300
15.700
20.400
35.500
26.300
16.500
26.400
9.800
14.500
12.600
11.200
15.300
30.200
19.800
38.700
32.500
29.600
24.500
37.500
34.100
9.800
21.700
27.500
21.300

11.800
12.900
24.600
21.600
23.900
12.500
25.300
20.900
21.000
11.600
12.200
16.000
37.300
26.800
19.700
21.400
12.400
12.900
13.800
8.300
11.600
23.500
28.300
34.000
38.900
20.100
20.400
30.700
43.800
10.000
18.500
25.900
16.200

2.600
14.200
12.500
10.300
10.600
8.200
11.300
7.100
16.700
3.000
3.800
5.500
13.500
13.500
6.000
2.600
4.200
3.100
19.600
6.900
4.500
6.900
13.500
10.100
17.500
8.000
6.700
13.500
24.900
7.700
2.900
11.900
7.900

2.600
5.500
13.800
3.900
4.600
8.000
13.600
10.200
4.700
2.500
3.500
8.400
17.100
13.500
9.200
3.900
5.400
3.400
11.700
8.200
4.300
8.100
9.800
5.900
9.000
7.900
3.600
12.800
13.700
5.400
3.900
15.200
4.500

11.900
5.200
18.400
4.300
8.900
12.500
19.500
9.900
4.300
2.300
3.500
12.500
18.600
17.700
12.800
7.700
5.600
4.500
19.000
8.600
6.600
7.700
9.600
9.800
13.400
6.400
3.400
9.700
12.300
8.300
3.800
14.200
2.800

47

34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57
58

NVT
OGC
PDR
PFL
PPI
PVL
QCG
RCL
REE
SC5
SCR
SDU
SJS
SZL
TDH
TIG
TIX
TKC
UDC
UIC
VCR
VIC
VNI
VPH
VRC

10.200
22.300
37.500
9.500
25.800
23.400
27.900
10.100
6.700
13.900
22.400
40.500
20.800
15.500
17.000
19.800
16.400
11.300
16.800
5.400
22.300
10.500
24.000
27.700
22.000

4.500
19.800
32.500
8.800
28.700
29.600
33.100
27.900
14.400
43.100
17.700
38.500
78.100
23.000
60.000
22.400
20.600
12.800
21.500
13.300
28.700
19.600
30.000
44.300
25.800

1.400
1.900
5.300
6.500
18.600
7.300
9.500
10.800
32.900
18.800
17.500
17.200
10.500
2.900
2.700
2.800
19.200
4.300
4.200
4.600
15.000
2.900
3.600
3.300
26.400
13.400
7.300
6.500
32.700
9.100
14.300
18.200
12.600
8.900
14.700
28.200
29.200
7.400
13.900
23.000
21.000
3.900
6.800
7.600
35.800
4.400
4.300
6.800
60.400
22.800
21.800
18.500
13.200
8.900
9.800
16.600
32.700
11.400
12.100
13.700
18.800
3.100
3.700
7.500
16.100
13.400
16.300
17.700
11.600
3.100
3.500
3.800
12.900
3.800
3.800
4.900
11.700
5.500
7.400
11.500
12.100
4.500
2.800
2.500
36.000
38.500
39.500
45.800
13.600
3.900
4.200
3.900
19.900
3.900
4.100
8.500
18.500
7.900
5.300
5.400
(Nguồn : SGDCK TPHCM và SGDCK HN)

Năm 2010, TTCK Việt Nam đã nhận được lực hỗ trợ rất mạnh của dòng vốn nhà
đầu tư nước ngoài thì ngược lại, trong năm 2011 dòng vốn này có dấu hiệu rút khỏi
thị trường và cũng đã góp phần làm cho TTCK giảm mạnh khối lượng giao dịch
và cổ phiếu thiếu tính thanh khoản hơn. Cùng với những khó khăn của cổ phiếu
các ngành khác thì các cổ phiếu của ngành bất động sản cũng chịu đợt giảm giá rất
mạnh trong năm 2011. Trong số 58 công ty hoạt động trong ngành bất động sản
niêm yết, giá cổ phiếu của nhiều công ty chỉ còn lại 20% giá trị so với thời điểm
cuối năm 2010. Cổ phiếu công ty duy nhất vẫn giữ được mức giá ổn định là Tập
Đoàn VinGroup (VIC), nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của công

