Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

CHƯƠNG II. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

Tải bản đầy đủ

Theo GOST 15467, “Quản lý chất lượng sản phẩm là xây dựng, đảm bảo
và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông
và tiêu dùng. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ
thống, cũng như những tác động hướng tới đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh
hưởng tới chất lượng sản phẩm”.
Ngay từ trước cách mạng công nghiệp những người thợ thủ công vừa làm
việc với tư cách là người sản xuất vừa là người quản lý chất lượng của sản phẩm
trên cơ sở tiêu chuẩn về chất lượng do họ tự đặt ra bằng khả năng và tài nghệ
của họ.
Vào năm 1990, Frederic W.Taylor thường được gọi là “cha đẻ của quản trị
khoa học” đã phân chia quá trình sản xuất thành 2 công đoạn: hoạch định và
thực thi. Nhà quản trị và các kỹ sư thực hiện chứng năng hoạch định kế hoạch còn công nhân và nhân viên thực hiện chức năng thực thi kế hoạch đó. Bằng
cách chia công việc thành những công đoạn chuyên biệt, công đoạn theo dõi
chất lượng sản phẩm được giao cho các nhân viên kiểm soát. Và đó là lý do
thành lập bộ phận “kiểm soát chất lượng” thực hiện chức năng kiểm soát chất
lượng. Và vì vậy, nội dung chính của quản lý chất lượng thời kỳ này là phân loại
sản phẩm tốt, xấu, loại bỏ sản phẩm sai hỏng. Chất lượng được coi là trách
nhiệm của bộ phận kiểm soát chất lượng và không liên quan đến các bộ phận
khác, kể cả các nhà quản trị cấp cao.
Ngay trong những năm 90 của thế kỷ trước, Bell System đã đề xuất một
phương pháp quản lý chất lượng mới được gọi là “Đảm bảo chất lượng”. Đặc
trưng cơ bản của hệ thống đảm bảo chất lượng là hệ thống kiểm soát chất lượng
bằng thống kê (Statistical Quality Control) tập trung vào nhận diện và hạn chế
những nguyên nhân sai hỏng trong suốt quá trình sản xuất, đảm bảo ổn dịnh chất
lượng đầu ra của sản phẩm.
Cũng trong giai đoạn này, Dr. Joseph Juran và Dr. W. Edwards Deming
giới thiệu kỹ thuật kiểm soát chất lượng bằng thống kê cho người Nhật. Trong
những năm 1950 và 1960 cách tiếp cận thuần tuý nhờ thống kê đã được mở rộng
27

và phát triển mạnh mẽ trong giới quản lý và công nghiệp Nhật Bản, trong đó có
Ishikawa và Taguchi. Sự thành công bền vững của nhiều ngành công nghiệp
Nhật Bản trong suốt 20 năm với phong trào Kaizen (với nghĩa cải tiến liên tục)
đã tác động to lớn vào phong trào chất lượng của các nước khác Thời kỳ này
được nhiều nhà nghiên cứu xem là khởi đầu của một triết lý mới trong quản lý
chất lượng – Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) - với đặc trưng là tích hợp khái
niệm chất lượng với văn hoá của tổ chức
Hiểu biết về chất lượng rất quan trọng, nhưng biết làm thế nào để đạt
được chất lượng còn quan trọng hơn. Adwin L.Artzt viết “Chất lượng tổng thể
có nghĩa là hiểu biết chúng trong cách thức và chiều sâu mà chưa hề khai thác
chúng trước đó và sử dụng kiến thức này để chuyển những nhu cầu thành
những sản phẩm theo sáng kiến mới và cách tiếp cận kinh doanh mới”.
Có hàng loạt định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, trong đó có một
định nghĩa được nhiều người chấp nhận: “Quản lí chất lượng là quá trình thiết
kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế đảm bảo chất lượng để sản phẩm hay
dịch vụ đạt được các tiêu chuẩn xác định”, hay nói theo cách khác: “quản lý chất
lượng” bao gồm các hoạt động sau:
- Thiết lập chuẩn,
- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn,
- Xây dựng các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn.
Ba hoạt động này được tiến hành đồng thời, liên tục chính là hoạt động quản lý
chất lượng thông qua một hệ thống quản lí chất lượng.
Để thiết lập hệ thống quản lý chất lượng cần 3 điều kiện tiên quyết
- Danh mục các lĩnh vực cần quản lý (các tiêu chí, tiêu chuẩn)
- Những quy trình thực hiện các tiêu chí, tiêu chuẩn.
- Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành các bước trong quy trình thực
hiện các công việc.
28

