Tải bản đầy đủ
2 Giá cổ phiếu công ty niêm yết

2 Giá cổ phiếu công ty niêm yết

Tải bản đầy đủ

14

cho số cổ phiếu thường đang lưu hành. Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính
theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi công ty phát hành và
cộng với phần cổ tức công ty còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ
trước đó. Vì thế, việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép cổ đông thấy được số giá trị
tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn
góp ban đầu.
- Thị giá là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu niêm yết được thể hiện
trong phiên giao dịch đóng cửa trên Sở giao dịch chứng khoán đã được ghi nhận.
Thị giá của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường và phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố, do vậy thường xuyên biến động.
1.2.3 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và biến động giá cổ phiếu bao gồm
những yếu tố ngoại sinh, yếu tố nội sinh và những yếu tố ảnh hưởng khác. Những
yếu tố này biến đổi không ngừng và liên tục tác động qua lại với nhau để hình thành
nên cung - cầu các cổ phiếu công ty niêm yết trên TTCK. Khi cầu cổ phiếu tăng cao
mà lượng cung không đáp ứng đủ sẽ dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu tăng. Khi lượng
cung cổ phiếu không đổi nhưng lượng cầu lại giảm mạnh dẫn đến tình trạng giá cổ
phiếu sụt giảm.
1.2.3.1 Các yếu tố nội sinh
Các yếu tố làm tăng, giảm giá trị của cổ phiếu gắn với công ty niêm yết được
gọi là yếu tố nội sinh. Các yếu tố này quyết định sự tồn tại của giá cổ phiếu là lợi
thế khai thác sử dụng các nguồn lực của công ty, lợi thế kinh doanh và các yếu tố
lợi thế vô hình khác mà công ty đã tạo dựng được, kể cả phần tích tụ lợi nhuận
không chia để tái đầu tư, tạo lợi thế so sánh cho cổ phiếu. Nói cách khác, giá trị cổ
phiếu là hình ảnh động phản ánh những giá trị hữu hình, vô hình của hàng hóa thực
và xu thế hoạt động cũng như tình hình năng lực tài chính của công ty niêm yết. Giá
trị sổ sách của một cổ phiếu không phải là một hằng số bất biến và sẽ thay đổi khi
lợi nhuận công ty thay đổi. Yếu tố làm cho lợi nhuận công ty thay đổi và làm cho
giá cổ phiếu thay đổi là do có sự thay đổi trong những điều kiện cơ bản, đó là:

15

- Nguồn lực tài chính: đây là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đặc biệt là đối với ngành bất động sản
có vòng quay vốn khá thấp, mỗi dự án luôn cần một lượng tiền lớn, thời gian thu
hồi vốn chậm. Các công ty muốn phát triển bền vững và chiếm thị phần lớn trong
ngành đều phải thực hiện một lúc nhiều dự án, nên việc duy trì nguồn lực tài chính
sẵn sàng, đầy đủ và hợp lý là điều kiện tiên quyết. Với nguồn lực tài chính tốt, công
ty sẽ chi thêm cho các hoạt động như đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương
cho công nhân.
- Nguồn nhân lực: nhân tố về con người - chất lượng ban lãnh đạo, trình độ
nghề nghiệp của công nhân là yếu tố cơ bản, then chốt, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Cán bộ quản trị cấp cao
là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và
quản lý mọi hoạt động của công ty. Sự thành công hay thất bại của công ty phụ
thuộc vào các quyết định của họ. Bên cạnh đó, với thị trường bất động sản luôn biến
đổi có tính chu kỳ thì kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý công ty và khả năng
xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công
việc, khả năng huy động lực lượng công nhân kịp thời về số lượng và chất lượng để
phục vụ cho quá trình thi công các dự án. Đây là việc rất khó vì khác với các ngành
sản xuất khác trong ngành bất động sản, nhu cầu sử dụng công nhân tuỳ thuộc vào
tiến độ thi công, số lượng không ổn định, có khi chỉ cần vài chục công nhân nhưng
có khi phải huy động hàng trăm, thậm chí hàng ngàn công nhân vào phục vụ dự án.
- Yếu tố về thị trường tiêu thụ - khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị
trường. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, marketing là một công cụ cạnh tranh
đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng doanh thu và hiệu quả
hoạt động của công ty. Một công ty nếu xây dựng được chiến lược marketing và
biết cách sử dụng trong những tình huống, thời điểm thích hợp thì sẽ giúp công ty
giữ được ưu thế trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực kinh
doanh bất động sản, do đặc thù sản phẩm của các công ty ngành này là không thể
đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp

16

khác được mà chủ yếu dựa vào danh tiếng, thương hiệu, chất lượng của của dự án
đã cho thuê hoặc bán để khách hàng xem xét và ra quyết định với các sản phẩm
tương lai. Sự cạnh tranh trực tiếp giữa các công ty trong ngành bất động sản chủ yếu
là sự so sánh về thành tích, về thương hiệu và giá cả. Thành tích và thương hiệu của
công ty càng lớn thì càng thu hút quan tâm của các khách hàng. Do đó trước khi
công khai bán dự án hoặc cho thuê cần phải làm tốt công tác quảng cáo, tiếp thị để
nâng cao mức độ tin cậy của chủ đầu tư với khách hàng, từ đó góp phần tăng trưởng
doanh thu cho công ty.
1.2.3.2 Các yếu tố ngoại sinh
Thị trường chứng khoán chỉ là một bộ phận trong thị trường tài chính nên bị
chi phối trực tiếp từ những biến cố phát triển lành mạnh hoặc gặp rủi ro có thể xảy
ra trên thị trường tài chính. Ngược lại, TTCK có thể làm lành mạnh hoặc tác động
xấu tới môi trường tài chính. Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến biến động giá cổ
phiếu có thể kể đến như:
-Chu kỳ phát triển kinh tế: ngành bất động sản chịu ảnh hưởng rất lớn của
tính chu kỳ kinh tế, thị trường căn hộ, đất nền biến động theo quá trình tiến triển của
nền kinh tế quốc dân, tình hình kinh tế khu vực và thế giới. Điều này tác động đến
tình hình hoạt đông kinh doanh của các công ty trong ngành. Do đó, giá cổ phiếu có
chiều hướng đi lên khi nền kinh tế mạnh lên và có chiều hướng đi xuống khi nền
kinh tế yếu đi. Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, tài sản
tăng lên và nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu.
-Lạm phát tăng luôn là dấu hiệu cho thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế
sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của công ty bị hạ
thấp làm cho giá cổ phiếu giảm. Bất cứ khi nào lạm phát bùng lên, đồng tiền khôn
ngoan sẽ rời khỏi các cổ phiếu đã được đầu tư trước đó. Trong hầu hết các trường
hợp, lịch sử của TTCK cũng chính là lịch sử của lạm phát. Lạm phát càng thấp thì
càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá trị. Bên cạnh đó, khi lạm phát xảy ra
kéo theo nhu cầu về tiêu dùng giảm sút, các công ty bất động sản phải dùng đón bẩy
tài chính lớn để phát triển các dự án mà không bán được nên không thu hồi vốn để

17

giảm vốn vay, giúp cho tình hình tài chính ổn định.
-Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với công ty. Đặc biệt là các công ty
ngành bất động sản có hệ số đòn bẩy tài chính khá cao, do đặc thù kinh doanh, xây
dựng nhiều dự án trong một thời gian. Chi phí này làm lợi nhuận sụt giảm, cổ tức
hiện có từ cổ phiếu sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư, sẽ làm họ
chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao.
Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của công ty vì
khuyến khích công ty giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó
khuếch trương kinh doanh. Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu giảm.
Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho công ty vì chi phí cho vay mượn xuống
thấp, và giá cổ phiếu thường tăng lên. Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không
phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng tương đương và trái ngược của cổ phiếu.
Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ đạo trong lạm phát thì mới trở thành
thước đo hiệu quả sự dao động của TTCK. Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát
giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn. Ngược lại, lạm phát tăng
cùng với lãi suất, giá các cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát không phải là một
vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCK thường mang lại nhiều lãi
bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng
-Các yếu tố ngoại sinh khác như chính sách thuế của Nhà nước đối với thu
nhập từ chứng khoán, thuế chuyển nhượng bất động sản những biến động về chính
trị, xã hội, quân sự, các hành động lũng đoạn, tung tin đồn, các biện pháp kỹ thuật
của nhà điều hành thị trường…
Trong một nền kinh tế, TTCK là một trong những kênh đầu tư quan
trọng. Để tìm kiếm lợi nhuận, các nhà đầu tư có thể đổ vốn vào TTCK, thị trường
bất động sản, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ hoặc mở rộng sản xuất kinh
doanh hay gửi tiền vào các ngân hàng… Khi TTCK tăng trưởng mạnh, dòng tiền từ
các kênh đầu tư khác có xu hướng đổ vào TTCK càng lớn. Khi thị trường bất động
sản nóng lên, dòng tiền đầu tư trong xã hội lại tập trung mạnh vào bất động sản.
Đến lúc TTCK nhiều rủi ro hay thị trường bất động sản đóng băng thì nhà đầu tư có