48

ty cũng không còn giữ ổn định như năm 2010, giá cổ phiếu của Tập đoàn Hoàng
Anh Gia Lai (HAG) giảm mạnh từ mức 80.000 đồng/cổ phiếu tại thời điểm cuối
năm ngoái xuống còn trên dưới 18.000 đồng/cổ phiếu tại thời điểm cuối năm 2011.
Các công ty nhỏ trong ngành bất động sản như: cổ phiếu của Công ty cổ phần Vạn
Phát Hưng (VPH) giảm giá từ 25.000 đồng/cổ phiếu ở thời điểm cuối năm 2010 đã
giảm xuống còn chưa đầy 5.000 đồng/cổ phiếu, giá cổ phiếu của Công ty cổ phần
Phát triển Hạ tầng và Bất động sản Thái Bình Dương (PPI) giảm từ khoảng
24.000/cổ phiếu hồi cuối năm ngoái xuống còn 4.600/cổ phiếu tính đến thời điểm
cuối năm 2011…Năm 2011 là một năm không chỉ khó khăn đối với Việt Nam mà
còn cả nền kinh tế thế giới nói chung với tâm điểm là cuộc khủng hoảng nợ công ở
Châu Âu, kéo theo đó là nguy cơ suy thoái kép, điều này đã dẫn đến một làn sóng
rút vốn đầu tư khỏi các tài sản rủi ro, đặc biệt ở những thị trường mới nổi trong
đó có Việt Nam. Tuy nhiên sang năm 2012, các cổ phiếu nhỏ trong ngành bất
động sản đã có một năm tăng giá rất mạnh với mức tăng từ 30 đến 70% so với đầu
năm, điển hình là các cổ phiếu SC5 (+50.29%), SJS có lúc tăng gần 100%, nhưng
chốt đến cuối năm chỉ giữ mức tăng khoảng 15%, REE tăng 66,03%, DIG tăng
43,74%, HAG tăng 30,74%. Bên cạnh đó, với nhưng khó khăn tồn tại của ngành từ
năm 2011, các cổ phiếu như QCG, KBC, NBB tiếp tục có 1 năm rớt giá mạnh với
mức tương ứng là -47,48%, - 49,09%, - 46,19% . Trong khi đó Tập đoàn VinGroup
(VIC) sau nhiều năm tăng trưởng vượt bậc đã có dấu hiệu chững lại, năm 2012 đi
qua giá cổ phiếu VIC không có một chu kỳ tăng giảm rõ ràng. Với việc được nhà
đầu tư nước ngoài mua ròng trong các phiên giao dịch cuối năm, dấu hiệu tích lũy
của VIC dự báo một chu kỳ tăng trưởng mới của cổ phiếu đầu ngành này trong
năm phục hồi kinh tế 2013.
Ngành bất động sản trong những tháng đầu năm 2013 được đánh giá là đã
thu hút sự quan tâm rất lớn của nhà đầu tư. Đa phần các quan điểm đầu tư đều có xu
hướng đón đầu những cổ phiếu thuộc ngành gặp khó khăn nhưng đã được phản ánh
hết vào mặt bằng giá cổ phiếu công ty và có khả năng phục hồi trong tương lai. Bên
cạnh đó, hầu hết các cổ phiếu bất động sản đều có hệ số beta cao hơn nhiều so với

