Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔTỨC ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢNNIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CỔTỨC ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC CÔNG TY NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢNNIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

Tải bản đầy đủ

5

• Ngày công bố: hội đồng quản trị thông qua và công bố trên phương tiện thông tin
đại chúng về quyết định chi trả cổ tức cho cổ đông được ghi nhận trong danh sách
sẽ khóa sổ vào ngày khóa sổ. Nội dung công bố bao gồm số cổ tức trên mỗi cổ
phiếu được nhận, ngày ghi sổ, ngày không hưởng quyền, ngày trả cổ tức và phương
thức thanh toán.
• Ngày xác lập quyền hưởng cổ tức: bắt đầu từ ngày này, nhà đầu tư mua cổ phiếu
thì sẽ không có quyền nhận cổ tức của đợt chi trả đã công bố. Ngày này thường
được ấn định trước ngày khóa sổ một thời gian nhất định, thường tùy thuộc vào thời
gian hoàn tất giao dịch thanh toán bù trừ trên TTCK. Và vào ngày này, giá cổ phiếu
dự kiến sẽ sụt giảm một khoản bằng với số tiền cổ tức vì giá trị này được rút ra khỏi
công ty.
• Ngày khóa sổ: công ty lập danh sách cổ đông được hưởng cổ tức. Những nhà đầu
tư thông báo mua và sở hữu cổ phiếu sau ngày này sẽ không được hưởng cổ tức.
Ngày khóa sổ thường được ấn định trước ngày trả cổ tức một thời gian nhất định.
• Ngày chi trả: Công ty thực hiện chi trả cổ tức cho các cổ đông thông qua tài
khoản lưu ký hoặc nhận trực tiếp tại trụ sở của công ty.
Qui trình chi trả cổ tức trên cho thấy ngày xác lập quyền được hưởng cổ tức
rất quan trọng bởi vì nhà đầu tư mua cổ phiếu trước ngày này sẽ được hưởng cổ tức
năm hiện tại trong khi nhà đầu tư mua cổ phiếu đúng hoặc sau ngày này sẽ không
được hưởng cổ tức. Ngoài ra, vào ngày xác lập quyền được hưởng cổ tức, giá cổ
phiếu sẽ giảm một khoản bằng với cổ tức.
1.1.2 Chính sách cổ tức
1.1.2.1 Khái niệm
Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết là chính sách ấn định phân phối
giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và cổ tức chi trả cho cổ đông.
Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận
tiềm năng tương lai thông qua tái đầu tư, trong khi cổ tức cung cấp một phân phối
hiện tại. Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ấn định mức lợi nhuận sau thuế
của công ty sẽ được đem ra phân phối, số phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và

6

dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Vì lí do này khi đại hội cổ đông diễn ra cuối
kỳ kinh doanh, ban giám đốc có thể đệ trình lên hội đồng quản trị phương án sử
dụng một tỷ lệ nhất định phần lãi sau thuế để chia cổ tức cho cổ đông, phần còn lại
được giữ lại để tái đầu tư hoặc phân bổ vào các quỹ dự phòng. Nếu phương án chia
này được biểu quyết thông qua thì chính sách chia cổ tức của năm kinh doanh chính
thức được xác nhận và có hiệu lực.
Chính sách cổ tức là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong một công ty
và có liên hệ mật thiết với hai chính sách tài chính còn lại là chính sách tài trợ và
chính sách đầu tư.
1.1.2.2 Các hình thức chi trả cổ tức
Có hai hình thức chi trả cổ tức là cổ tức bằng tiền mặt và cổ tức bằng cổ phiếu. Bên
cạnh đó còn có các hình thức khác như mua lại cổ phiếu, thưởng bằng cổ phiếu quỹ,
dùng lợi nhuận để phát hành cổ phiếu thưởng.
- Trả cổ tức bằng tiền mặt: hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt được nhiều
nhà đầu tư mong muốn bởi đây là nguồn thu nhập ngay, có thể sử dụng mà không
phải tốn chi phí giao dịch như bán đi cổ phiếu để thu về tiền mặt. Cổ tức tiền mặt
làm chuyển giao giá trị kinh tế từ công ty sang cho các cổ đông thay vì công ty sử
dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, điều này cũng gây ra một sự
giảm mạnh trong giá cổ phiếu một lượng đúng bằng cổ tức được chia.
-Trả cổ tức bằng cổ phiếu: hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là hình thức
mà công ty chi trả thêm cổ phiếu thường cho các cổ đông theo một tỷ lệ nhất định
mà công ty không nhận được khoản tiền thanh toán từ phía cổ đông. Nói cách khác,
đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốn của
công ty. Tuy cổ đông không nhận được cổ tức bằng tiền mặt nhưng lại nhận được
cổ phiếu, do đó sẽ thu được lãi vốn trong tương lai. Cũng giống như trả cổ tức bằng
tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu không làm gia tăng giá trị của công ty. Sau khi cổ tức
bằng cổ phiếu được chia, giá trị công ty vẫn như cũ, nhưng giá cổ phiếu sẽ giảm
xuống để điều chỉnh cho khoản cổ tức đã được chia. Lợi thế của cổ tức bằng cổ
phiếu ở đây chỉ đơn giản là mang đến cho cổ đông sự lựa chọn. Các cổ đông có thể