18

xu hướng chuyển tiền sang ngân hàng để an toàn hơn. Đây chính là sự vận động
mang tính quy luật của dòng vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường.
1.2.3.3 Các yếu tố khác
Sự lệ thuộc của công ty vào những yếu tố đầu vào, đầu ra hoặc sự lệ thuộc
về tài chính, tiền tệ bởi một công ty khác, nếu các đối tác đó bị sụp đổ hay khủng
hoảng kéo công ty niêm yết cũng sụp đổ theo. Các yếu tố đầu cơ, móc ngoặc, lũng
đoạn chứng khoán của cá nhân, các tổ chức, các công ty trong hoặc ngoài nước tạo
ra cung cầu chứng khoán giả tạo, làm giá cả hàng hóa chứng khoán bị méo mó, các
chính sách can thiệp của chính phủ cũng ảnh hưởng đến giá chứng khoán.
Tâm lý nhà đầu tư cũng ảnh hưởng khá lớn đến giá cổ phiếu. Theo thuyết lòng tin
về giá cổ phiếu, nhân tố căn bản trong biến động giá cổ phiếu là sự tăng hay giảm
lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai giá cổ phiếu, lợi nhuận công ty và cổ tức.
Thuyết này có vẻ như là một dị bản của thuyết quy ước bởi vì cho rằng cổ tức cũng
tùy thuộc vào lợi nhuận công ty. Nhưng trong thực tế có khác về căn bản bởi vì đã
giải thích sự biến động về giá cổ phiếu không phải trên cơ sở của tình hình thực tế
mà trên cơ sở tâm lý của nhà đầu tư đối với thị trường. Giá trị của thuyết này là có
thể giải thích những biến động thất thường của giá cổ phiếu mà thuyết quy ước
không giải thích nổi. Nó có thể giải thích vì sao giá cổ phiếu trên thị trường lại giảm
trong những điều kiện kinh tế rất tốt đẹp, hoặc giá cổ phiếu trên thị trường tăng
trong tình hình kinh doanh xấu đi. Nó cũng có thể giải thích vì sao giá cổ phiếu lại
sụt trong khi lợi nhuận công ty đang tăng hoặc ngược lại.
Các mô hình tăng giảm giá cổ phiếu và phân tích kỹ thuật cũng có tác động
đến giá cổ phiếu. Diễn biến giá là một chu kỳ lặp đi lặp lại, giá cứ tăng rồi lại giảm
và giảm rồi lại tăng và cứ thế. Thời gian các đợt tăng giảm giá là ngẫu nhiên bởi vì
không thể biết trong bao lâu số người mua sẽ vượt hơn số người bán hay số người
bán sẽ vượt hơn số người mua. Một biến cố ngẫu nhiên nào đó hoàn toàn không thể
đoán trước có thể làm đảo ngược chiều hướng và quá trình cũng không cân đối về
mặt giá cổ phiếu. Theo trường phái phân tích kỹ thuật thì giá cổ phiếu đã phản ánh
tất cả những thông tin có liên quan đến cổ phiếu đó. Do đó, lập biểu đồ từ những

