Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CHƯƠNG 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tải bản đầy đủ

63

trường tâm lý và an toàn lao động cho người lao động, trao cho người lao động
nhiều quyền hạn hơn và có tiếng nói hơn trong tổ chức.
Tiếp theo là tác động của trách nhiệm xã hội với đối tác (β = + 0.253). Nó
thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ đạo đức của một doanh nghiệp đối với khách
hàng, nhà cung cấp và các đại lý của họ. Các doanh nghiệp cần phải trung thực và
không lừa gạt khách hàng, luôn đem đến cho khách hàng những sản phẩm và dịch
vụ chất lượng tương ứng với chi phí mà khách hàng bỏ ra. Ngoài ra, đối với các đối
tác khác trong kinh doanh, như là nhà cung cấp, thì doanh nghiệp cần phải thực hiện
mối quan hệ làm ăn công bằng để cùng nhau hướng về mục tiêu chất lượng và phát
triển bền vững.
Tác động mạnh thứ ba lên động lực làm việc của người lao động là trách
nhiệm xã hội với cộng đồng (β = + 0.191). Đây là việc một doanh nghiệp thể hiện
sự quan tâm và nghĩa vụ đối với cộng đồng xung quanh như là làm từ thiện, cứu trợ,
tài trợ cho các hoạt động cộng đồng nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp cũng như
hỗ trợ cho sự phát triển chung của cộng đồng xung quanh. Cuối cùng, có tác động
yếu nhất là trách nhiệm xã hội với môi trường và hệ sinh thái (β = + 0.141). Nó
phản ánh các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp và khắc phục
những hậu quả ô nhiễm do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây ra.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy người lao động nên được khuyến khích
tham gia nhiều hơn vào các hoạt động trách nhiệm xã hội của tổ chức. Để người lao
động cảm nhận được mình là một thành viên thật sự của tổ chức, không chỉ gắn bó
với tổ chức trong công việc mà còn ở trách nhiệm đối với xã hội.
5.2 Một số kiến nghị
Từ những kết quả phân tích trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau.
 Về trách nhiệm xã hội với người lao động
Để đảm bảo thực hiện trách nhiệm xã hội với người lao động, các doanh nghiệp
cần phải làm thoả mãn những nhu cầu và mong ước chính đáng của người lao động

64

như là áp dụng chế độ lương thưởng công bằng, cho phép người lao động tham gia
góp ý vào các quyết định chung của phòng ban và công ty, quan tâm đến môi
trường tâm lý của người lao động, cung cấp cho người lao động một môi trường
làm việc lành mạnh và an toàn, cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên và cấp trên …
Ngoài ra, kết quả giá trị trung bình của thang đo trách nhiệm xã hội với người
lao động (bảng 5.1) cho thấy giá trị trung bình của biến “Cho phép người lao động
tham gia góp ý vào các quyết sách của công ty” (bằng 3.16) là thấy nhất trong thang
đo. Điều này phản ánh rằng các doanh nghiệp vẫn chưa mạnh dạn cho phép người
lao động của họ được tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của tập thể. Tuy
nhiên, việc có nên cho phép người lao động được tham gia ra quyết định đối với các
vấn đề chung hay không luôn là một câu hỏi khó trả lời cho các nhà quản trị.
Bảng 5.1: Trung bình của thang đo trách nhiệm xã hội với người lao động
(n = 171)
Biến

Trung
bình

Nhỏ
nhất

Lớn
nhất

Độ lệch
chuẩn

NLD1

Áp dụng một hệ thống lương thưởng
công bằng

3.5965

1

5

0.93670

NLD2

Quan tâm đến môi trường tâm lý của
người lao động tại công ty

3.6140

1

5

0.98377

NLD3

Khuyến khích trao đổi thông tin cởi
mở và trung thực với người lao động

3.7193

1

5

0.99566

NLD4

Cho phép người lao động tham gia
góp ý vào các quyết sách của công ty

3.1637

1

5

1.16673

3.5234

1.25

5

0.86613

Trách nhiệm xã hội với người lao động
(NLDong)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả từ 8/2013 đến 9/2013)
Theo hai nhà nghiên cứu về hành vi lãnh đạo R. Tannenbaum và W.Schmidt thì
nhà lãnh đạo có thể lựa chọn 1 trong 7 hành vi lãnh đạo khả thi giữa hai thái cực
dân chủ (nhân viên được tham gia ra quyết định trong phạm vi cho phép) và độc