7

giữ cổ phiếu và hi vọng công ty sẽ có thể sử dụng tiền đó để tạo ra một tỷ suất sinh
lợi tốt hơn hoặc các cổ đông có thể bán một số cổ phiếu mới để thu lại tiền mặt. Lợi
ích lớn nhất của cổ tức bằng cổ phiếu là các cổ đông không phải chịu thuế trên giá
trị cổ tức nhận được, tuy nhiên khi giao dịch mua bán thì lượng cổ phiếu này vẫn
phải chịu thuế.
- Trả cổ tức bằng các hình thức khác như mua lại cổ phiếu, thưởng bằng cổ
phiếu quỹ, trả cổ tức bằng tài sản khác.
+ Hình thức trả cổ tức bằng mua lại cổ phiếu là được các công ty trong ngành
bất động sản niêm yết sử dụng nhiều nhằm dùng lợi nhuận để mua lại cổ phiếu đang
lưu hành để làm cổ phiếu quỹ cho công ty. Việc thực hiện mua lại cổ phiếu theo
một số cách thức như mua trực tiếp từ các cổ đông bằng cách đưa ra một mức giá
đệm thường cao hơn giá thị trường, ở Mỹ chênh lệch giữa giá đệm với giá thị
trường thường là 20 - 25%, tỷ lệ cổ phiếu mà công ty dự kiến mua lại thường dao
động trong phạm vi 15 – 19% tổng số cổ phiếu đang lưu hành, và chương trình mua
lại cổ phiếu thường kéo dài trong vòng 3 - 4 tuần, hoặc có thể mua lại ở thị trường
tự do, hay có thể thương lượng riêng để mua lại từ những người nắm giữ một lượng
lớn các cổ phiếu như các định chế. Mua lại cổ phiếu được xem như là một quyết
định cổ tức, vì mua lại cổ phiếu là cách thức mà lợi nhuận của công ty được chi trả
dưới hình thức lãi vốn. Vì vậy, nếu không kể thuế, các chi phí giao dịch và sự
không hoàn hảo của thị trường thì các cổ đông sẽ không quan tâm giữa lợi nhuận
tương đương từ cổ tức tiền mặt và mua lại cổ phiếu, hay nói cách khác giá trị công
ty sẽ không chịu tác động của cách thức phân phối cổ tức tiền mặt hay mua lại cổ
phiếu. Tuy nhiên trên thực tế, mua lại cổ phiếu làm gia tăng giá trị công ty. Các
công ty quyết định mua lại cổ phiếu thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt để hưởng
các lợi thế của thuế đánh trên thu nhập lãi vốn thấp hơn so với cổ tức tiền mặt hoặc
ít ra vì thu nhập lãi vốn có thể được hoãn thuế đến các thời điểm trong tương lai.
Mua lại cổ phiếu còn được dùng để phát ra các tín hiệu tích cực cho các cổ đông về
các dự kiến của ban điều hành rằng lợi nhuận và dòng tiền của các dự án bất động
sản sắp tới của công ty sẽ cao hơn trong tương lai.