19

thông tin có sẵn như dao động giá, khối lượng giao dịch, chỉ số chung của thị
trường chứng khoán, bán khống... sẽ cung cấp những chỉ báo về dao động giá trong
tương lai.
1.3 Sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết
1.3.1 Các lý thuyết về sự tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các
công ty niêm yết
Các lập luận về chính sách cổ tức không tác động gì đến giá cổ phiếu công ty
Merton Miller và Franco Modigliani (MM) là hiện thân của trường phái
trung dung khi công bố một công trình lý thuyết vào năm 1961 cho rằng giá trị của
công ty không chịu tác động của chính sách phân phối mà giá trị công ty lại tùy
thuộc vào các quyết định đầu tư. Nhưng kết luận này của MM được gắn với các giả
định của một thị trường vốn hiệu quả và hoàn hảo:
− Không có thuế: theo giả định này, các nhà đầu tư không bận tâm về việc sẽ nhận
được thu nhập cổ tức hay thu nhập lãi vốn.
− Không có chi phí giao dịch: giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng
khoán của các công ty chi trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại (không có
phí tổn) bất cứ số cổ phiếu nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốn thành thu
nhập thường xuyên.
− Không có chi phí phát hành: nếu các công ty không phải chi trả các chi phí phát
hành cho việc phát hành chứng khoán mới, họ có thể thụ đắc được vốn cổ phần cần
thiết cùng với chi phí, không kể việc giữ lại lợi nhuận hay chi trả cổ tức. Đôi khi
việc chi trả cổ tức đưa đến nhu cầu bán cổ phiếu mới theo định kỳ.
− Chính sách đầu tư và tài trợ cố định: công ty đã thiết lập kế hoạch đầu tư và cũng
đã xác định được kế hoạch tài trợ từ vốn vay và từ lợi nhuận giữ lại. Số tiền thặng
dư còn lại được dùng để chi trả cổ tức. MM cho rằng các thay đổi quan sát được
trong giá trị công ty là kết quả của các quyết định cổ tức thật ra là do chính sách cổ
tức mang nội dung hàm chứa thông tin và phát tín hiệu cho nhà đầu tư. Một gia tăng
trong cổ tức sẽ chuyển tải thông tin đến các cổ đông là ban điều hành công ty dự
kiến thu nhập tương lai sẽ cao hơn. Tương tự, một cắt giảm cổ tức xem như truyền

20

đạt thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của công ty. Hai ông còn dựa vào lập
luận hiệu ứng khách hàng đó là các nhà đầu tư ưa thích chính sách cổ tức của một
công ty sẽ không có tác động đến giá cổ phiếu. Khi công ty thay đổi chính sách cổ
tức có thể mất đi một số cổ đông bởi lẽ họ sẽ bán cổ phiếu đang sở hữu và chuyển
sang mua cổ phiếu của các công ty khác có chính sách cổ tức hấp dẫn hơn. Điều này
lại có thể đưa đến sụt giảm tạm thời giá cổ phiếu của công ty. Tuy nhiên, các nhà
đầu tư khác thích chính sách cổ tức mới sẽ cho rằng cổ phiếu của công ty bị bán
dưới giá và sẽ mua thêm cổ phiếu. Trong thị trường mà MM quan sát, các giao dịch
này diễn ra ngay tức khắc và không có tổn phí cho nhà đầu tư, kết quả là giá trị của
cổ phiếu giữ nguyên không đổi.
Nhưng ngược lại, MM cũng nhận thấy rằng có những chứng cứ thực nghiệm đáng
kể cho thấy các thay đổi trong chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Hai
ông khẳng định các thay đổi quan sát được trong giá trị công ty là do nội dung hàm
chứa thông tin hoặc do tác động phát tín hiệu của chính sách cổ tức, chứ không phải
mô hình chi trả cổ tức. Do vậy mà chính sách cổ tức có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
công ty. Tuy nhiên quan điểm này chỉ có ý nghĩa khi thoả mãn hai điều kiện: (1) các
nhà đầu tư coi trọng các thông tin này; (2) cổ tức là một tín hiệu về triển vọng phát
triển của công ty và cổ tức là một tín hiệu đáng tin cậy hơn các tín hiệu khác. Các
nhà đầu tư luôn quan tâm đến chính sách cổ tức vì cổ tức là một trong hai nguồn thu
nhập chính. Còn mức độ tin cậy cao của chính sách cổ tức khi đóng vai trò là tín
hiệu về khả năng tăng trưởng của công ty là hoàn toàn có thể lý giải được. Vì thực
tế, nếu công ty tuyên bố tăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để trả thì sẽ phải huy
động vốn từ bên ngoài hoặc phải hy sinh các khoản đầu tư trong tương lai. Vì thế,
tăng cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao hơn và ràng buộc trách nhiệm của nhà
quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác.
- Các lập luận về chính sách cổ tức tác động đến giá cổ phiếu công ty niêm yết.
Các lập luận của MM được công nhận là hợp lý cùng với các giả định. Tuy
nhiên, một khi không tồn tại những giả định hạn chế này, thì giá trị cổ phiếu thực sự