49

chỉ số thị trường, kết quả kinh doanh của công ty trong ngành thường có độ nhạy
cao hơn so với biến động của nền kinh tế và phản ứng tâm lý thái quá của nhà đầu
tư. Điều đó có nghĩa là trong giai đoạn 2013, khi nền kinh tế có dấu hiệu đi vào
vùng tạo đáy suy giảm thì giá cổ phiếu bất động sản đã phản ánh hết thực trạng khó
khăn của ngành trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012 và nhiều cổ phiếu công ty
được định giá thấp hơn so với giá trị sổ sách. Vì thế giá cổ phiếu các công ty trong
ngành bất động sản trong năm 2013 đã có mức tăng trưởng khá tốt và thiết lập một
mặt bằng giá mới với REE tăng 86.1%, SC5 tăng 64.29%, KBC tăng 55,74%, HDG
tăng 38.95%, ITA tăng 48,15%, BCI tăng 31.21%. Các cổ phiếu đầu ngành cũng
tăng trưởng khá tốt và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài khá lớn nên
đà tăng giá cổ phiếu của ngành bất động sản còn kéo dài sang tới quý 1/2014. Năm
2013 là năm đầu tư khá thành công của đa phần nhà đầu tư trong và ngoài nước
cùng với sự tăng giá mạnh của cổ phiếu ngành bất động sản.
2.4 Phân tích sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công
ty ngành bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sự tác động của chính sách cổ tức chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty
ngành bất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam sẽ được phân tích thông qua mô
hình định lượng và trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của mô hình sẽ tiến hành đánh
giá nhằm đưa ra giải pháp phù hợp.
2.4.1 Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.4.1.1 Mô hình nghiên cứu
Để phân tích tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty
ngành bất động sản niêm yết trên TTCK Việt Nam đã sử dụng mô hình của Sabari
Priya.N năm 2008 nghiên cứu tại Ấn Độ và Sajid Gul năm 2012 tại Pakistan. Sở dĩ
sử dụng mô hình này vì mô hình có những tương đồng với TTCK Việt Nam và
nghiên cứu nhằm mục đích muốn tìm hiểu thực tế ở Việt Nam có sự tác động của
chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu cũng như mức độ tác động để tìm ra các giải
pháp phát huy các tác động tích cực nhằm giúp cho giá cổ phiếu tăng trưởng bền
vững . Mô hình nghiên cứu:

50

Mô hình 1: MPSit = a + b DPSit + c REit + eit
Mô hình 2: MPSit = a + b DPSit + c REit + (PE)t-1 + eit
Mô hình 3: MPSit = a + b DPSit + c REit + (MPS)it-1 + eit
Trong đó:
MPSit : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm có thông báo chia cổ tức tiền mặt
DPSit : Cổ tức tiền mặt được chia của từng cổ phiếu trong năm xem xét
REit : Thu nhập giữ lại của từng cổ phiếu trong năm xem xét
PEt-1 : Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu tại thời điểm có thông báo chi trả cổ tức
tiền mặt
MPSit-1 : Giá cổ phiếu trước ngày có thông báo chi trả cổ tức tiền mặt.
Các ký hiệu i biểu thị công ty thứ i trong một mẫu 55 công ty hoạt động trong ngành
bất động sản được niêm yết trên TTCK Việt Nam.
2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích hồi quy từng bước bằng các
phương pháp bình phương tối thiểu thông thường OLS, kỹ thuật hồi quy bội, hiệu
ứng cố định FEM, hiệu ứng ngẫu nhiên REM trên dữ liệu bảng. Kiểm định tính
dừng chuỗi dữ liệu, kiểm định phương sai, kiểm định tự tương quan. Sau đó hồi quy
theo kỹ thuật hồi quy bội và phương pháp hồi quy từng bước để xác định mô hình
tốt nhất cho việc dự đoán chính sách cổ tức tác động vào giá cổ phiếu.
Phạm vi được nghiên cứu: có 58 công ty ngành bất động sản niêm yết trên
TTCK Việt Nam, trong thời gian nghiên cứu có 3 công ty là CTCP đầu tư và xây
dựng Sao Mai An Giang, CTCP đầu tư và phát triển đô thị dầu khí Cửu Long,
CTCP Dầu khí Đông Đô không có dữ liệu chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Vì vậy phạm
vi nghiên cứu là 55 công ty thuộc ngành bất động sản đang niêm yết tại HOSE và
HNX có chi trả cổ tức ít nhất 1 lần bằng tiền mặt trong khoảng thời gian từ năm
2009-2013. Mô hình nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi
quy theo 2 cách: hiệu ứng ngẫu nhiên random effect và hiệu ứng cố định fixed