8

+Hình thức trả cổ tức thưởng bằng cổ phiếu quỹ: hầu hết công ty đều có một
lượng cổ phiếu quỹ nhất định, cổ phiếu quỹ không có các quyền như cổ phiếu lưu
hành, trong đó có quyền nhận cổ tức, quyền mua cổ phiếu mới. Cũng như các công
ty trong ngành khác, các công ty trong ngành bất động sản niêm yết dùng cổ phiếu
quỹ để thưởng hoặc bán với giá ưu đãi thì thực chất không phải là phát hành thêm,
không phải là chuyển từ vốn lợi nhuận thành vốn cổ phiếu mà chỉ là bán hay thưởng
cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu thay cho trả cổ tức bằng tiền mặt. Hoạt động
mua bán cổ phiếu quỹ là một trong những công cụ hiệu quả và nhanh chóng giúp
các công ty niêm yết điều hòa vốn cổ phiếu, tạo khoản thu nhập chênh lệch giá và là
nguồn để công ty có thể linh hoạt thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức mà không tác động lớn
đến các nhà đầu tư.
+Hình thức trả cổ tức bằng tài sản khác được các công ty ngành bất động sản
niêm yết sử dụng nhiều để chi trả cổ tức cho cổ đông bằng các tài sản như các căn
hộ, đất nền dự án hình thành trong tương lai hoặc các bất động sản của một công ty
khác mà công ty sở hữu,...Việc trả cổ tức bằng tài sản khác sẽ làm giảm tài sản đó
với một bút toán tương ứng trong lợi nhuận giữ lại. Tuy luật doanh nghiệp có cho
phép, nhưng hình thức này chưa phổ biến tại Việt Nam.
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chính sách cổ tức
Để đánh giá chính sách cổ tức của một công ty niêm yết, các chỉ tiêu chính để đo
lường như sau :
- Tỷ lệ chi trả cổ tức: là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà các cổ đông của công
ty cổ phần được hưởng chiếm tỷ lệ trong thu nhập một cổ phiếu thường mà công ty
tạo ra trong kỳ. Công thức tính như sau:
Tỷ lệ chi trả cổ tức =

Cổ tức mỗi cổ phiếu
Thu nhập mỗi cổ phiếu

Tỷ lệ chi trả cổ tức cũng cho biết công ty dành ra số phần trăm từ thu nhập một cổ
phiếu thường để tái đầu tư. Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh công ty đã sử
dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, chỉ có một phần
nhỏ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, và ngược lại với tỷ lệ chi trả cổ tức thấp. Những

9

nhà đầu tư muốn tìm kiếm thu nhập hiện tại sẽ thích một công ty có tỷ lệ chi trả cổ
tức cao. Ngược lại, những nhà đầu tư chưa có nhu cầu nhận thu nhập từ cổ tức ngay
trong hiện tại và mong chờ một sự gia tăng giá trị cổ phiếu thường trong tương lai
thì họ lại thích các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp và giữ lại lợi nhuận nhiều hơn
để tái đầu tư.
- Cổ tức trên mỗi cổ phiếu là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi
cổ phiếu nhà đầu tư sở hữu được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh. Cổ tức
mỗi cổ phiếu được tính dựa vào tổng thu nhập của cổ phiếu dùng để chi trả cổ tức.
Công thức tính như sau:
Cổ tức trên mỗi cổ phiếu =

Tổng thu nhập cổ phiếu thường dùng để chi trả cổ tức
Tổng số cổ phiếu thường

Vì cổ tức trên mỗi cổ phiếu là thu nhập thực tế nhận được ngay trong hiện tại nên
nhà đầu tư rất quan tâm đến chỉ tiêu này. Sự tăng lên cổ tức một cổ phiếu thường
mang lại hiệu ứng tốt trong tâm lý của các nhà đầu tư và ngược lại nếu cổ tức trên
mỗi cổ phiếu bị sụt giảm. Nhưng chỉ tiêu cổ tức trên mỗi cổ phiếu không phải là chỉ
tiêu đo lường triệt để chính sách cổ tức. Vì nếu dựa vào chỉ tiêu này, nhà đầu tư chỉ
biết số tiền nhận được từ cổ tức, mà không biết số tiền lợi nhuận trên đồng vốn đầu
tư vào cổ phiếu của công ty.
- Tỷ suất cổ tức là tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu, hay tỷ lệ cổ
tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền phải trả để mua cổ phiếu đó. Công thức
tính như sau:
Tỷ suất cổ tức

=

Cổ tức mỗi cổ phiếu
Giá trị thị trường mỗi cổ phiếu

Tùy theo nhu cầu đo lường khác nhau mà có thể sử dụng giá cổ phiếu ở các kỳ khác
nhau, hoặc khác với kỳ chia cổ tức. Thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần là cổ tức
và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phiếu. Như vậy, tỷ suất cổ tức là tỷ suất
sinh lợi của nhà đầu tư chỉ tính riêng cho thu nhập từ cổ tức khi nhà đầu tư mua cổ
phiếu tại một mức giá nhất định, nghĩa là tỷ suất cổ tức phản ánh nhà đầu tư sẽ nhận
được bao nhiêu đồng cổ tức từ một đồng đầu tư vào cổ phiếu. Tỷ suất cổ tức càng

