Tải bản đầy đủ
5 Giả thuyết nghiên cứu

5 Giả thuyết nghiên cứu

Tải bản đầy đủ

21

chủ các công nghệ tiên tiến, kĩ thuật hiện đại (Hội vật liệu xây dựng Việt Nam,
2013). Do đó, việc thấu hiểu các yếu tố động viên người lao động sẽ giúp họ thu hút
và phát huy tối đa năng suất của người lao động (Hội vật liệu xây dựng Việt Nam,
2013). Giả thuyết được đặt ra là :
H1+ : Trách nhiệm xã hội đối với người lao động có tác động dương đến
động lực làm việc của họ.
Người ta luôn muốn làm việc cho những công ty có chính sách phù hợp với
đạo đức và luân lý (Aguilera và cộng sự, 2007). Trách nhiệm xã hội đối với đối tác
kinh doanh, khách hàng và cộng đồng được nhiều nghiên cứu đưa ra và chứng minh
là có thể đem lại cảm giác thoả mãn về việc hành xử có đạo đức cũng như nâng cao
động lực làm việc của người lao động (Aguilera và cộng sự, 2007; Skudiene và
Auruskeviciene, 2010; Lakshan và Mahindadasa, 2011).
Doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội với khách hàng là khi họ không chỉ đáp
ứng được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà còn đáp ứng các yêu
cầu của khách hàng về việc sẵn sàng chia sẻ lời phàn nàn, đề nghị và đóng góp từ
khách hàng (Skudiene và Auruskeviciene, 2010). Doanh nghiệp có trách nhiệm xã
hội với cộng đồng là khi họ biết chia sẻ với cộng đồng xung quanh, nơi họ đang làm
ăn kinh doanh, khai thác và thu lợi nhuận, thông qua các hoạt động tài trợ, cứu trợ,
từ thiện, tình nguyện … Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội với đối tác kinh
doanh sẽ là một đối tác tốt và có thể phát triển mối quan hệ làm ăn công bằng với
các đối tác kinh doanh khác như nhà cung cấp và các đại lý của doanh nghiệp
(Skudiene và Auruskeviciene, 2010).
Cũng như những doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp trong ngành vật liệu
xây dựng tại TP.HCM cũng cần phải có trách nhiệm với khách hàng của họ cũng
như xây dựng một mối quan hệ làm ăn công bằng và có đạo đức với đối tác kinh
doanh. Ngoài ra, vì những ảnh hưởng mà họ gây ra cho môi trường xung quanh, họ
cũng phải có trách nhiệm chia sẻ với cộng đồng những thiệt hại trong cuộc sống của
người dân. Như vậy các giả thuyết tiếp theo được đặt ra :

22

H2+ : Trách nhiệm xã hội đối với khách hàng có tác động dương đến đông lực
làm việc của người lao động.
H3+ : Trách nhiệm xã hội đối với đối tác kinh doanh có tác động dương đến
động lực làm việc của người lao động.
H4+ : Trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng có tác động dương đến động lực
làm việc của người lao động.
Ngành vật liệu xây dựng là một trong những ngành có tác động trực tiếp đến
môi trường xung quanh và có xu hướng gây ô nhiễm cao (Uwalomwa và Uadiale,
2011). Vì nó sử dụng rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các tài nguyên
không thể tái tạo được như: đất, khoáng sản, cát, đá, sỏi và tài nguyên có thể tái tạo
được như: thực vật (khai thác gỗ của rừng), tài nguyên nước và tiêu thụ năng lượng
điện rất lớn (Môi trường ngành xây dựng, 2009).
Theo các định luật bảo toàn vật chất và bảo toàn năng lượng thì ngành nào sử
dụng nhiều nguyên vật liệu, tiêu thụ nhiều năng lượng thì sẽ thải ra nhiều chất thải
gây ô nhiễm môi trường và do đó trách nhiệm và vai trò của ngành đó trong sự
nghiệp bảo vệ môi trường quốc gia càng lớn. Sản xuất vật liệu như sản xuất xi
măng, đá xây dựng, gạch ngói nung, gốm sứ xây dựng… là một trong các hoạt động
sản xuất công nghiệp thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường không khí nhiều nhất,
như là bụi lơ lửng, bụi PM10, các khí độc hại SO2, NOx, CO. Đồng thời cũng thải
ra một lượng nước thải và chất thải rắn đáng kể (Thông tin vật liệu xây dựng, 2013).
Nhiều số liệu thực tế đã chứng minh khí thải của các lò gạch thủ công, lò
gạch kiểu đứng, kiểu hop-man làm thiệt hại mùa màng và sức khoẻ cộng đồng xung
quanh (Thông tin vật liệu xây dựng, 2013). Do đó, việc cam kết bảo vệ môi trường
và hệ sinh thái là một trong những thành phần quan trọng của trách nhiệm xã hội
(Albdour và cộng sự, 2010), nhất là trong ngành vật liệu xây dựng.
Nghiên cứu của Lakshan và Mahindadasa (2011) đã đưa ra yếu tố trách
nhiệm xã hội với môi trường và hệ sinh thái và đã chứng minh có sự tương quan

23

dương giữa yếu tố này và động lực làm việc của nhân viên. Như vậy giả thuyết
được đặt ra là :
H5+ : Trách nhiệm xã hội đối với môi trường và hệ sinh thái có tác động
dương đến động lực làm việc của người lao động.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả đã trình bày các khái niệm về trách nhiệm xã hội và
động lực làm việc của người lao động và chứng minh mối quan hệ giữa 2 khái niệm
này bằng các nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước. Yếu tố trách nhiệm xã
hội được chia thành nhiều khía cạnh bao gồm: trách nhiệm xã hội với bên trong tổ
chức (cũng tức là trách nhiệm xã hội với người lao động), trách nhiệm xã hội với
bên ngoài tổ chức gồm có trách nhiệm xã hội với khách hàng, đối tác kinh doanh,
cộng đồng và với môi trường và hệ sinh thái. Theo các nghiên cứu có liên quan thì
tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng dương giúp tăng động lực làm việc của nhân
viên. Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát sự hạn chế trong việc thực hiện trách
nhiệm xã hội và nghiên cứu về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam. Dựa vào những vấn
đề trên cùng với phần tổng quan về ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam, tác giả đã
đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho đề tài này. Trong đó, có 5 biến độc
lập là CSR với người lao động, CSR với khách hàng, CSR với đối tác kinh doanh,
CSR với cộng đồng và CSR với môi trường và hệ sinh thái cùng tác động lên 1 biến
phụ thuộc là động lực làm việc của người lao động.

24

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã trình bày và giới thiệu về các khái niệm và mô hình nghiên cứu.
Chương này sẽ giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây dựng,
hiệu chỉnh, đánh giá thang đo các khái niệm nghiên cứu và kiểm định giả thuyết đề
ra.
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được thực hiện theo 3 bước chính (thể hiện trên hình 3.1):
 Nghiên cứu sơ bộ bằng định tính: Dùng kỹ thuật thảo luận nhóm nhằm hiệu
chỉnh thang đo và từ ngữ dùng trong thang đo.
 Nghiên cứu sơ bộ bằng định lượng: thông qua dữ liệu được thu thập bằng
cách phát bảng câu hỏi đến khoảng 80 người. Dữ liệu sau đó được xử lý và
thang đo được hiệu chỉnh lần cuối trước khi phát bảng câu hỏi chính thức.
 Nghiên cứu chính thức bằng định lượng: thang đo chính thức được phát đi
rộng rãi đến các đối tượng thông qua bảng câu hỏi trên giấy và trên Google
Documents thông qua e-mail.
3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Nhằm tìm hiểu và hiệu chỉnh thang đo cũng như các khái niệm và thuật ngữ
được sử dụng, tác giả đã thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách thảo luận nhóm
với 9 người (được chia thành 2 nhóm nhỏ) là bạn bè và người thân của tác giả, bao
gồm 5 nhân viên văn phòng, 3 nhân viên phòng nghiên cứu và 1 trưởng phòng
phòng nghiên cứu, đang làm việc tại các công ty là công ty thép Posco, công ty xi
măng Hà Tiên, công ty xi măng Holcim, tập đoàn Tôn Hoa Sen và công ty gạch
men Mỹ Đức.
Các buổi thảo luận được tiến hành từ cuối tháng 7/2013 đến giữa tháng 8/2013 ở
những nơi do tác giả sắp xếp trên cơ sở thuận tiện nhất cho cả đôi bên nhằm tạo
điều kiện tối đa cho việc trao đổi thông tin lẫn nhau.

25

Cơ Sở Lý Thuyết

Mô hình nghiên cứu và thang
đo sơ bộ 1

Thang đo sơ bộ 2

NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
- Thảo luận nhóm với 9 người

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ
- Phát bảng câu hỏi sơ bộ
- 80 mẫu
- Đối tượng: Người lao động trong ngành
vật liệu xây dựng tại TP. HCM

Cronbach’s Alpha
Điều chỉnh
Thang đo chính thức

Cronbach’s Alpha
Phân tích EFA

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
CHÍNH THỨC
- Phát bảng câu hỏi chính thức
- 210 mẫu
- Đối tượng: Người lao động trong
ngành vật liệu xây dựng tại TP.
HCM

Phân tích hồi quy
Phân tích ANOVA
Kết quả & thảo luận
KẾT LUẬN

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Hình 3.1. Các bước của qui trình nghiên cứu
3.2.1 Trình tự buổi thảo luận
Buổi thảo luận đã được diễn ra theo dàn bài ở phụ lục 1. Bao gồm các bước sau :