Trên cơ sở nghiên cứu chất lượng trong cách thức quản lí ở các mức độ và
chiều sâu khác nhau các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý xác định và phân
chia thành các thứ bậc của khái niệm chất lượng hay thường gọi là các cấp độ
trong quản lý chất lượng.
2.2. Các cấp độ trong quản lý chất lượng
2.2.1. Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Trên thực tế, tư tưởng về quản lý chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng
mang tính tự phát. Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công
đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách
khắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là
có chất lượng tốt. Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng được ghi nhận vào thế kỷ
XVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệ
thống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần.
Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỷ XX, khi
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học”.
Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập
trung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viên
kiểm soát. Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người
ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”.
“Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa
học quản lý. Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm
cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó. Đây là công đoạn
xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ
hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi. Thanh tra nội bộ và thử
nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất. Hệ thống chất lượng
dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất. Các tiêu chí
chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận. Vì thế,
cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại
các sản phẩm không đạt yêu cầu.
29

Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua
các kỳ kiểm tra/thi khi kết thúc môn học, năm học hay tốt nghiệp. Mục đích của
các kỳ thi/kiểm tra này là xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng ở các
giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập
2.2.2. Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” - thực chất là
loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sản
xuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ. Thuật ngữ “đảm bảo chất
lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỷ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soát
chất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển lý
thuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượng
dịch vụ. Những người tham gia nhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge,
George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết
đặt ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kỹ thuật hữu ích
để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng.
“Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được
tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo
sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất
lượng”. (TCVN 5814)
Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra
trước và trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai
phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay
trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn
nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào. Đảm bảo chất
lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kỹ thuật một cách ổn định. Chất lượng của sản
phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ. Hệ thống đảm bảo
chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn
nào. Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền. Đảm bảo
chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong
30

các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng
có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng. Các tiêu chuẩn chất
lượng được duy trì bằng cách tuân thủ quy trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo
chất lượng. Đảm bảo chất lượng quan tâm đến Kiểm soát hệ thống chất lượng,
Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control – SQC), phân
tích nhân quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không
trùng hợp.
Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp của bên
ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chất
lượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation).
Trong giáo dục phổ thông đảm bảo chất lượng được thực hiện bởi một hệ
thống các biện pháp bao gồm: thi tuyển đầu vào (lớp 10), các hình thức kiểm
tra đánh giá thường xuyên và định kỳ trong suốt năm học.
Trong giáo dục đại học, cao đẳng các hình thức đảm bảo chất lượng diễn ra
đa dạng và phong phú hơn. Ngoài hình thức thi tuyển đầu vào khá chặt chẽ,nghiêm
túc, cạnh tranh cao, các hình thức kiểm tra đanh giá diễn ra trong suốt quá trình đào
tạo, thì các điều kiện đảm bảo chất lượng khác, như chương trình, học liệu, các
phòng. thí nghiệm, xưởng thực hành… cũng góp phần đảm bảo và nâng cao chất
lượng đào tạo

2.2.3. Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management)
Thuật ngữ “Quản lý chất lượng tổng thể” (Total Quality Management)
được A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX.
Quản lý chất lượng tổng thể đã bén rễ trên thực tế từ những năm sau chiến
tranh thế giới thứ hai, khi hai chuyên gia người Mỹ về chất lượng Dr. Joseph
Juran và Dr.W.Edwards Deming đã giới thiệu kỹ thuật kiểm soát quá trình bằng
thống kê cho người Nhật. Và kết quả là cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra
một cách vững chắc. Đến đầu thập niên 70 của thế kỉ XX “chất lượng Nhật Bản”
đã không có đối thủ nào sánh kịp.
31

Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng ở Mỹ,
dần lan rộng trên khắp thế giới. Chất lượng toàn diện được bàn đến ngày càng
nhiều trong các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học.
Quản lý chất lượng tổng thể đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng, nhưng
mở rộng và phát triển thêm. Quản lý chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất
lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, của toàn bộ nhân viên là làm hài
lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều
này. Trong quan niệm về chất lượng toàn diện, khách hàng là thượng đẳng. Điều
này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức phải hướng đến phục
vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể. Đó là cung ứng cho khách hàng những
thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ cần, thoả mãn và vượt cả
những mong đợi của họ.
Quản lý chất lượng tổng thể là tầng bậc cao nhất nếu so sánh với các cấp
độ khác trong quản lý chất lượng. Tính thứ bậc của quan hệ chất lượng trong
quản lý có thể khái quát trong sơ đồ về tầng bậc của khái niệm chất lượng
(Phỏng theo sơ đồ của Sallis E.) sau đây:
Kiểm soát chất lượng
(Quality Control)
Đảm bảo chất lượng
(Quality Assurance)
Quản lý chất lượng tổng thể
(Total Quality Management)
Loại bỏ sản phẩm không đạt chất lượng
Phòng chống không đạt chất lượng
Nâng cao liên tục chất lượng