10

cao thể hiện rằng nhà đầu tư có tỷ suất sinh lợi từ cổ tức càng cao, còn tỷ suất cổ tức
thấp thì điều đó chưa hẳn đã xấu bởi vì nhà đầu tư có thể trông chờ vào tỷ suất sinh
lợi từ lãi vốn của biến động giá cổ phiếu trên thị trường. Một tỷ suất cổ tức ở mức
cao (hay thấp) chưa chắc đã phản ánh được công ty có chi trả cổ tức cao (hay thấp),
vì tỷ suất cổ tức còn phụ thuộc vào giá cổ phiếu trên thị trường. Do vậy, mà chỉ tiêu
này chỉ dùng để so sánh chính sách cổ tức của những công ty khác nhau nhưng có
những đặc điểm giống nhau về quy mô, ngành nghề kinh doanh và có mức giá cổ
phiếu là tương đương nhau.
1.1.2.4 Tầm quan trọng của chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức tại các công ty niêm yết là một trong ba quyết định tài
chính quan trọng trong một công ty và có liên hệ mật thiết với hai chính sách tài
chính còn lại là chính sách tài trợ và chính sách đầu tư. Việc quyết định phân cổ tức
cho các cổ đông là điều hết sức quan trọng, nó không đơn thuần chỉ là việc phân
chia lãi cho các cổ đông, mà còn liên quan mật thiết đến công tác quản lý tài chính
của công ty cổ phần. Tầm quan trọng của chính sách cổ tức được thể hiện như sau:
Chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ tức
cung cấp cho cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên và là nguồn thu nhập
ổn định, chắc chắn mà nhà đầu tư có thể nhận được ngay trong hiện tại khi họ đầu
tư vào công ty niêm yết trên TTCK. Do vậy, việc công ty có duy trì trả cổ tức ổn
định hay không ổn định, đều đặn hay dao động thất thường đều làm ảnh hưởng đến
quan điểm của nhà đầu tư về công ty, do vậy có thể dẫn đến sự biến động giá cổ
phiếu của công ty niêm yết trên thị trường.
Chính sách cổ tức ảnh hưởng đến chính sách tài trợ của công ty niêm yết.
Thông qua việc quyết định chính sách cổ tức mà công ty niêm yết cũng quyết định
luôn chính sách tài trợ. Đặc biệt, lợi nhuận giữ lại là nguồn quan trọng cho việc tài
trợ vốn cổ phần cho các công ty bất động sản niêm yết. Nên từ đó, chính sách cổ tức
ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của một công ty và ảnh
hưởng đến chi phí sử dụng vốn của công ty. Ngoài ra, nếu chi trả cổ tức thì các công
ty phải bù trừ lại nguồn tài trợ thiếu hụt do lợi nhuận giữ lại ít bằng việc huy động

11

vốn từ bên ngoài với nhiều thủ tục phức tạp và tốn nhiều chi phí hơn.
Chính sách cổ tức ảnh hưởng tới chính sách đầu tư của công ty niêm yết. Với
nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp từ lợi nhuận giữ lại, sẽ làm cho chi phí sử
dụng vốn của công ty ở mức tương đối thấp, hệ số đòn bẩy tài chính thấp, đặc biệt
giúp cho các công ty niêm yết hoạt động trong ngành bất động sản không bị mất cân
đối tài chính. Và đồng thời, lợi nhuận giữ lại luôn sẵn có tại công ty. Từ đó, công ty
có thể linh hoạt lựa chọn đầu tư vào các dự án có tỷ suất sinh lợi cao. Như vậy, lợi
nhuận giữ lại có thể kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể
ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty trong tương lai.
1.1.3 Các chính sách cổ tức
1.1.3.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Chính sách này xác nhận rằng một công ty niêm yết nên giữ lại lợi nhuận khi
có cơ hội đầu tư các dự án mới hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi
mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi. Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động
cũng đề xuất là các công ty niêm yết đang tăng trưởng thường có tỷ lệ chi trả cổ tức
thấp hơn các công ty niêm yết đang trong giai đoạn bão hòa. Chính sách lợi nhuận
giữ lại thụ động ngụ ý việc chi trả cổ tức của công ty là nên thay đổi từ năm này sang
năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết các công ty
niêm yết thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian. Điều này
không có nghĩa là bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi
vì cổ tức có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách:
- Công ty có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu
cầu vốn cao. Nếu công ty tiếp tục tăng trưởng, ban giám đốc có thể tiếp tục thực
hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức.
- Công ty có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó tăng tỷ lệ nợ
trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức. Nếu công ty có nhiều
cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với
cắt giảm cổ tức. Sau đó, trong những năm tiếp theo, công ty cần giữ lại lợi nhuận để
đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp.

