Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP VÀ HỢP TÁC CÔNG TƢ TRONG THỊ TRƢỜNG NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP VÀ HỢP TÁC CÔNG TƢ TRONG THỊ TRƢỜNG NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tải bản đầy đủ

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Thuê nhà nhà nước
Ở tạm, ở ghép

31%

19%
4% nhà tư nhân
4% Thuê
14,6%

31,4%

Mua nhà nhà nước

Có nhà riêng

Hình 2.1 Cơ cấu nhà ở của cán
bộ công chức, viên chức

Con số này tương ứng với hơn 120 nghìn cán bộ viên chức hiện sống trong điều
kiện chật hẹp và không ổn định, điều kiện vệ sinh môi trường thấp kém. Khoảng 30%
số lượng cán bộ, công chức vào biên chế từ năm 1992 được phân phối nhà ở. Số người
này hầu hết có số năm làm việc khá lâu, đã về hưu và chiếm tỷ lệ rất nhỏ (5-6%) so với
tổng số cán bộ, công chức, viên chức hiện nay đang làm việc. quỹ nhà ở phân phối cho
cán bộ, công chức, viên chức được xây dựng từ những năm 1960-1970 của thế kỷ trước
đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng, chưa được cải tạo xây dựng lại, đa số ở trong
tình trạng lún, nứt, thấm dột. thành phố hiện có 445 chung cư và cư xá được xây dựng
từ trước năm 1975 và trong thời kỳ bao cấp nhà ở. Các chung cư được ví như là “ổ
chuột trên cao” với hiện trạng phổ biến là bên ngoài hoen ố, bên trong ẩm mốc, chật
chội, thiếu ánh sáng. Do số người trong từng căn hộ tăng lên, do chật hẹp về diện tích ở,
thiếu thốn diện tích khu phụ, hầu hết các khu ở này đều xảy ra tình trạng cơi nới, lấn
chiếm diện tích sử dụng chung, sân vườn. . . để tăng thêm diện tích sinh hoạt. sự xuống
cấp cả về chất lượng công trình lẫn môi trường sống đang là vấn đề cần được quan tâm
giải quyết đối với các khu nhà ở này.
Đối tượng gặp khó khăn về nhà ở tập trung vào các hộ gia đình trẻ ở khu vực đô
thị, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. nhu cầu bức xúc như vậy nhưng khả năng tích
lũy để mua được nhà ở của những đối tượng này hầu như không có. Khi chưa thể cởi bỏ
gánh nặng cuộc sống cho người lao động, thì họ chưa thể toàn tâm toàn ý phục vụ cơ
Luận văn thạc sĩ

Trang 40/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

quan, tổ chức của mình và tình trạng chảy máu chất xám là tất yếu. Quan tâm hơn nữa
đến điều kiện sống cho công chức, trước hết về nhà ở là yếu tố hết sức quan trọng để họ
có thể yên tâm về cuộc sống, cống hiến hết mình cho công việc.
2.1.2 Thực trạng nhà ở công nhân
Hiện nay, trên địa bàn thành phố HCM có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp
tập trung với tổng diện tích là 2.354ha. Hầu hết các khu này đều có tỷ lệ đất cho thuê từ
60% - 100% trên tổng diện tích đất cho thuê. Theo qui hoạch phát triển đến năm 2020,
thành phố sẽ có 23 khu chế xuất, khu công nghiệp (KCX-KCN) với tổng diện tích
khoảng 7.042ha.
Tính đến 6 tháng đầu năm 2010, các KCX-KCN đã thu hút được 1.131 dự án
đầu tư, trong đó có 463 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là hơn
4.076 tỷ USD, sản phẩm xuất đi trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đồng thời thu hút
255.203 lao động đến làm việc. Hiện nay, có khoảng 70% công nhân có nhu cầu thuê
nhà ở. Nhu cầu về nhà ở cho người lao động sẽ còn tiếp tục tăng cao do việc mở rộng
và thành lập mới các KCX-KCN. Tuy nhiên, việc phát triển các khu công nghiệp hiện
nay chưa gắn liền với việc phát triển nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống
người lao động. Các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và các doanh nghiệp cũng
chưa chú trọng tới việc xây dựng nhà ở cho công nhân thuê, chủ yếu do hiệu quả đầu tư
không cao. Cho đến nay, các khu nhà lưu trú công nhân xây dựng từ nguồn vốn ngân
sách hoặc từ doanh nghiệp mới chỉ giải quyết được nhà ở cho khoảng 5% số lao động,
vì vậy ở hầu hết các khu công nghiệp, người lao động có điều kiện sống rất khó khăn.
Công nhân thường phải thuê nhà trọ từ các hộ dân tự xây dựng lân cận khu công
nghiệp để cư trú với chất lượng thấp, không đảm bảo điều kiện vệ sinh và điều kiện
sống tối thiểu. Với mức thu nhập thấp, họ đều phải chọn giải pháp vài người chung
nhau thuê một phòng tại những dãy nhà trọ tư nhân xung quanh khu công nghiệp, khu
chế xuất. Khi các khu công nghiệp mọc lên trên địa bàn nào thì người dân nơi ấy thi
nhau xây nhà tạm cho công nhân thuê. Họ cải tạo khu vực chăn nuôi, các khu đất trống
trong vườn để xây phòng trọ cho thuê. Giá phòng trọ dao động 200-300 nghìn

Luận văn thạc sĩ

Trang 41/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

đồng/người/tháng tùy theo vị trí và mức độ tiện nghi. Toàn thành phố có khoảng
135.260 chỗ lưu trú cho công nhân do các hộ gia đình cho thuê, tương đương với
270.000 – 337.500 m2 được xây dựng.

3,9%

Nhà ở công nhân do
các công ty xây dựng

91,2
%

Nhà trọ tư nhân

4,9%

Nhà lưu trú tại KCXKCN

3,9 %
3,9%

4,9 %
91,2 %

Hình 2.2. Nhà lưu trú cho
công nhân thuê

Việc tham gia đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê của các hộ gia đình đã đáp ứng
phần nào nhu cầu về nhà ở cho người lao động. Tuy nhiên, hầu hết những dãy nhà trọ
tư nhân đều được dựng lên một cách tạm bợ, không gian chật hẹp, ẩm thấp, điện nước
thường xuyên thiếu thốn. những nhà trọ công nhân thường được xây thành dãy, tường
gạch, lợp mái tôn và phi b rô xi măng, thậm chí cả bằng phên lá; hầu như không có khu
vệ sinh riêng, không có hệ thống phòng cháy chữa cháy, đường cấp điện không an toàn.
Diện tích mỗi phòng chỉ rộng 12-15 m2 cho từ 3-5 công nhân trọ. Điều kiện sống khó
khăn, tạm bợ, không đảm bảo vệ sinh môi trường đã và đang ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe của người lao động, đồng thời làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Trong tháng 11/2008, Sở Xây dựng đã phối hợp với Liên đoàn lao động thành
phố, Sở Lao động Thương binh xã hội, Ban quản lý các KCX-KCN, Quỹ phát triển nhà
ở, Quỹ đầu tư phát triển đô thị, UBND các quận, huyện liên quan kiểm tra thực địa một
số nhà trọ do các hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố. Kết
quả kiểm tra 421 phòng trọ tại 14 điểm cho thấy có 78,5% không đảm bảo tiện nghi sử
dụng (không có quạt trần hay quạt treo tường), 71,4% không đảm bảo an toàn phòng

Luận văn thạc sĩ

Trang 42/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

cháy chữa cháy, 71,5% không đảm bảo về quy hoạch và kiến trúc xây dựng, diện tích
phòng bình quân là 3-4 m2/người, thậm chí có nơi dưới 3 m2/người.

2.2.

Thực trạng môi trƣờng pháp lý cho các dự án hợp tác công tƣ tại TP.HCM
Chính phủ đã tạo điều kiện khá rõ cho thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu

tư về mặt pháp luật, cụ thể là Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và Nghị định về BOT sửa
đổi.
Mới đây, Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Kế hoạch và Đầu Tư (MPI) đã
phác thảo khuôn khổ PPP nhằm mục đích cải thiện và mở rộng phạm vi của quy chế
BOT hiện tại và quy chế BOT mới (Nghị định 108/2009/NĐ-CP) có hiệu lực từ ngày
15 tháng 01 năm 2010 và soạn thảo cho phù hợp với thực tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, tồn tại một số lĩnh vực mà thực tế khác xa so với khung đề xuất.
Từ trước đến nay, xu hướng của Chính phủ là trao BOT cho các doanh nghiệp
quốc doanh (SOEs) trên cơ sở đàm phán, chứ không phải đấu thầu cạnh tranh. Các
SOEs này, trong nhiều trường hợp chưa thiết lập nghiên cứu khả thi cụ thể và đang nỗ
lực để huy động nguồn vốn cần thiết.
Trong nhiều trường hợp, các SOEs còn dựa hoàn toàn vào bảo lãnh của Chính
phủ để huy động vốn. Tuy nhiên, người ta tin rằng Chính phủ sẽ có biện pháp nhằm
giảm bớt hoặc hạn chế phạm vi bảo lãnh đối với các dự án BOT.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã trình bày về
khuôn khổ hợp tác công tư của Việt Nam trong hội nghị quốc tế về chương trình PPP
Việt Nam tại Hà Nội. Hiện tại, với sự rà soát của các cơ quan thực hiện, có khả năng
Thủ tướng Chính phủ sẽ phê chuẩn khuôn khổ PPP và các nghị định liên quan trong
cuối năm nay.
2.3.

Thực trạng hợp tác công tƣ trong thị trƣờng nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp
tại TP.HCM
2.3.1. Dự án nhà ở thu nhập thấp

Luận văn thạc sĩ

Trang 43/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Tính từ khi Quyết định 67/2009/QĐ-TTg ngày 20/4/2009 của Thủ Tướng Chính
phủ được triển khai, đã hơn hai năm thành phố Hồ Chí Minh hầu như chưa có dự án
nhà ở thu nhập thấp nào được đầu tư từ công ty tư nhân hoàn tất và bàn giao cho người
thu nhập thấp. Theo Sở Xây dựng Tp.HCM, trên địa bàn thành phố tính đến tháng
6/2011 đã có 33 doanh nghiệp tham gia chương trình đầu tư xây dựng nhà cho người
thu nhập thấp với quy mô hơn 14.000 căn hộ. Trong đó, UBND TP.HCM mới chấp
thuận chủ trương đầu tư xây dựng cho 6 chủ đầu tư với quy mô 22,4ha với gần 8.800
căn hộ phục vụ khoảng 31.650 người.
Bảng 2.1 Các dự án nhà ở thu nhập thấp đang triển khai ở TP.HCM
TÊN DỰ ÁN

STT
1
2
3
4
5
6

Khu dân cư Hạnh Phúc – xã
Bình Hưng - huyện Bình
Chánh
Dự án xã Tân Nhựt - huyện
Bình Chánh
Chung cư Thạnh Lộc - Quận
12
Khu dân cư Vĩnh Lộc A huyện Bình Chánh
Khu dân cư Minh Thành huyện Hóc Môn
Nhà thu nhập thấp phường
Hiệp Thành - Quận 12

CHỦ ĐẦU TƢ
Tổng công ty xây dựng
số 1
Tổng công ty Địa Ốc
Sài Gòn
Công ty CP ĐT Vạn
Phúc Gia
Công ty CP Địa Ốc An
Nhân
Công ty TNHH Long
Thịnh
Quỹ phát triển nhà ở
thành phố Hồ Chí Minh
(HOF)

QUI MÔ DỰ
ÁN
672
1223
336
1500
1300
2100

Dự án khu lưu trú công nhân và nhà ở thu nhập thấp xã Tân Nhựt - huyện Bình
Chánh do Tổng công ty địa ốc Sài Gòn làm chủ đầu tư. Đây là một dự án lớn được cả
thành phố quan tâm với diện tích đất toàn khu 49.977,7m2 , qui mô dân số dự kiến
4.986 người, tổng số căn hộ 1223 căn, tổng vốn đầu tư 792 tỷ đồng. Dự án bao gồm các
trường học cho trẻ sơ sinh, trường tiểu học và siêu thị nhỏ. Dự án được khởi công vào
ngày 19/9/2009 và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2012. Tổng số đơn vị nhà 1223
nhà ở chia làm bốn loại như mô tả trong bảng 2.2.

Luận văn thạc sĩ

Trang 44/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Bảng 2.2 Phân loại nhà ở trong dự án nhà ở thu nhập thấp Tân Nhựt
Diện tích
Diện
Phân loại
Số căn hộ
căn hộ
Giá (triệu đồng)
tích
(m2)
1. Nhà ở thu nhập thấp
290
3.872
45 ÷ 70
430 ÷ 670
2. Nhà giá thấp cho gia đình
công nhân
690
6.671
45 ÷ 70
430 ÷ 670
3. Nhà lưu trú công nhân
243
4.026
150.000đ/người/tháng
Tổng cộng
1.223
Tổng mức đầu tư là 792.000.000.000 đồng. Nguồn tài chính được huy động từ 3
nguồn: vốn tự có, vốn vay ngân hàng và tiền tạm ứng từ khách hàng. Khoản vay từ
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với lãi suất 12,5% trong 2
năm, chiếm 34% tổng chi phí dự án. Vốn tự có khoảng 51% và phần còn lại là thu tạm
ứng từ khách hàng khoảng 15%.
Công ty có được đất dự án chủ yếu là từ đất nông nghiệp giữa năm 2007 và
hoàn thành thu hồi đất vào cuối năm 2008. Dự án đã phê duyệt và cấp giấy phép từ
tháng 10 năm 2007 đến tháng 9 năm 2009. Kế hoạch xây dựng được minh họa trong
bảng 2.3.
Bảng 2.3 Kế hoạch xây dựng
Năm

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Có đƣợc đất
Chuẩn bị
Xây dựng

Hoàn thành và bàn
giao

Dự án được Chính phủ trợ cấp tiền lãi vay, cơ sở hạ tầng cơ bản bao gồm trường
mầm non, trường tiểu học và cho phép thay đổi đất nông nghiệp sang đất ở với nộp thuế
thấp hơn. Người thu nhập thấp có thể vay mượn từ ba ngân hàng: Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK), Ngân hàng Công thương Việt
Nam (Vietinbank) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB).
Luận văn thạc sĩ

Trang 45/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

2.3.2. Phân tích các hình thức hợp tác công tƣ
2.3.2.1 Chính phủ hỗ trợ tƣ nhân tham gia
Chính phủ khuyến khích sự tham gia của tư nhân thông qua cung các hình thức:
đất đai, ưu đãi thuế, trợ cấp tài chính, trợ cấp cơ sở hạ tầng, nới lõng trong tiêu chuẩn
xây dựng.
Trong thời hạn ưu đãi về thuế, bên tư nhân nhận được cả hai loại thuế giá trị gia
tăng (VAT) và thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Các nhà đầu tư tư nhân được miễn thuế
VAT. Thuế TNDN, họ nhận được miễn thuế trong bốn năm đầu tiên, được giảm 50%
trong năm năm tiếp theo và áp dụng thuế thu nhập 10% cho phần còn lại của vòng đời
dự án.
Đất đai là vấn đề quan trọng nhất đối với dự án nhà ở thu nhập thấp vì phần chi
phí cao trong tổng chi phí phát triển. Rất khó để tìm đất giá rẻ ở đô thị lớn như thành
phố Hồ Chí Minh. Nếu tư nhân phát triển chọn đất giá rẻ ở khu vực ngoại thành thì nhà
ở rất khó để bán cho người thu nhập thấp vì hệ thống giao thông chưa thuận tiện ở Việt
Nam dẫn đến khó khăn và mất nhiều thời gian trong di chuyển vào trung tâm thành phố.
Đối với các ưu đãi đất đai, chính phủ hứa sẽ cung cấp cho sử dụng đất miễn phí hoặc
tiền thuê đất miễn phí để phát triển. Tuy nhiên, hầu hết các nhà đầu tư tư nhân không
nhận được những ưu đãi. Trong dự án Tân Nhựt, công ty có vốn đầu tư đã phải mua lại
đất từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 và giá đất tăng gần 100 phần trăm.
Công ty được hỗ trợ từ chính phủ để chuyển đất nông nghiệp sang đất ở tương đương
với thuế thấp hơn 50% so với dự án khu dân cư bình thường.
Nguồn tài chính cho phát triển là một vấn đề khác của dự án nhà ở thu nhập
thấp. Ba nguồn tài chính cho đầu tư dự án nhà ở là vốn tự có, vốn vay và vốn tạm ứng
từ khách hàng. Về vốn vay: các công ty lớn thường đầu tư vào phân khúc thị trường cao
cấp với mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) đầu tư dự án
nhà ở thu nhập thấp. SMEs gặp khó khăn trong việc có được khoản vay dài hạn, trong
khi dự án nhà ở thu nhập thấp cần dài hạn thậm chí lên đến 20 năm theo yêu cầu của

Luận văn thạc sĩ

Trang 46/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

chính phủ. Chính phủ cũng hứa hẹn sẽ cung cấp hỗ trợ tài chính như trợ cấp lãi suất,
bảo lãnh cho khoản vay từ ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất trợ cấp có nghĩa là trừ 4% từ
mức lãi suất vay từ các ngân hàng thương mại. Nguồn thứ hai vốn ứng trước của khách
hàng là khá nhỏ vì hầu hết người mua là những người nghèo. Nguồn cuối của quỹ là
vốn chủ sở hữu do khả năng tài chính yếu của công ty cỡ nhỏ. Những khó khăn trong
nguồn tài chính cho các nhà đầu tư được minh họa trong hình 2.3. Trong dự án Tân
Nhựt, AGRIBANK cung cấp khoản vay 34% tổng mức đầu tư. Lãi suất tính là 12,6%
trong vòng 2 năm. Chính phủ trả lãi suất 4% hỗ trợ Công ty.

DN vừa & nhỏ
Khó và vay
ngắn hạn,
lãi suất cao

DN vừa & nhỏ

Vốn DN

Vay

Khách hàng người
thu nhập thấp
Phần nhỏ

Thanh toán tạm ứng
Đường cong thu nhập

Đường cong đầu tư

1. Tổng
nhu cầu
vốn

3. Nhu cầu tài
chính
2. Thu nhập bán nhà

Phần chuẩn bị và xây dựng
Phần kinh doanh

Thời gian

Hình 2.3 Nguồn tài chính cho dự án nhà ở thu nhập thấp
Đầu tư cơ sở hạ tầng tạo ra đầu tư trả trước cao và gánh nặng tài chính cho nhà
đầu tư tư nhân. Chính phủ hỗ trợ tư nhân về cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, hệ thống
nước, hệ thống giao thông vận tải. Tuy nhiên, không có chính sách rõ ràng rằng chính
phủ hỗ trợ như thế nào trong hệ thống cơ sở hạ tầng. Hầu hết các nhà tư nhân không thể
nhận được loại hình khuyến khích này. Trong trường hợp dự án Tân Nhựt, chính phủ
Luận văn thạc sĩ

Trang 47/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

trợ cấp trường mầm non, trường tiểu học và siêu thị nhỏ. Tổng mức đầu tư của các cơ
sở cộng đồng này được trích từ nộp thuế cho chính phủ. Việc quy hoạch, tiêu chuẩn
thiết kế thấp hơn dự án thương mại.
Để giảm chi phí nhà ở, chính phủ cho phép các nhà đầu tư giảm bớt quy hoạch
và tiêu chuẩn xây dựng. Dự án nhà ở thu nhập thấp có thể được tăng hệ số sử dụng đất
và mật độ xây dựng 1,5 lần so với bình thường nhằm sử dụng đất hiệu quả, kích thước
nhà ở có thể được giảm đến 45 mét vuông.
Tóm lại, hầu hết các ưu đãi hứa hẹn sẽ được cung cấp bởi chính phủ thì hầu như
nhà đầu tư tư nhân không thể nhận được. Các ưu đãi từ chính được tóm tắt trong Bảng
2.4.
Bảng 2.4 Chính sách hỗ trợ nhà đầu tƣ tƣ nhân
Chinh sách ƣu đãi của chính phủ
Ƣu đãi về đất

Ƣu đãi về thuế

Miễn tiền sử dụng đất
Miễn tiền thuê đất
Không chịu thuế TNDN trong 4 năm đầu, giảm
50% cho 5 năm tiếp theo và thuế 10% cho thời
gian còn lại của dự án.
Không chịu thuế GTGT

Hỗ trợ tài chính

Hỗ trợ lãi suất
Bảo đảm các khoản vay từ ngân hàng NN

Hỗ trợ cơ sở hạ tầng

Hỗ trợ cơ sở hạ tầng cơ bản trong và ngoài: hệ
thống điện, hệ thống nước, hệ thống giao thông
vận tải

Tiêu chuẩn xây dựng
thoáng hơn

Tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất 1,5
lần nhiều hơn bình thường dự án nhà ở

Luận văn thạc sĩ

Trang 48/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

2.3.2.2 Chính phủ áp đặt các nhà đầu tƣ tƣ nhân
Chính phủ áp đặt những yêu cầu nhất định để tư nhân tham gia vào các dự án
nhà ở thu nhập thấp như kiểm soát mức lợi nhuận, tiêu chuẩn thiết kế tối thiểu, kiểm
soát quá trình phân phối và kiểm soát phát triển.
Giá bán được xác định dựa trên mức lợi nhuận tối đa là 10%. Cơ cấu chi phí
bằng cách sử dụng tính toán lợi nhuận không bao gồm tất cả các ưu đãi trong thời hạn
giảm thuế, trợ cấp tài chính, ưu đãi về đất đai và trợ cấp cơ sở hạ tầng được nhận từ
chính phủ. Chính sách kiểm soát biên lợi nhuận tối đa không thúc đẩy phát triển tư nhân
giảm chi phí từ dự án, chi phí đầu tư cao hơn dẫn đến lợi nhuận cao hơn và ngược lại.
Chính phủ qui định quá trình phân phối nhà ở để đảm bảo rằng các đơn vị nhà ở
được bán đúng đối tượng người thu nhập thấp. Quá trình phân phối dự án nhà ở thu
nhập thấp là khá phức tạp và tốn thời gian bởi vì nhà đầu tư phải trình các cơ quan
chính phủ để có được phê duyệt nhiều lần. Khi bắt đầu công trình xây dựng, nhà đầu tư
phải cung cấp thông tin dự án cho bộ phận xây dựng như tiến độ thi công, số lượng đơn
vị để bán, cho thuê và cho thuê mua, thời gian đăng ký. Sau đó, bộ phận xây dựng công
bố thông tin dự án trên trang web và tờ báo ít nhất một lần. Những người dân có thu
nhập thấp đăng ký dự án này được duyệt từ chính quyền địa phương về thu nhập hộ gia
đình, điều kiện nhà ở và cư dân thường trú. Sau đó, các nhà đầu tư sẽ xếp hạng dựa trên
các tiêu chí xếp hạng trong Bảng 2.5 và lựa chọn người mua đủ điều kiện. Tiếp đến, gửi
danh sách người mua đủ điều kiện để bộ phận xây dựng kiểm tra các đăng ký của người
thu nhập thấp chỉ đăng ký có một dự án và chưa nhận được trợ cấp nhà ở. Nếu phòng
xây dựng phê duyệt với danh sách, người mua đủ điều kiện ký hợp đồng mua bán với
nhà đầu tư. Danh sách người mua sẽ được gửi đến bộ phận xây dựng và chính quyền
địa phương để ngăn ngừa bán lại. Quá trình phân phối mà nhà đầu tư phải tuân theo
được tóm tắt trong hình 2.4.

Luận văn thạc sĩ

Trang 49/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

1. Thông tin dự án

2. Thông tin dự án được thông báo

7.
D

an
h


ch

ng

4. Xếp loại và
lựa chọn người
mua đủ khả
năng

8. Kiểm tra nhà đã đúng mục
tiêu cho nhóm thu nhập thấp

ườ
im
ua

Sở Xây dựng

5. Đảm bảo
người thu nhập
thấp đăng ký có
1 dự án và chưa
nhận trợ cấp
6. Ký hợp đồng

Nhà đầu tƣ

3. Đăng ký

Xếp loại và
lựa chọn
người thu
nhập thấp

9. Ngăn chặn
bán lại

Không công bằng dẫn đến nhà
chuyển đến không đúng đối tượng

Ngƣời thu
nhập thấp

Sổ đăng


Thu nhập
gia đình

Tình trạng
nhà ở

Kiểm tra và
phê duyệt

Chính quyền
địa phƣơng

Không công bằng dẫn đến
nhà chuyển đến không
đúng đối tượng

Hình 2.4 Quá trình phân phối nhà

Luận văn thạc sĩ

Trang 50/98