65

đoán (chỉ có nhà lãnh đạo được ra quyết định và cấp dưới phải hoàn toàn tuân thủ)
(Nguyễn Hữu Lam, 2007). Việc lựa chọn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
Những áp lực từ người lãnh đạo: bao gồm hệ thống giá trị, đặc tính cá nhân,
năng lực và kinh nghiệm của người lãnh đạo (Nguyễn Hữu Lam, 2007).
Những áp lực từ người dưới quyền : bao gồm mức độ nhu cầu muốn độc lập của
người dưới quyền, sự sẵn lòng nhận trách nhiệm khi tham gia ra quyết định, sự
hứng thú và quan tâm của họ đối với việc giải quyết vấn đề, năng lực và kinh
nghiệm (Nguyễn Hữu Lam, 2007).
Những áp lực từ tình huống : bao gồm sức ép thời gian hay tính cấp bách của
vấn đề, những nguồn lực sẵn có cho việc giải quyết vấn đề, văn hoá tổ chức, chế độ
động viên nhân viên (Nguyễn Hữu Lam, 2007).
Như vậy, có nên cho phép người lao động được tham gia ra quyết định hay
không và mức độ cho phép như thế nào thì còn tuỳ thuộc vào những yếu tố trên.
Không phải cứ cho người lao động quyền tự do thì vấn đề chắc chắn sẽ được cải
thiện. Việc tham gia ra quyết định của số đông cũng gây ra nhiều mẫu thuẫn về
quan điểm, làm tăng sức ép lên nhà lãnh đạo cao nhất và đôi khi còn làm cho vấn đề
trở nên tệ hơn. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo có thể linh động trong mỗi tình huống và
xây dựng văn hoá tạo điều kiện tối đa cho nhân viên được tự do trong phạm vi cho
phép.
Các doanh nghiệp cũng có thể triển khai chương trình đánh giá định kỳ. Theo
đó, toàn thể người lao động sẽ được tham gia đánh giá hoạt động quản lý, chế độ và
nêu lên những gì mà họ đã hoặc chưa hài lòng về doanh nghiệp để từ đó cấp lãnh
đạo có được căn cứ để cải thiện hoạt động của mình.
Bên cạnh đó, các công ty cần xây dựng những chương trình hành động nhằm
khuyến khích người lao động trực tiếp tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã
hội của công ty. Để biến trách nhiệm xã hội thành văn hoá trong tập thể chứ không
chỉ là vai trò, trách nhiệm của một phòng ban nào đó. Việc nhân viên bị tách biệt
khỏi những hoạt động này hoặc không được khuyến khích hiệu quả để tham gia có

66

thể làm cho người lao động đánh giá sai lệch mục đích thực hiện trách nhiệm xã hội
của công ty. Đồng thời, nhân viên không có cơ hội để cảm nhận những giá trị tinh
thần mà các hoạt động từ thiện, tình nguyện và bảo vệ môi trường đem lại.
 Về trách nhiệm xã hội với đối tác
Đối tác ở đây bao gồm tất cả những bên có quan hệ ràng buộc về hợp đồng với
doanh nghiệp bao gồm: khách hàng, đại lý phân phối, nhà cung cấp nguyên liệu đầu
vào, nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ bổ sung, v.v. Đây là một khía cạnh trách
nhiệm xã hội ít được đề cập đến. Trong khía cạnh này thì việc có trách nhiệm với
khách hàng là được nhắc đến nhiều nhất.
Bảng 5.2: Trung bình của thang đo trách nhiệm xã hội với đối tác (n = 171)
Biến

Trung
bình

Nhỏ
nhất

Lớn
nhất

Độ lệch
chuẩn

KH6

Áp dụng một kênh chuyên giải quyết
các phản hồi từ khách hàng

4.0585

2

5

0.82396

KH8

Tránh lừa gạt khách hàng trong
quảng cáo và trong các kênh chiêu
thị

3.8772

1

5

0.92170

KH9

Bảo mật thông tin của khách hàng và
chỉ sử dụng trong các trường hợp
được khách hàng cho phép

4.1754

1

5

0.85659

DT10

Hợp tác lành mạnh và công bằng với
nhà cung cấp

3.9708

1

5

0.86383

DT12

Tránh các đối tác kinh doanh đang
làm ăn vi phạm pháp luật

4.1287

1

5

0.93673

DT14

Cung cấp thông tin phản hồi trung
thực nhằm giúp nhà cung cấp cải
thiện chất lượng sản phẩm và dịch
vụ

3.9181

1

5

0.81477

4.0214

1.67

5

0.67847

Trách nhiệm xã hội với đối tác (Doitac)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả từ 8/2013 đến 9/2013)
Các doanh nghiệp cần phải xem trọng khách hàng, cần trung thực đem đến cho
khách hàng những sản phẩm và dịch vụ đúng chuẩn như cam kết. Bên cạnh đó, vấn

67

đề có trách nhiệm với những đối tác kinh doanh khác như với nhà cung cấp, đại lý
… thì ít được mọi người quan tâm khi đánh giá trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp.
Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 5.2 thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội với đối
tác đang được các nhân viên đánh giá là tốt (giá trị trung bình bằng 4.02, lớn hơn
mức 4 – “đồng ý”). Ngoài ra giá trị trung bình của các biến quan sát thành phần đều
lớn, giá trị thấp nhất là 3.877 cũng xấp xỉ bằng 4.
Trách nhiệm xã hội với đối tác có tác động mạnh thứ 2 lên động lực làm việc
của người lao động và cũng là yêu cầu bắt buộc mà các doanh nghiệp phải đáp ứng
nếu họ muốn phát triển bền vững và vươn ra tầm quốc tế. Do đó, các doanh nghiệp
không được chủ quan và phải tiếp tục cải thiện khía cạnh này hơn nữa, bằng cách
xây dựng một kênh giải quyết các phản hồi từ khác hàng một cách chuyên nghiệp
hơn, hiệu quả hơn và tiết kiệm thời gian của khách hàng hơn; trung thực với khách
hàng và các đối tác khác vì mục tiêu hàng đầu là chất lượng chứ không phải lợi
nhuận.
Trong tình hình cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các tiểu xảo nhằm tìm kiếm
lợi nhuận không còn phát huy tác dụng nữa. Khách hàng và các đối tác khác cho dù
ở trong hay ngoài nước đều có cách để tìm hiểu về doanh nghiệp nên chỉ có kinh
doanh có đạo đức và vì mục tiêu chất lượng mới giúp sinh ra lợi nhuận lâu dài.
 Về trách nhiệm xã hội với cộng đồng:
Trách nhiệm xã hội với cộng đồng chủ yếu bao gồm các hoạt động từ thiện, tài
trợ cho các dự án tại địa phương, xây dựng và sửa chữa trường học, bệnh viện…Nói
chung là những hoạt động giúp địa phương phát triển hơn. Doanh nghiệp càng phát
triển thì địa phương mà doanh nghiệp đang kinh doanh, sản xuất và thu lợi từ nó
cũng phải được cải thiện ít nhiều.
Các hoạt động tài trợ cho thể thao, văn hoá, từ thiện, hỗ trợ người nghèo và
tham gia vào các tổ chức của cộng đồng được đánh giá ở mức trung bình gần bằng
mức 4 – “Đồng ý” (xem bảng 5.3)

68

Tuy nhiên, biến “Đầu tư cho sự phát triển của địa phương bằng cách xây dựng
và sửa chữa đường sá, trường học và bệnh viện” có trị trung bình thấp nhất (bằng
3.5). Như vậy, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vì cộng đồng khác, để
cải thiện trách nhiệm xã hội với cộng đồng, đầu tiên các doanh nghiệp cần phải tập
trung nhiều hơn vào việc xây dựng và sửa chữa đường sá, trường học và bệnh viện
ở địa phương.
Bảng 5.3: Giá trị trung bình của thang đo CSR với cộng đồng (n = 171)
Trung
bình

Nhỏ
nhất

Lớn
nhất

Độ lệch
chuẩn

CD15

Tài trợ cho các hoạt động hoặc dự
án liên quan đến thể thao, văn hoá
hoặc các hoạt động cộng đồng khác
tại địa phương

3.9181

1

5

1.00251

CD16

Thực hiện các chương trình vì cộng
đồng như xây dựng nhà tình
thương, tình nghĩa, các hoạt động
từ thiện vì người nghèo, trẻ em mồ
côi …

3.8830

1

5

1.09453

CD17

Đầu tư cho sự phát triển của địa
phương bằng cách xây dựng và sửa
chữa đường sá, trường học và bệnh
viện

3.5029

1

5

1.05927

CD18

Tham gia vào các hiệp hội và các tổ
chức của cộng đồng

3.8596

1

5

0.95988

3.7909

1

5

0.88853

Biến

Trách nhiệm xã hội với cộng đồng
(Congdong)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả từ 8/2013 đến 9/2013)
Hoạt động này gây tốn kém rất nhiều chi phí và thời gian cho doanh nghiệp
nên có thể vì vậy mà các doanh nghiệp ít thực hiện hơn so với các hoạt động cộng
đồng còn lại. Để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp trong ngành vật liệu xây
dựng và ngành xây dựng có thể liên kết lại với nhau để cùng thực hiện một dự án.

69

Như vậy có thể tiết kiệm được nhiều chi phí và thời gian hơn so với việc thực hiện
riêng lẽ. Hoặc các doanh nghiệp có thể tài trợ vật tư xây dựng cho các công trình
công cộng do nhà nước thực hiện.
 Về trách nhiệm xã hội với môi trường và hệ sinh thái
Đây là khía cạnh hầu như luôn được đề cập đến khi nhắc đến trách nhiệm xã
hội. Kết quả tính giá trị trung bình của thang đo trách nhiệm xã hội với môi trường
và hệ sinh thái ở bảng 5.4 cho thấy nhìn chung hoạt động này đang được các nhân
viên đáng giá tương đối hài lòng (trung bình bằng 3.8, xấp xỉ mức 4 – “Đồng ý”).
Trong đó, biến “Đầu tư nghiên cứu những loại vật liệu xây dựng mới hoặc công
nghệ sản xuất mới thân thiện với môi trường” là có trị trung bình thấp nhất trong
thang đo. Vì vậy, các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng cần phải đầu tư nhiều
hơn cho khía cạnh này.
Bảng 5.4: Giá trị trung bình của thang đo trách nhiệm xã hội với môi trường
và hệ sinh thái (n = 171)
Biến

Trung
bình

Nhỏ
nhất

Lớn
nhất

Độ lệch
chuẩn

MT19

Áp dụng một quy trình để xử lý chất
thải

3.9123

1

5

0.90646

MT20

Ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu
có thể tái chế hoặc thân thiện với
môi trường

3.7310

1

5

0.92554

MT21

Huấn luyện người lao động về việc
bảo vệ môi trường

4.0175

2

5

0.93603

MT23

Đầu tư nghiên cứu những loại vật
liệu xây dựng mới hoặc công nghệ
sản xuất mới thân thiện với môi
trường

3.5906

1

5

1.01560

Trách nhiệm xã hội với môi trường và hệ
sinh thái (Moitruong)

3.8129

1.5

5

0.77369

(N guồn: Kết quả điều tra của tác giả từ 8/2013 đến 9/2013)

70

Để sản xuất vật liệu xây dựng đòi hỏi phải khai thác tài nguyên thiên nhiên ở
khu vực đó đồng thời thải ra môi trường những chất thải độc hại. Do đó, kỹ thuật
khai thác, sản xuất và xử lý, tái chế chất thải của một doanh nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng có ảnh hưởng đáng kể đến môi trường xung quanh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong ngành vật liệu xây dựng cũng cần thường
xuyên thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường khác như là xử lý chất thải, lựa
chọn nguyên liệu thân thiện môi trường và huấn luyện người lao động để có thể duy
trì và bảo vệ môi trường xung quanh.
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu đem lại một số đóng góp nhất định với hi vọng nó sẽ phần nào
cải thiện tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu
này cũng có một số hạn chế.
Thứ nhất là do giới hạn về thời gian và chi phí nên nghiên cứu chỉ thực hiện
ở TP. Hồ Chí Minh. Mặc dù TP.Hồ Chí Minh là thành phố lớn và tập trung nhiều
công ty vật liệu xây dựng trong cả nước. Nhưng phần lớn đó chỉ là văn phòng kinh
doanh của những công ty này, còn nhà máy sản xuất thì được đặt ở các tỉnh khác
gần với nguồn nguyên liệu hơn. Do đó, không thể lấy ý kiến của những công nhân
trực tiếp tham gia sản xuất. Kết quả nghiên cứu này cũng không thể khái quát lên
phạm vi đất nước Việt Nam được. Đây là một hướng cho nghiên cứu tiếp theo.
Thứ hai, phương pháp thu thập dữ liệu là phương pháp thuận tiện phi xác
suất nên số lượng mẫu nhỏ và phân bố không đồng đều giữa các nhóm. Kết quả
nghiên cứu cho thấy hai biến độc lập CSR với khách hàng và CSR với đối tác kinh
doanh bị gộp lại thành một biến duy nhất là CSR với đối tác. Tuy nhiên, ở các
nghiên cứu có liên quan thì 2 biến này tách biệt nhau. Điều này có thể do thị trường
Việt Nam khác với các thị trường khác hoặc có thể do phương pháp lấy mẫu trong
nghiên cứu này còn hạn chế. Các nghiên cứu tiếp theo có thể chọn cách lấy mẫu
theo xác suất hoặc lấy mẫu theo tỷ lệ để có kết quả sâu sắc hơn.

71

Cuối cùng, mặc dù trách nhiệm xã hội đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều
cái lợi, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều hạn chế khi thực hiện không đúng cách.
Theo Stawiski và cộng sự (2010) thì trách nhiệm xã hội có ý nghĩa quan trọng đối
với một số nhân viên, nhưng một số khác thì không cảm thấy trách nhiệm xã hội là
yêu cầu mà một doanh nghiệp cần phải đáp ứng. Đồng thời, trách nhiệm xã hội chỉ
phát huy tác dụng khi nhân viên đã có niềm tin vào doanh nghiệp cũng như khi họ
có sự quan tâm đến cộng đồng và môi trường sống. Vì vậy trách nhiệm xã hội
không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng của nó, thậm chí còn có ảnh hưởng tiêu
cực đến công ty nếu không thực hiện đúng cách (Stawiski và cộng sự, 2010). Vì
vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào nghiên cứu những mặt trái của
việc thực hiện trách nhiệm xã hội không đúng cách để có cái nhìn đúng đắn hơn về
trách nhiệm xã hội, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tế.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Ở chương 5 này tác giả đã trình bày kết luận và tóm tắt kết quả nghiên cứu,
cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp tại Việt Nam có cái
nhìn cụ thể hơn về trách nhiệm xã hội và những vấn đề cần phải khắc phục để nâng
cao tác dụng của trách nhiệm xã hội trong việc tạo động lực làm việc cho người lao
động.
Ngoài ra tác giả còn trình bày một số hạn chế của đề tài này để từ đó đề xuất
hướng nghiên cứu tiếp theo.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Danh mục tài liệu tiếng Việt
1. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005. Phân tích dữ liệu nghiên
cứu với SPSS. TP.HCM: Nhà xuất bản Thống kê.
2. Mai Anh, 2011. Ảnh hưởng của động lực làm việc lên hiệu quả lao động tại các
công ty có vốn nhà nước ở Việt Nam. Kỷ yếu ngày nhân sự Việt Nam. Khoa
quốc tế – Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh.
TP.HCM: Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội.
4. Nguyễn Hữu Lam, 2007. Nghệ thuật lãnh đạo. TP.HCM: Nhà xuất bản Hồng
Đức
5. Nguyễn Ngọc Thắng, 2010. Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Kinh tế và kinh doanh, số 26,
trang 232 – 238.
6. Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007. Giáo trình quản trị nhân lực.
Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
7. Trương Thị Bích Chi, 2011. Giải Pháp Tạo Động Lực Làm Việc Cho Nhân Viên
Tại Công Ty Môi Trường Đô Thị thành Phố Đà Nẵng. Luận văn thạc sĩ quản
trị kinh doanh. Đại học Đà Nẵng.
Danh mục tài liệu tiếng Anh
7. Aguilera, R.V., Rupp, D.E., Williams, C.A. and Ganapathi, J., 2007. Putting the
S back in corporate social responsibility: a multi-level theory of social
change in organizations. Academy of Management Review, Vol. 32 No. 3, pp.
836-63.
8. Albdour, A. Ali., Ellisha Nasruddin., and Soh Keng Lin, 2010. The Relationship
between Internal Corporate Social Responsibility and Organizational