Tải bản đầy đủ
2 Chính sách cổ tức tại các công ty ngành bất động sản niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

2 Chính sách cổ tức tại các công ty ngành bất động sản niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam

Tải bản đầy đủ

36

tuy nhiên đã có sự phân hóa rất lớn giữa các công ty. Nguyên nhân chính là tình hình
kinh doanh của nhiều công ty trong ngành gặp gó khăn về đầu ra cho các dự án và tình
hình lạm phát gia tăng. Với tình hình kinh doanh không tốt, các chỉ số tài chính của
công ty cũng bị ảnh hưởng. Trong số các công ty trong ngành, nổi lên các công ty
có vốn hóa nhỏ, có khả năng xoay trở nhanh khi khủng hoảng xảy ra đã mang đến
lợi nhuận vượt cả kỳ vọng của nhà đầu tư. Dẫn đầu trong việc chia cổ tức là CTCP
Địa ốc 11 (50%), Công ty này trong 3 năm từ 2009 đến 2011 đều có mức chi trả cổ
tức khá cao là 30%, 60%, 50%. CTCP Địa ốc Chợ Lớn cũng có mức chia cổ tức khá
đều đặn trong 3 năm là 30%, 50%, 30%, các cổ phiếu này có lượng giao dịch không
lớn do cổ phiếu chỉ được sở hữu bởi các cổ đông sáng lập, đầu tư dài hạn, nên tính
thanh khoản trên thị trường không cao. Trong số các công ty đầu ngành chỉ có Tập
Đoàn VinGroup là có mức chia cổ tức trong 3 năm liên tục là 35%, 30%,10%.
Bảng 2.4 : Tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân của các công ty trong ngành bất động
sản niêm yết giai đoạn 2009 - 2013
Năm

2009

2010

2011

2012

2013

Tỷ lệ chi trả

47,7%

50,2%

53,8%

51,2%

50,5%

(Nguồn : SGDCK TPHCM và SGDCK HN)
Tình hình kinh doanh của các công ty trong ngành bất động sản trong năm
2012 cũng không mấy khả quan. Trong bối cảnh rất nhiều công ty hoạt động không
hiệu quả, thua lỗ, bị ngừng giao dịch, hủy niêm yết,…thì CTCP đầu tư Năm Bảy
Bảy, CTCP Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2, CTCP Phát triển hạ tầng Vĩnh Phúc
vẫn chia cổ tức với mức 15-20%. Trong năm 2013, tình hình kinh doanh của các
công ty trong ngành tốt lên rất nhiều, hầu hết các công ty đều đã bắt đầu báo cáo lãi
thực hiện chi trả cổ tức năm 2013. Với sự ổn định tài chính và tình hình hoạt động
kinh doanh hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận ở mức cao nên tỷ lệ chia cổ tức của các công
ty cũng khá cao, đáp ứng kỳ vọng của các nhà đầu tư trên thị trường như CTCP
Phát triển hạ tầng Vĩnh Phúc (30% ) năm thứ 3 liên tiếp công ty có mức chi trả cổ
tức cao trong ngành, CTCP Địa ốc Chợ Lớn , CTCP Xây dựng số 5 (20%), Tập
Đoàn VinGroup (35%)...

37

Bảng 2.5: EPS và DPS của các công ty trong ngành bất động sản niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009-2013
ĐVT: đồng
Năm

2009
STT MCK EPS DPS
1 API
1.385
500
2 BCI
2.336 1.200
3 CLG 1.438
800
4 D11
6.785 3.000
5 D2D 5.850 3.000
6 DIG
3.235 1.500
7 DLG 1.505
800
8 DRH 1.139
500
9 DTA 2.278 1.000
10 DXG 3.384 1.500
11 HAG 4.576 2.000
12 HDC 3.589 1.500
13 HDG
775
500
14 HQC 7.546 3.500
15 IDI
1.435 1.000
16 IDJ
356
300
17 IDV
2.349 1.200
18 IJC
3.212 1.500
19 ITA
1.768 1.000
20 ITC
235
0
21 KAC
885
500
22 KBC 3.498 1.600
23 KDH 2.387 1.000
24 LCG 5.472 3.000
25 LGL 1.255
600
26 LHG 4.654 2.500
27 NBB 4.367 2.000
28 NDN 2.293 1.000
29 NHA 2.956 1.500
30 NTL 6.647 3.000
31 NVN 3.459 1.500
32 NVT
453
300
33 OGC 1.296
500
34 PDR 1.476
500