12

1.1.3.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn
định cổ tức. Theo đó, công ty niêm yết duy trì chi trả cổ tức liên tục qua các năm
với mức chi trả các năm tương đối ổn định, có thể có sự biến động song không đáng
kể so với sự biến động của lợi nhuận. Đặc biệt là các công ty niêm yết trong ngành
bất động sản chỉ thực hiện chi trả cổ tức ở mức cao hơn khi công ty có thể đạt được
sự gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đồng thời khi đã tăng thì sẽ cố gắng duy
trì cổ tức ở mức đã định cho đến khi công ty nhận thấy không thể ngăn chặn được
sự giảm sút lợi nhuận kéo dài trong tương lai. Do đó, một sự cắt giảm cổ tức có thể
như một tín hiệu là tiềm năng lợi nhuận dài hạn của công ty đã sụt giảm, các dự án
không hiệu quả. Tương tự, một sự gia tăng lợi nhuận được coi như là minh chứng
của dự kiến rằng lợi nhuận tương lai sẽ gia tăng.
Lý thuyết của chính sách cổ tức tiền mặt ổn định xuất phát từ tâm lý của các nhà
quản trị cho rằng các cổ đông thường ưa thích sự tăng trưởng ổn định của cổ tức.
Ngay cả trong trường hợp có sự đảm bảo chắc chắn cho việc tăng cổ tức lên cao, thì
các nhà quản trị cũng chỉ tăng tỷ lệ cổ tức lên một phần nào đó rất ít so với sự gia
tăng trong lợi nhuận của công ty.
1.1.3.3 Chính sách chi trả cổ tức khác
Ngoài chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, các công
ty còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như:
- Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi. Nếu lợi nhuận của công ty
thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo.
- Chính sách chi trả cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào
cuối năm. Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những công ty có lợi nhuận hoặc
nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai.
Ngay cả khi các công ty niêm yết có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể
trông cậy vào một mức chi trả cổ tức đều đặn, còn khi lợi nhuận cao và không có
nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dư ra này, các công ty sẽ công bố một mức cổ tức
thưởng cuối năm. Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợi

13

nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận
được một mức cổ tức đều đặn.
Như vậy, có rất nhiều chính sách cổ tức để lựa chọn sao cho phù hợp với
dòng tiền, lưu lượng tiền tệ và nhu cầu đầu tư của công ty niêm yết. Mặc dù được
xếp ưu tiên thấp hơn chính sách tài trợ và chính sách đầu tư, nhưng việc chọn chính
sách cổ tức cũng đòi hỏi được xem xét cẩn thận bởi vì ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
ích của cổ đông và tới sự phát triển của các công ty niêm yết.
1.2 Giá cổ phiếu công ty niêm yết
1.2.1 Khái niệm
Cổ phiếu công ty niêm yết là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp
vào công ty cổ phần phát hành đã được Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận cho
phép niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán. Nguời nắm giữ cổ phiếu
trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty cổ phần phát hành. Vì
vậy, cổ phiếu là loại chứng khoán vốn.
1.2.2 Các hình thức giá của cổ phiếu công ty niêm yết
- Mệnh giá là giá trị mà công ty cổ phần niêm yết ấn định cho một cổ phiếu
và được ghi trên cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách
kế toán của công ty và không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã đầu tư.
Mệnh giá chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu
thường lần đầu huy động vốn thành lập công ty. Mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu
công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra. Một số nước
luật pháp cho phép công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường không có
mệnh giá.
- Giá trị sổ sách là giá trị của cổ phiếu niêm yết được xác định dựa trên cơ sở
số liệu sổ sách kế toán của công ty. Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu
thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn
chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần của công ty chia cho tổng số cổ phiếu
thường đang lưu hành. Trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải
lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia

14

cho số cổ phiếu thường đang lưu hành. Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính
theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi công ty phát hành và
cộng với phần cổ tức công ty còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ
trước đó. Vì thế, việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép cổ đông thấy được số giá trị
tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn
góp ban đầu.
- Thị giá là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu niêm yết được thể hiện
trong phiên giao dịch đóng cửa trên Sở giao dịch chứng khoán đã được ghi nhận.
Thị giá của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường và phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố, do vậy thường xuyên biến động.
1.2.3 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và biến động giá cổ phiếu bao gồm
những yếu tố ngoại sinh, yếu tố nội sinh và những yếu tố ảnh hưởng khác. Những
yếu tố này biến đổi không ngừng và liên tục tác động qua lại với nhau để hình thành
nên cung - cầu các cổ phiếu công ty niêm yết trên TTCK. Khi cầu cổ phiếu tăng cao
mà lượng cung không đáp ứng đủ sẽ dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu tăng. Khi lượng
cung cổ phiếu không đổi nhưng lượng cầu lại giảm mạnh dẫn đến tình trạng giá cổ
phiếu sụt giảm.
1.2.3.1 Các yếu tố nội sinh
Các yếu tố làm tăng, giảm giá trị của cổ phiếu gắn với công ty niêm yết được
gọi là yếu tố nội sinh. Các yếu tố này quyết định sự tồn tại của giá cổ phiếu là lợi
thế khai thác sử dụng các nguồn lực của công ty, lợi thế kinh doanh và các yếu tố
lợi thế vô hình khác mà công ty đã tạo dựng được, kể cả phần tích tụ lợi nhuận
không chia để tái đầu tư, tạo lợi thế so sánh cho cổ phiếu. Nói cách khác, giá trị cổ
phiếu là hình ảnh động phản ánh những giá trị hữu hình, vô hình của hàng hóa thực
và xu thế hoạt động cũng như tình hình năng lực tài chính của công ty niêm yết. Giá
trị sổ sách của một cổ phiếu không phải là một hằng số bất biến và sẽ thay đổi khi
lợi nhuận công ty thay đổi. Yếu tố làm cho lợi nhuận công ty thay đổi và làm cho
giá cổ phiếu thay đổi là do có sự thay đổi trong những điều kiện cơ bản, đó là:

15

- Nguồn lực tài chính: đây là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đặc biệt là đối với ngành bất động sản
có vòng quay vốn khá thấp, mỗi dự án luôn cần một lượng tiền lớn, thời gian thu
hồi vốn chậm. Các công ty muốn phát triển bền vững và chiếm thị phần lớn trong
ngành đều phải thực hiện một lúc nhiều dự án, nên việc duy trì nguồn lực tài chính
sẵn sàng, đầy đủ và hợp lý là điều kiện tiên quyết. Với nguồn lực tài chính tốt, công
ty sẽ chi thêm cho các hoạt động như đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương
cho công nhân.
- Nguồn nhân lực: nhân tố về con người - chất lượng ban lãnh đạo, trình độ
nghề nghiệp của công nhân là yếu tố cơ bản, then chốt, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Cán bộ quản trị cấp cao
là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và
quản lý mọi hoạt động của công ty. Sự thành công hay thất bại của công ty phụ
thuộc vào các quyết định của họ. Bên cạnh đó, với thị trường bất động sản luôn biến
đổi có tính chu kỳ thì kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý công ty và khả năng
xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công
việc, khả năng huy động lực lượng công nhân kịp thời về số lượng và chất lượng để
phục vụ cho quá trình thi công các dự án. Đây là việc rất khó vì khác với các ngành
sản xuất khác trong ngành bất động sản, nhu cầu sử dụng công nhân tuỳ thuộc vào
tiến độ thi công, số lượng không ổn định, có khi chỉ cần vài chục công nhân nhưng
có khi phải huy động hàng trăm, thậm chí hàng ngàn công nhân vào phục vụ dự án.
- Yếu tố về thị trường tiêu thụ - khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị
trường. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, marketing là một công cụ cạnh tranh
đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng doanh thu và hiệu quả
hoạt động của công ty. Một công ty nếu xây dựng được chiến lược marketing và
biết cách sử dụng trong những tình huống, thời điểm thích hợp thì sẽ giúp công ty
giữ được ưu thế trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực kinh
doanh bất động sản, do đặc thù sản phẩm của các công ty ngành này là không thể
đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp