Tải bản đầy đủ
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP VÀ HỢP TÁC CÔNG TƢ

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP VÀ HỢP TÁC CÔNG TƢ

Tải bản đầy đủ

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Tại Việt N am ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên
các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Chuẩn nghèo được xác định một cách tương đối và áp dụng
cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (Đối với thành phố Hồ Chí Minh, mức
chuẩn nghèo giai đoạn 2009 - 2015 được xác định ở mức thu nhập bình quân dưới 12
triệu đồng/người/năm ở các quận nội thành, quận mới và dưới 10 triệu
đồng/người/năm ở các huyện ngoại thành). Những người nằm dưới chuẩn nghèo dĩ
nhiên là người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, đại bộ phận những người lao động ở
Việt Nam, bao gồm cả những đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và
những đối tượng làm việc trong các thành phần kinh tế thu nhập có thể không dưới
chuẩn nghèo nhưng rất khó có điều kiện để tạo lập chỗ ở, nếu không có chính sách tạo
điều kiện, hỗ trợ của Nhà nước và của cộng đồng. Những đối tượng thu nhập thấp
được đề cập trong luận văn không chỉ là những người nghèo theo chuẩn nghèo mà
còn bao gồm cả là những người tuy có thu nhập thường xuyên ổn định nhưng không
đủ hay rất khó cho việc tạo lập nhà ở .
Với những tiêu chí trên đây, TP.HCM hiện có rất nhiều đối tượng thu nhập thấp
và thực sự có khó khăn về nhà ở như: cán bộ, công chức, viên chức được hưởng
lương từ Ngân sách Nhà nước; công nhân, viên chức làm việc trong các cơ quan,
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; các hộ diện giải phóng mặt bằng; công
nhân lao động làm việc tại các KCN, KCX, khu công nghệ cao; các đối tượng chính
sách (gia đình chính sách, người tàn tật, cô đơn...);...
Theo kết quả điều tra về nhà ở cho người có thu nhập thấp do Ngân hàng phát
triển Châu Á – ADB (2008) phối hợp với Bộ xây dựng tiến hành mới đây cho thấy,
khái niệm thu nhập thấp gồm mức thu nhập trên ngưỡng nghèo, gần với mức trung
bình, bao gồm chủ yếu là công nhân viên nhà nước, lực lượng vũ trang, công nhân,
người lao động, buôn bán nhỏ đô thị.

Luận văn thạc sĩ

Trang 10/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

1.1.2. Cơ cấu và đặc điểm của thị trƣờng nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp
Nhà ở cho người có thu nhập thấp là quỹ nhà ở của một quốc gia, địa phương
giành cho đa số dân cư và người lao động có thu nhập dưới mức trung bình trong xã hội.
Chúng bao gồm những căn nhà cấp thấp, giá rẻ giành cho người có thu nhập thấp và cho
các đối tượng chính sách xã hội như người già, tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa hoặc
người có công với đất nước đang sống trong hoàn cảnh khó khăn. Nhà ở cho người có
thu nhập thấp có thể là nhà riêng, nhà thuê thuộc sở hữu cá nhân, sở hữu doanh nghiệp
hoặc sở hữu cộng đồng và nhà nước.
1.1.3. Các chủ thể liên quan đến nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp
1.1.3.1 Đối tƣợng đƣợc mua, thuê, thuê- mua nhà ở thu nhập thấp
Hộ gia đình có ít nhất 01 người hoặc cá nhân (hộ độc thân) thuộc đối tượng sau
đây:
- Cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc các
cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp; viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công lập; sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (kể cả trường hợp đã được nghỉ theo
chế độ quy định);
- Người lao động thuộc các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định
của pháp luật (kể cả trường hợp đã được nghỉ theo chế độ quy định); người lao động tự
do, kinh doanh cá thể có thu nhập đảm bảo để thanh toán tiền mua, thuê, thuê mua nhà
ở theo quy định.
Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị Nhà nước thu hồi nhà ở, đất ở để phục vụ
công tác giải phóng mặt bằng, thực hiện cải tạo chung cư cũ bị hư hỏng, xuống cấp đã
được bồi thường bằng tiền theo quy định của pháp luật mà không được bồi thường
bằng nhà ở, đất ở.
1.1.3.2 Các thành phần kinh tế (Nhà đầu tƣ)

Luận văn thạc sĩ

Trang 11/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thấp hiện đang rất cấp
thiết, nhưng nguồn cung lại khá nhỏ giọt. Theo quy luật thị trường, có cầu là lập tức
có cung, đặc biệt với nhà ở xã hội đang có nhiều chính sách ưu đãi để phát triển.
Nhưng thực tế lại đang diễn ra tình trạng cung "làm ngơ" cầu. Chủ đầu tư kinh doanh
bất động sản thì cho rằng, vốn đầu tư nhà ở luôn là đồng vốn lớn, vòng quay chậm
và dài. Trong khi nhóm đối tượng nhà ở xã hội dù có nhu cầu mua nhưng không có
khả năng thanh toán ngay. Phía ngân hàng thì luôn đòi hỏi khách hàng phải đáp ứng
đầy đủ thủ tục vay, khả năng thanh toán đúng hạn.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư luôn hướng tới những thị
trường có khả năng sinh lời cao. Nhà ở phục vụ cho các đối tượng có thu nhập trung
bình, thu nhập cao luôn hấp dẫn các nhà đầu tư trong khi thị trường nhà ở cho người thu
nhập thấp không hấp dẫn đầu tư vì ít có khả năng sinh lợi.
1.1.3.3 Chính phủ
Trong hầu hết các nền kinh tế thị trường, Chính phủ có vai trò rất quan
trọng trong việc nâng cao phúc lợi công cộng, xóa đói, giảm nghèo. Để tạo lập, vận hành
và phát triển thị trường nhà ở cho người có thu nhập thấp không thể thiếu vai trò điều tiết
của Chính phủ. Có nhiều chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp đang được áp
dụng trên khắp thế giới, phương pháp thực hiện có thể khác nhau nhưng đều thể hiện
sự trợ giúp của Chính phủ về nhà ở cho người nghèo và người có thu nhập thấp thông
qua các chương trình công cộng. Thực tế cho thấy tại các nước có nền kinh tế thị
trường, khả năng của hệ thống thị trường tư nhân trong việc cung cấp nhà ở cho người
thu nhập thấp là hạn chế. Do đó, không thể thiếu vai trò của Chính phủ với vai trò nhà
đầu tư công trong việc cung cấp nhà ở cho người thu nhập thấp cũng như việc tạo
điều kiện nhằm thu hút các nhà đầu tư tư nhân vào các dự án phát triển nhà ở giá rẻ.
Đối với nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng, nhà
nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp, quản lý và điều hòa phúc lợi. Vai
trò của Chính phủ đối với thị trường bất động sản được thể hiện trên các mặt chủ yếu
sau:
Luận văn thạc sĩ

Trang 12/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

 Tạo lập môi trường pháp lý cho thị trường bất động sản;
 Thực hiện các công cụ vĩ mô như quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng
đất, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính, thuế... thống nhất quản lí bất
động sản theo pháp luật;
 Cung cấp cơ sở hạ tầng;
 Cung cấp dịch vụ công như tư vấn pháp luật, v.v..
1.1.3.4 Các tổ chức tài chính
Tài chính là công cụ để kích cung, kích cầu, huy động nguồn lực và đảm bảo
công bằng xã hội cũng như các mục tiêu nhân đạo của Chính sách phát triển nhà ở xã
hội.
Các tổ chức tài chính, ngân hàng tham gia vào lĩnh vực nhà ở cho người thu
nhập thấp thông qua hình thức cho vay mua nhà với lãi suất thấp, cho các nhà đầu
tư vay vốn để xây dựng hoặc trực tiếp góp vốn vào các dự án đầu tư. Các tổ chức
tài chính có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn vốn và cung ứng vốn cho
các chương trình phát triển nhà ở. Tuy nhiên, nguyên tắc kinh doanh của các ngân
hàng thương mại trong lĩnh vực nhà ở là bảo đảm lãi suất thực dương. Vì vậy, ngoài
các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại tham gia
vào chương trình phát triển nhà ở xã hội, cần có những tổ chức tài chính nhà nước
hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận phục vụ cho các chương trình nhà ở xã hội
cho đối tượng có thu nhập thấp. Quỹ phát triển nhà ở của TP.HCM chính là một tổ
chức tài chính như vậy.
1.2.

Tổng quan về hợp tác công tƣ
1.2.1. Khái niệm hợp tác công tƣ
Định nghĩa hợp tác công tư (PPP) theo Ngân hàng Thế giới (WB): PPP (Public -

Private Partnership) là một quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư để thực
hiện một dự án hoặc một dịch vụ mà thường do khu vực công đảm nhiệm.

Luận văn thạc sĩ

Trang 13/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Theo Cục Quản lý đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hợp tác công - tư là hình
thức nhà nước và khu vực tư nhân cùng thực hiện dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế- xã hội, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng phân chia rõ trách nhiệm, lợi
ích và rủi ro. Theo đó, một phần hoặc toàn bộ dự án sẽ do khu vực tư nhân thực hiện
trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, đảm bảo các lợi ích cộng đồng, đáp ứng các tiêu chuẩn
về chất lượng công trình hoặc dịch vụ do Nhà nước quy định.
Trên thế giới, PPP là một khái niệm không mới và đã được áp dụng thành công
tại nhiều quốc gia. Nhiều dự án PPP đã được hoàn thành trên toàn thế giới bao gồm:
đường bộ, đường sắt, nhà tù, bệnh viện, thế hệ phân phối điện, sân vận động và vv.
Ở Việt Nam, thời gian gần đây thuật ngữ PPP cũng được nhắc đến rất nhiều.
Theo Trung tâm Hỗ trợ đấu thầu (MPI): Hình thức PPP đã được áp dụng ở Việt Nam
dưới nhiều hình thức: Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT); Xây dựng - chuyển
giao - kinh doanh (BTO); Xây dựng - chuyển giao (BT) và đã đạt được kết quả nhất
định.
1.2.2. Lợi ích của hợp tác công tƣ
ADB (2007) xác định ba động lực cho chính phủ để thực hiện hợp tác công tư
trong phát triển hạ tầng là được huy động vốn tư nhân, tăng hiệu quả và các lĩnh vực cải
cách thông qua tài trợ về vai trò, ưu đãi và trách nhiệm. Nhiều lợi ích khi thực hiện PPP
như đã đề cập trong chính sách khu vực của Ủy ban châu Âu (EC) (2003) bao gồm:
 Tăng tốc việc cung cấp cơ sở hạ tầng
 Thực hiện nhanh hơn
 Giảm chi phí toàn bộ quá trình dự án
 Phân bổ rủi ro tốt hơn
 Chất lượng dịch vụ tốt hơn

Luận văn thạc sĩ

Trang 14/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

1.2.3. Cấu trúc của hợp tác công tƣ
Mục tiêu tổng thể của hợp tác công tư là cơ cấu các mối quan hệ giữa các bên,
do đó rủi ro được chịu bởi bên mà có thể kiểm soát chúng và giá trị gia tăng là đạt được
thông qua việc khai thác các kỹ năng và năng lực khu vực tư nhân (EC, 2003). Nhiều
cấu trúc hợp tác công tư chuyển từ tối thiểu đến tối đa việc tham gia của khu vực tư
nhân như trình bày trong hình 1.1.

Luận văn thạc sĩ

Trang 15/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Trách nhiệm Chính phủ

Trách nhiệm cá nhân

Thiết kế-Thi công
Thiết kế-Đấu thầu-Thi công

Chìa khóa trao tay

Mua sắm khu vực công
truyền thống

Tổ chức tài
chính/ Tổ chức
hoạt động/ Chủ
sở hữu công

·
·
·
·
·

Thi công-Vận hànhChuyển giao (BOT)

EU
Chính quyền quốc gia
Chính quyền địa phương
Nợ IFI
Nợ thương mại

Tài sản tư bản

Nhượng quyền BOT
Thi công-Sở hữu-Vận
hành-Chuyển giao
Thiết kế-Thi công-Tài
chính-Vận hành
(DBFO)

· EU

Tổ chức tài · Chính quyền quốc gia
chính/ Chủ sở · Chính quyền địa phương
· Nợ IFI
hữu công

Chủ sở hữu
công

· Nợ thương mại

Sự từ bỏ
Thi công-Sở hữu-Vận
hành (BOO)

· EU
· Chính quyền quốc gia
· Chính quyền địa phương

· Nợ IFI
Nhượng quyền
· Nợ thương mại
tư nhân
· Chất lượng tư nhân

Vận hành
Nhà thầu
Kỹ sư tư vấn

Nhượng quyền
bảo dưỡng

Thiết kế-Thi công-Vận
hành-Chuyển giao

Nhà thầu
Kỹ sư tư vấn

· EU

Chủ sở hữu
· Chính quyền quốc gia

· Nợ IFI

Nhà thầu

· Nợ thương mại

Vận hành

Vận hành
Nhà thầu

Vận hành

Kỹ sư tư vấn

Kỹ sư tư vấn

Khu vực công
Khu vực Tư nhân

Hình 1.1 Cấu trúc hợp tác công tƣ.
Nguồn: Ủy ban châu Âu (2003)
Luận văn thạc sĩ

Trang 16/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2008) phân loại các loại hợp đồng khác
nhau của PPP bao gồm: hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng cho thuê, xây
dựng-vận hành-chuyển giao (BOT) và các sắp xếp tương tự, nhượng quyền và liên
doanh. Tùy vào mỗi PPP mà mức độ trách nhiệm và rủi ro của các nhà tư nhân thay đổi
cùng với sự khác biệt trong cấu trúc và hình thức hợp đồng.
1.2.4. Yếu tố thành công cho dự án có mô hình hợp tác công tƣ
Từ cuộc điều tra của 500 câu hỏi được phân phối tại Anh, Li et al. (2005) khám
phá 18 yếu tố thành công chính cho dự án PPP. 18 yếu tố được chia thành 5 nhóm, cụ
thể là hiệu quả đạt được, khả năng thực hiện dự án, chính phủ bảo lãnh, điều kiện kinh
tế thuận lợi và thị trường tài chính có sẵn như là các Bảng 1.1 dưới đây.
Bảng 1.1 Các yếu tố thành công của dự án PPP
Yếu tố

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Hiệu quả đạt được

Khả năng thực hiện dự án

12
13
14

Chính phủ bảo lãnh

15
16
Điều kiện kinh tế thuận lợi
17
18 Thị trường tài chính sẵn có
Nguồn: Li et al (2005)

Luận văn thạc sĩ

Tổng hợp các yếu tố
Quá trình đạt được minh bạch
Quá trình đạt được cạnh tranh
Quản trị tốt
Cơ quan tổ chức tốt và cam kết công khai
Hỗ trợ xã hội
Chia sẽ thẩm quyền giữa khu vực công và tư
Đánh giá chi phí kỹ lưỡng và thực tế
Đánh giá lợi ích kỹ lưỡng và thực tế
Kỹ thuật dự án khả thi
Chia sẽ và phân bổ rủi ro thích hợp
Cam kết/ trách nhiệm của khu vực công/tư
nhân
Công ty tư nhân mạnh và tốt
Khung pháp lý thuận lợi
Chính phủ tham gia bằng cách cung cấp bảo
lãnh
Mục tiêu đa lợi nhuận
Điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định
Chính sách kinh tế . . .
Thị trường tài chính sẵn có

Trang 17/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

Một nghiên cứu của Zhang (2005a) phát hiện ra 5 nhân tố thành công quan
trọng và 47 nhân tố phụ xem xét các yếu tố từ lý thuyết, kinh nghiệm của các dự án PPP
thành công ở các nước khác nhau, cuộc phỏng vấn với các chuyên gia trên toàn thế giới
và các học viên. Danh sách các yếu tố thành công chính và phụ của dự án - những yếu
tố được trình bày trong Bảng 1.2.
Bảng 1.2 Yếu tố thành công quan trọng trong PPP trong phát triển hạ tầng
Yếu tố thành công
Nhân tố thành công
quan trọng
(1) Hệ thống chính trị ổn định;
(2) Hệ thống kinh tế thuận lợi;
(3) Thị trường tài chính địa phương đầy đủ
(4) Dự đoán được nguy cơ trao đổi tiền tệ
(5) Khuôn khổ luật pháp hợp lý và dự đoán được
Môi trường đầu tư
thuận lợi

(6) Hỗ trợ của chính phủ
(7) Hỗ trợ và sự hiểu biết của cộng đồng
(8) Dự án thì có lợi ích chung
(9) Dự đoán được kịch bản rủi ro
(10) Dự án thì rất thích hợp cho tư nhân
(11) Hứa hẹn lợi ích kinh tế
(1) Dự án cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm cho nhu cầu lâu dài
(2) Hạn chế cạnh tranh từ những dự án khác

Tính khả thi về kinh (3) Dự án có đủ thuận lợi hấp dẫn nhà đầu tư
tế
(4) Dòng tiền dài hạn hấp dẫn bên cho vay
(5) Sự sẵn có lâu dài của các nhà cung cấp cần thiết cho hoạt
động bình thường của dự án.
(1) Vai trò hàng đầu của một doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp
Nhượng quyền
đáng tin cậy với các trọng điểm.
tập đoàn mạnh về
(2) Cấu trúc tổ chức dự án hiệu quả
kỹ thuật
(3) Nhóm dự án có khả năng và mạnh
Luận văn thạc sĩ

Trang 18/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

(4) Quan hệ tốt với các cơ quan chính quyền sở tại
(5) Kỹ năng quan hệ đối tác
(6) Nhiều kinh nghiệm trong quản lý dự án PPP quốc tế.
(7) Tham gia đa ngành
Nhượng quyền
đáng tin cậy với các (8) Gi ải pháp kỹ thuật có tiếng
tập đoàn mạnh về
kỹ thuật (tiếp theo) (9) Giải pháp kỹ thuật đổi mới
(10) Giải pháp kỹ thuật hiệu quả chi phí
(11) Tác động môi trường thấp
(12) Xem xét sức khỏe và an toàn cộng đồng
(1) Phân tích tài chính có tiếng
(2) Lịch trình rút vốn, thanh toán đầu tư.
(3) Tiền tệ của các khoản vay và vốn chủ sở hữu bằng tiền ổn
định
(4) Tỷ suất vốn chủ sở hữu/Nợ cao
Gói tài chính có
tiếng

(5) Nguồn và cấu trúc của các khoản nợ lớn
(6) Chi phí tài chính thấp
(7) Lãi suất tài chính thấp và ổn định

Phân bổ rủi ro hợp
lý thông qua thỏa
thuận các hợp đồng
đáng tin cậy

(8) Vay nợ dài hạn giảm thiểu nguy cơ tái tài trợ
(9) Có khả năng đối phó với biến động về lãi suất và tỷ giá hối
đoái.
(10) Mức thuế quan thích hợp và công thức điều chỉnh phù
hợp.
Phân bổ rủi ro hợp lý và đáng tin cậy vào trong:
(1) Hợp đồng giảm giá
(2) Hợp đồng cổ đông
(3) Hợp đồng xây dựng và thiết kế
(4) Hợp đồng vay
(5) Hợp đồng bảo hiểm
(6) Hợp đồng cung cấp
(7) Hợp đồng hoạt động
(8) Hợp đồng rút vốn
(9) Thư bảo lãnh/ hỗ trợ/..

Nguồn: Zhang (2005a)

Luận văn thạc sĩ

Trang 19/98

GVHD: GS. TS. Dương Thị Bình Minh

Học viên: Nguyễn Thị Thu Nguyệt

1.2.5. Các rào cản trong hợp tác công tƣ đối với phát triển cơ sở hạ tầng
Mahalingam (2009) điều tra PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ và tìm
ra ba bộ các rào cản bao gồm cả hàng rào ở cấp độ của môi trường thể chế, ở cấp độ của
tổ chức và ở mức độ dự án.
Hàng rào ở cấp độ của môi trường thể chế PPP - rào chắn với một số dự án do
thiếu pháp luật cho PPP. Thiếu khung pháp lý cho PPP, công ty tư nhân phải đối mặt
với mối đe dọa tước quyền sở hữu và miễn cưỡng đấu thầu cho dự án đó. Các rào cản
thể chế làm gia tăng trong chi phí giao dịch để lên kế hoạch, phê duyệt và điều hành các
dự án PPP.
Bảng 1.3 Rào cản trong phát triển cơ sở hạ tầng với dự án hợp tác công tƣ
Các rào cản chính

STT
1

Rào cản về luật pháp, chính trị và xã hội

2

Điều kiện kinh tế và thương mại không thuận lợi

3

Khuôn khổ mua sắm công không hiệu quả

4

Thiếu kỹ thuật phân tích tài chính quan trọng

5

Những vấn đề liên quan đến khu vực công

6

Những vấn đề liên quan đến khu vực tư

Nguồn: Zhang (2005b)
Hàng rào ở cấp độ của tổ chức - Các rào cản ở cấp độ này bao gồm bên khu vực
công thiếu kiến thức trong cơ cấu tài chính và pháp lý về dự án PPP, các bên tư nhân
không có khả năng để thực hiện và quản lý dự án, thiếu sự hỗ trợ từ bộ máy chính trị,
và thiếu niềm tin giữa bên công và tư nhân.
Rào cản ở cấp các dự án, thiếu tính khả thi kinh tế của một số PPPs dẫn đến sự
tham gia của các bên tư nhân không quan tâm. Áp lực từ các nhà hoạt động xã hội phản
đối tái định cư thiếu công bằng, suy thoái môi trường và như vậy cũng dẫn đến khó
khăn trong việc thực hiện các dự án PPP. Trong trường hợp khác, người tiêu dùng dự
kiến của các dự án có thể chống lại sự tăng thuế quan mà kết quả thông qua tư nhân
hoá.

Luận văn thạc sĩ

Trang 20/98