32

Sự tiến triển theo tầng bậc của phương thức quản lý chất lượng đã cho
thấy ưu điểm nổi trội của TQM.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và
quản lý chất lượng tổng thể là rất mềm dẻo. Trong thực tế các cấp độ chất lượng
đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong một tổ chức, TQM là sự tiếp tục của đảm bảo chất
lượng theo chiều sâu, với sự hiện diện của văn hóa chất lượng, Đảm bảo chất
lượng là sự mở rộng phạm vi quản lý chất lượng tới mọi thành viên của tổ chức.
Còn ở nhiều khâu, kiểm soát chất lượng vẫn cần thiết trong hệ thống đảm bảo
chất lượng. Thông thường kiểm soát chất lượng được chuyển giao cho cấp điều
hành hay tốt hơn là do những người sản xuất trực tiếp đảm nhiệm.
2.3. Các nguyên tắc cần tuân thủ trong việc xây dựng và vận hành hệ thống
quản lý chất lượng
Các nguyên tắc quản lý chất lượng (Quality Management Principles – QMP)
là những điều mà lãnh đạo cao nhất cần tuân thủ để có thể xây dựng và vận
hành một hệ thống quản lý chất lượng dù ở bất kỳ cấp độ nào. Đó là sự tổng kết
và khái quát hoá những kinh nghiệm quản lý tiên tiến thành công trên thế giới.
Các nguyên tắc này đã được thể hiện trong các tiêu chuẩn của Bộ ISO
9000:2000.
QMP1: Hướng vào khách hàng (Customer Focus)
Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần
hiểu nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng các yêu cầu
của khách hàng và cố gắng vượt cao hơn sự mong đợi của họ.
Đối với các tổ chức kinh doanh hàng hoá và dịch vụ thì khách hàng của
họ được xác định và phân loại dễ dàng. Nhưng đối với các cơ sở giáo dục thì
khách hàng của họ là ai? Có phải là học sinh – sinh viên, phụ huynh, giảng viên,
người sử dụng lao động và xã hội v.v… Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần xác định

33

ai là khách hàng chính của mình để thiết lập các biện pháp thoã mãn nhu cầu của
họ.
Để xác định nhu cầu thì cần phải xác định được khách hàng của mình là
ai? Từ đó xác định nhu cầu và thấu hiểu tất cả các nhu cầu đó, từ đó có các biện
pháp thoả mãn nhu cầu của họ.
Ví dụ: Xác định nhu cầu của học sinh – sinh viên:
- Nhu cầu hiện tại:
1. Được ở ký túc xá của trường.
2. Thầy giáo giảng tốt.
3. Trang thiết bị phục vụ đào tạo hiện đại.
4. Phương pháp giảng dạy thu hút.
5. Kiến thức áp dụng được.
6. Cập nhật thông tin khoa học từ nhà trường (các buổi hội thảo,
báo cáo khoa học v.v…).
- Nhu cầu tương lai:
1. Công việc phù hợp với ngành đào tạo.
2. Phát triển được nghề nghiệp lên bậc cao hơn.
Tóm lại, mô hình quản lý chất lượng mới cho rằng khách hàng ngày càng
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành bại của mỗi tổ chức. Vì vậy,
một tổ chức muốn phát triển bền vững thì phải hướng tới khách hàng, nghĩa là tổ
chức phải quan hệ với khách hàng một cách liên tục, đẩy mạnh sự tham gia của
các thành viên vào thiết lập các quá trình chính yếu để lắng nghe và đáp lại các
vấn đề quan tâm của khách hàng một cách chính xác nhất và hiệu quả nhất.
QMP2: Sự lãnh đạo (Leadership)

34

Lãnh đạo cần thiết lập thống nhất giữa mục tiêu và phương pháp của
tổ chức. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để có thể hoàn toàn
lôi cuốn mọi người tham gia để đạt được mục tiêu của các tổ chức.
Hoạt động của các cơ sở giáo dục sẽ không có hiệu quả nếu không có sự
cam kết triệt để của lãnh đạo. Lãnh đạo cần phải thiết lập sứ mạng và chính sách
chất lượng, và đưa ra các mục tiêu đào tạo hay là các mục tiêu phục vụ công tác
đào tạo.
Lãnh đạo phải chỉ đạo và tham gia xây dựng các mục tiêu cho các bộ phận
giúp việc để thực hiện và hoàn thành mục tiêu chung của nhà trường và đề ra
các biện pháp huy động sự tham gia và tính sáng tạo của mọi thành viên để xây
dựng, nâng cao chất lượng đào tạo của tổ chức.
QMP3: Sự tham gia của mọi người (Involvement of People)
Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức và việc huy động
họ tham gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng được năng lực của họ vì lợi ích
của tổ chức.
Tất cả các thành viên của trường là nguồn lực quan trọng nhất, sự tham
gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất cần thiết cho công tác
đào tạo và đảm bảo chất lượng.
Thành công trong cải tiến chất lượng đào tạo, chất lượng công việc phụ
thuộc rất nhiều vào kỹ năng, sự nhiệt tình, hăng say trong công việc của mọi
người. Trường cần phải tạo điều kiện để thành viên học hỏi, nâng cao kỹ năng
sư phạm và thực hành kỹ năng mới.
QMP4: Cách tiếp cận theo quá trình (Process Approach)
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực
và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Mô hình quản lý mới đòi hỏi quản lý phải hướng vào khách hàng, từ đó tổ
chức công việc theo quá trình. Quản lý theo quá trình hướng vào khách hàng
chính là việc thiết kế ngược cho các tổ chức. Nó buộc các tổ chức phải biết được
35

những quá trình của mình là gì để xác định những đòi hỏi của khách hàng, từ đó
tập trung tổ chức xung quanh những quá trình cốt lõi nhằm đáp ứng được những
đòi hỏi đó.
Khi tổ chức quản lý theo quá trình thì đội công tác (Team Work), quá trình
sẽ thay thế cho cấu trúc phân chia thành nhiều phòng ban trước kia. Xây dựng
các đội công tác là quá trình tập những người đại diện cho tất cả các bộ phận
chuyên môn có liên quan cùng làm việc với nhau để thực hiện toàn bộ công việc
một cách hoàn chỉnh, logic, chứ không phải chỉ một phần công việc. Mỗi thành
viên của đội công tác ít nhất cũng có hiểu biết cơ bản về toàn bộ quá trình và
chắc chắn là họ có thể thực hiện thành thạo một hoặc nhiều việc trong số đó
nhằm đạt mục tiêu chung của cả tổ chức.
Rõ ràng là những lợi thế mang lại từ cơ cấu tổ chức giải quyết công việc
theo quá trình là rất lớn. Quá trình được thiết kế từ yêu cầu của công việc, thực
hiện thuận lợi hơn, làm giảm sai sót, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và thoả
mãn khách hàng cao hơn.
QMP5: Cách tiếp cận hệ thống đối với quản lý (System Approach to
Management)
Việc xác định, hiểu và quản lý các quá trình, các hậu quả của các quá
trình có liên quan lẫn nhau như một hệ thống sẽ đem lại hiệu lực và hiệu quả
của một tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Như đã trình bày, chúng ta không thể giải quyết bài toán theo từng yếu tố
tác động đến chất lượng một cách riêng lẻ, mà phải xem xét toàn bộ yếu tố tác
động đến chất lượng một cách hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố
này. Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ
nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
QMP 6: Cải tiến liên tục (Continual Improvement)
Cải tiến liên tục các kết quả thực hiện phải là mục tiêu thường trực của
tổ chức
36

Muốn có được chất lượng đào tạo đáp ứng được yêu cầu của khách hàng,
nhà trường phải đi đầu trong công tác cải tiến phương pháp đào tạo, nâng cao
chất lượng bài giảng, đổi mới trong phương pháp quản lý. Sự cải tiến có thể là
từng bước nhỏ hay nhảy vọt. Cách thức cải tiến cần phải bám chắc vào công
việc thực tế của trường.
QMP 7: Quyết định dựa trên sự kiện (Factual Approach to Decision
Making)
Mọi quyết định có hiệu lực được dựa trên việc phân tích dữ liệu và
thông tin.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý muốn có hiệu quả phải
được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin. Trong các cơ sở giáo
dục cần phân tích, sự thoả mãn của khách hàng (học sinh – sinh viên), các yêu
cầu của thị trường lao động và các yêu cầu khác của xã hội, sự thoả mãn môn
học v.v. Việc đánh giá phải bắt nguồn từ chiến lược của tổ chức, các quá trình
quan trọng, các yếu tố đầu vào và đầu ra của các quá trình.
QMP 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng (Multualy
Benificial Supplier Relationship)
Tổ chức và các nhà cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ cùng
có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
Các trường cần tạo mối quan hệ hợp tác nội bộ với bên ngoài trường để
đạt được mục tiêu chất lượng đã đề ra. Các mối quan hệ nội bộ có thể bao gồm
các mối quan hệ thúc đẩy hợp tác giữa lãnh đạo và các thành viên trong trường,
tạo lập các mối quan hệ mạng lưới giữa các bộ phận trong trường để tăng cường
sự linh hoạt, khả năng đáp ứng nhanh các yêu cầu. Các mối quan hệ bên ngoài
như: Bộ GD-ĐT, các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu v.v…
Các bên quan tâm cần chú ý những nhu cầu quan trọng, đảm bảo sự thành
công của quan hệ hợp tác, cách thức giao lưu thường xuyên, các phương pháp
đánh giá sự tiến bộ, thích ứng với điều kiện thay đổi.
37