2010
EPS
DPS
972
400
3.909 2.000
2.856 1.500
12.188 6.000
9.194 4.000
4.490 2.500
2.258 1.000
1.032
500
2.544 1.500
4.505 2.500
5.810 3.000
5.047 2.500
1.339 1.000
8.262 4.000
2.411 1.500
479
400
2.814 1.500
3.868 2.000
1.953 1.000
2.935 1.500
1.119
500
3.704 1.600
3.980 2.000
6.356 3.000
2.423 1.000
8.047 4.000
7.525 3.500
1.796 1.000
3.807 2.000
17.578 8.000
4.771 2.500
465
300
2.341 1.500
2.526 1.500

2011
EPS
DPS
215
0
1.137
500
1.599
800
10.044 5.000
3.746 2.000
981
500
776
500
-213
0
195
0
768
500
2.499 1.500
3.477 1.500
2.773 1.500
319
0
1.042
500
-624
0
4.200 2.000
1.159
500
214
0
-1.988
0
27
0
121
0
235
0
2.741 1.500
98
0
3.570 1.500
3.866 2.000
2.894 1.400
147
0
1.507
500
66
0
-1.275
0
567
500
52
0

2012
EPS
DPS
-761
0
2.396 1.500
547
0
292
0
3.669 2.000
185
0
214
0
-1.283
0
78
0
1.377
500
651
500
1.502 1.000
459
0
317
0
962
500
11
0
3.623 2.000
669
0
74
0
100
0
23
0
-1.473
0
-1.264
0
-650
0
70
0
2.039 1.000
15.829 5.000
625
0
51
0
1.114
500
-4.814
0
-1.152
0
277
0
38
0

2013
EPS
DPS
1.740
900
1.323
500
1.470
600
276
0
4.182 2.000
381
0
305
0
119
0
-591
0
1.567
500
1.178
500
952
500
2.209 1.000
26
0
1.061
500
-402
0
6.147 3.000
589
500
141
0
-4.301
0
91
0
245
0
-2.590
0
-5.441
0
-2.488
0
927
500
70
0
1.660 1.000
45
0
1.444
800
-4.092
0
227
0
18
0
27
0

38

35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55

PPI
PVL
QCG
RCL
REE
SC5
SCR
SDU
SJS
SZL
TDH
TIG
TIX
TKC
UDC
UIC
VCR
VIC
VNI
VPH
VRC

387
-345
2.231
6.792
1.887
3.243
3.374
1.037
3.311
2.221
3.242
235
3.324
554
876
2.645
2.231
7.274
873
332
985

0
0
1.200
3.000
1.000
1.500
1.500
500
1.500
1.000
1.500
0
1.500
500
500
1.500
1.200
3.500
500
0
500

457
-166
2.206
9.759
1.945
3.662
4.033
1.250
4.569
2.821
6.570
1.293
6.301
2.302
623
2.228
2.025
6.190
171
266
709

400
0
1.200
5.000
1.000
2.000
2.000
500
2.500
1.500
3.000
600
3.000
1.000
500
1.200
1.000
3.000
0
0
500

897
30
-327
5.656
2.099
1.404
161
69
-824
2.289
1.178
-462
5.242
833
323
2.456
268
2.099
8
337
1.282

500
0
0
3.000
1.000
1.000
0
0
0
1.000
1.000
0
3.000
500
0
1.200
0
1.000
0
300
500

871
-526
61
516
2.684
61
621
112
-3.027
2.285
865
153
2.220
102
185
2.636
-1.134
2.243
-174
253
11

400 -1.702
0
0 -3.743
0
0
116
0
500 3.887 2.000
1.500 3.700 2.000
0 3.585 2.000
500
53
0
0
79
0
0
701
500
1.000 1.971 1.000
500
568
500
0
479
300
1.000 2.641 1.500
0
227
0
0
6
0
1.500 2.259 1.000
0
-976
0
1.000 7.292 3.500
0
-839
0
0
208
0
0
46
0

(Nguồn : SGDCK TPHCM và SGDCK HN)
2.2.2 Những mặt đạt được của chính sách cổ tức
Thời gian từ năm 2009 đến 2011, tình hình kinh tế có nhiều biến động không
thuận lợi, nhiều công ty làm ăn thua lỗ và gặp nhiều khó khăn càng làm cho TTCK
Việt Nam trở nên ảm đạm hơn và ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư. Tuy nhiên
một số công ty trong ngành bất động sản vẫn thực hiện chi trả cổ tức khá cao, có
công ty còn thực hiện chi trả cổ tức tới hai đến ba lần trong năm.Trong năm 2009 có
51/55 công ty chi trả cổ tức, năm 2010 có 52/55 công ty chi trả cổ tức, năm 2011 có
31/55 công ty chi trả cổ tức.
Giai đoạn 2012 – 2013 tình hình kinh doanh cũng không cải thiện nhiều,
hàng loạt công ty hoạt đông thua lỗ. Tuy nhiên chính sách cổ tức của một số công ty
trong ngành vẫn khá tốt, tuy nhiên đã có sự phân hóa và chọn lọc hơn, điều này thể
hiện qua số lượng công ty trong ngành bất động sản chi trả cổ tức năm 2012 là
19/55 và năm 2013 là 24/55 thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2009-2011. Bên cạnh

39

đó, tình hình khó khăn hiện tại của TTCK và thị trường bất động sản, cổ tức bằng
tiền mặt cao đang là một tiêu chí quan trọng để các nhà đầu tư xem xét, trong bối
cảnh thị trường đi xuống thì cổ tức bằng tiền mặt được quan tâm nhiều hơn, nhất là
khi lãi tiền gửi ngân hàng thời gian qua liên tục giảm. Bởi việc chia cổ tức cao có ý
nghĩa quan trọng trong thời điểm này, sẽ làm tăng niềm tin của cổ đông vào hoạt
động của công ty, củng cố sự trung thành và gắn bó của cổ đông với công ty. Cổ
đông cũng có thể sử dụng số tiền được chi trả để tái đầu tư, đa dạng danh mục đầu
tư để giảm rủi ro. Bên cạnh đó, mức cổ tức cao sẽ giúp củng cố niềm tin của các nhà
đầu tư vào thị trường, tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu có mức chi trả cổ tức
cao và thu hút thêm nguồn vốn mới từ ngân hàng đổ vào thị trường, và tạo ra bước
chuyển khi thị trường đang phục hồi.
Khi một công ty có chính sách cổ tức cao, ổn định và hoạt động hiệu quả sẽ
giúp có sự ổn định và hiệu quả trong thành phần cổ đông của công ty. Từ đó cổ
đông và ban điều hành sẽ có sự đồng thuận cao trong việc đưa ra các chính sách
điều hành hoạt động trong thời gian cho công ty, có sự chú ý của các đối tác lớn
trên thị trường. Hơn nữa, để có tiền chi trả cổ tức cao, ban điều hành công ty phải
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm các chi phí không hiệu quả, tái cấu trúc lại
công ty và tự nâng cao khả năng quản lý điều hành để duy trì mức lợi nhuận cao và
tăng trưởng bền vững của công ty.
2.2.3 Những mặt hạn chế của chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức chưa quan tâm tới sự tăng trưởng bền vững của công ty.
Bên cạnh việc chi trả cổ tức tiền mặt ở các công ty có hoạt động kinh doanh hiệu
quả, có chiến lược phát triển thì cũng có nhiều công ty lựa chọn chi trả cổ tức cao
để thu hút các nhà đầu tư trong ngắn hạn mà chưa thực sự quan tâm đến sự tăng
trưởng bền vững của công ty. Có những trường hợp công ty thực hiện chi trả cổ tức
vượt 100% lợi nhuận trong năm, trong khi công ty lại phải đi vay vốn ngân hàng
hoặc phát hành trái phiếu với lãi suất cao. Chính điều này làm hạn chế khả năng tích
tụ vốn của công ty để tái đầu tư các dự án bất động sản mới, tỷ trọng vốn vay của
công ty có thể tăng lên và có khả năng mất cân đối vốn các nguồn trả nợ nếu công

40

ty không thận trong trong việc vay vốn hoặc không mạnh dạn giữ lại lợi nhuận để
tái tài trợ và đầu tư.
Trên TTCK Việt Nam thời gian qua, khi công ty công bố chính sách cổ tức
hấp dẫn thì giá cổ phiếu công ty thường có xu hướng tăng lên. Các nhà đầu tư ngắn
hạn quan tâm đến lãi vốn vượt trội sẽ tìm đến những cổ phiếu của các công ty này,
dẫn tới giá cổ phiếu của công ty gia tăng. Một số công ty lợi dụng điều này để đánh
bóng hình ảnh của công ty, bằng cách đưa ra các chính sách cổ tức hấp dẫn, phát đi
tín hiệu về tình hình và triển vọng phát triển của công ty nhằm thu hút các nhà đầu
tư để đẩy giá cổ phiếu lên cao. Khi đó công ty có cũng sự thuận lợi để phát hành cổ
phiếu mới với mức giá cao để hưởng thặng dư vốn. Tuy nhiên nếu như hoạt động
của công ty không hiệu quả, thua lỗ mà vẫn phải chi trả cổ tức cho cổ đông sẽ dẫn
đến rủi ro gia tăng và việc phát hành cổ phiếu mới có thể làm pha loãng giá, làm
cho giá trị công ty cũng như giá trị và lợi ích của cổ đông trong dài hạn sẽ sụt giảm.
Khi thiết lập một chính sách cổ tức thì không có một chính sách cổ tức nào
phù hợp với mọi công ty. Tuy nhiên, thực tế lại còn nhiều công ty chạy đua với
nhau để chi trả cổ tức bằng tiền mặt hay cổ phiếu theo xu hướng của thị trường mà
chưa thiết lập riêng một chính sách cổ tức phù hợp dựa trên các cơ sở tài chính vững
chắc. Các cơ sở tài chính đó phải là các cơ hội đầu tư, cấu trúc vốn tối ưu rồi đến
các nhân tố ảnh hưởng và dòng tiền thực của công ty. Trong khi các chính sách cổ
tức của công ty lại còn dựa quá nhiều vào yếu tố thị trường và tâm lý của nhà đầu
tư. Từ việc thiếu cơ sở vững chắc cho chính sách cổ tức đã dẫn đến việc công ty chi
trả cổ tức với tỷ lệ phân phối giữa cổ tức và lợi nhuận giữ lại biến động mạnh khi
mà công ty duy trì một tỷ lệ chi trả cổ tức cứng nhắc trên mệnh giá qua các năm mà
không gắn với lợi nhuận thực tế của công ty tạo ra. Điều này dẫn tới việc chia cổ
tức có thể vượt quá lợi nhuận tích lũy được, tạo ra việc thiếu hụt vốn, gây ảnh
hưởng lên hiệu quả hoạt động của công ty.
Chính sách cổ tức bị chi phối bởi các nhóm cổ đông lớn vì việc lựa chọn
chính sách cổ tức và hình thức cổ tức phụ thuộc nhiều vào quyết định của cổ đông.
Ở những trường hợp công ty có cổ đông chiếm tỷ lệ sở hữu cao hoặc một nhóm cổ

41

đông có mối liên hệ với nhau thì quyền quyết định của nhóm người này càng thể
hiện rõ rệt. Họ vừa đóng vai trò là người đề xuất ý kiến nhưng cũng là người bỏ
phiếu thông qua các chính sách cổ tức. Nếu như nhóm cổ đông có những quyền lợi,
lợi ích kinh tế riêng từ việc đưa ra các chính sách cổ tức mà không đứng trên quan
điểm tăng trưởng bền vững và cũng như tối đa hóa giá trị công ty và quyền lợi của
các cổ đông nhỏ lẻ thì chính sách cổ tức sẽ gây thiệt hại cho bản thân công ty về lâu
dài và lợi ích của các cổ đông nhỏ lẻ.
2.3 Thực trạng giá cổ phiếu của các công ty ngành bất động sản niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam
2.3.1 Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam
Năm 2008 chứng kiến những biến động lớn của kinh tế thế giới. Suy thoái
kinh tế toàn cầu đẩy thêm những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam vốn đã trong
tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt ngân sách,
thâm hụt vãng lai, và tình trạng đô la hóa. Nền kinh tế sau một thời gian mở rộng đã
bắt đầu thu hẹp. Các chỉ số chứng khoán bắt đầu quá trình đi lên vào cuối quí 1 năm
2009 cùng với thời điểm kinh tế chạm đáy và hồi phục. VN-Index chạm đáy 235
điểm vào ngày 24/02/2009 và đi lên đạt đỉnh 624 điểm vào ngày 22/10/2009, mức
tăng 165%. TTCK năm 2009 phục hồi không chỉ nhanh mà còn rất ấn tượng với
những phiên giao dịch với thanh khoản kỷ lục liên tục được thiết lập. Giá trị giao dịch
đạt đỉnh trong tháng 10/2009 với thanh khoản bình quân là 5.759 tỷ/phiên. Năm
2010, TTCK đã gặp nhiều khó khăn và khiến nhà đầu tư thất vọng khi sụt giảm so
với năm 2009. Mặc dù thị trường có đợt hồi phục mạnh gây bất ngờ từ cuối tháng
11/2010, VN-Index vẫn đóng cửa giảm 2% so với cuối năm trước khi chốt phiên
31/12/2010 tại 484.66 điểm, HNX- Index đóng cửa năm tại 114.24 điểm giảm tới
32% so với cuối 2009. Kết quả chênh lệch giữa hai Sở giao dịch chính thức này
phần nào cho thầy nhiều vấn đề ẩn chứa đằng sau các chỉ số. Ấn tượng của một thị
trường lạc quan năm 2009 chỉ xuất hiện trong 6 tháng đầu năm 2010 và đây cũng là
giai đoạn thị trường đạt mức cao nhất trong năm khi VN-Index tại mức 549 điểm
và HNX-Index tại mức 187.22 điểm. Nửa cuối năm 2010 là thời kỳ khó khăn nhất

42

của thị trường khi niềm tin sụp đổ bởi tác động của bất ổn kinh tế bộc lộ, chính
sách tiền tệ thiếu nhất quán, đồng thời thị trường chịu tác động bởi nguồn cung lớn
từ các cổ phiếu niêm yết mới và phát hành thêm trong thời điểm trước bắt đầu được
giao dịch và khó khăn thanh khoản chung của toàn hệ thống ngân hàng khiến các
khoản đầu tư vào chứng khoán bị siết lại. Các chỉ số đã nhiều lần kiểm tra các mốc
đáy của năm vào tháng 8 và tháng 11. VN-Index hai lần giảm về mức đáy 420
trong khi HNX-Index giảm thấp nhất trong vòng 18 tháng xuống 97.44 điểm
vào tháng 11/2010.

Biểu đồ 2.1: VN-Index giai đoạn quý 1/2009 - quý 4/2013

(Nguồn:SGDCK TPHCM)