Tải bản đầy đủ
1 Nhập số liệu trực tiếp trên SPSS

1 Nhập số liệu trực tiếp trên SPSS

Tải bản đầy đủ

Hinh 1 Giao dien SPSS
Mỗi cột trong cửa sổ Variable View có một mặc định thông dụng, nếu chúng ta không
định nghĩa lại tương ứng với biến thì SPSS sẽ sử dụng lựa chọn mặc định. Tuy nhiên khi
nhập liệu và phân tích chúng ta sẽ không thực hiện được những gì mình muốn, vì vậy hãy
xem qua tất cả các cột trong cửa sổ Variable View này, các cột được giới thiệu chi tiết
bên dưới.
1. Name
Cột đầu tiên của Sheet Variable View là Name ở cột này chúng ta đặt mã cho tên biến chỉ
cần click vào ô và đặt tên, ở ví dụ này chúng ta có 2 biến độ tuổi và trình độ học vấn,
theo bảng mã ở Bảng 2 trên trong SPSS chúng ta có 2 biến TUOI và HOCVAN. Một mô tả
dài hơn của biến được thực hiện ở cột Label, chúng ta sẽ bàn ở bên dưới cột này. Ở cột
Name chúng ta có thể gõ tên mã dài hơn để dễ hình dung nhất về biến, nhưng không quá
dài cố gắng trong khoản 8 ký tự bởi vì tên này sẽ được sử dụng trong các phân tích cũng
như biểu đồ. Tên quá dài thì đầu ra phân tích sẽ bị cắt ngắn.
Nếu chúng ta đặt tên biến quá dài hoặc sai chính tả, chúng ta có thể mở cửa sổ Variable
View để chỉnh sửa lại. Một trong những tiện ích của SPSS là chúng ta chỉnh sửa lại những
sai lầm một cách nhanh chóng.
Dưới đây là một số gợi ý hữu ích khi chúng ta đặt tên biến:
Trong SPSS chúng ta có thể sử dụng các ký tự đặt biệt để đặt tên như @, #, $,
gạch chân (_) và chữ số.
Nếu muốn sử dụng một ký tự đặt biệt nào đó trong tên của biến hỏi thì hãy chủ động đặt
thử trong SPSS


 Tên nên bắt đầu bằng một ký tự, hoa hoặc thường.
 Không thể có khoản trắng trong một tên
Nếu chúng ta cần xuất dữ liệu vào một ứng dụng khác cần phải đảm bảo rằng tên chúng
ta đang sử dụng được chấp nhận sử dụng trong ứng dụng đó. Đề phòng cho những ký tự
đặt biệt.
2. Type
Dữ liệu của chúng ta có nhiều kiểu như số, văn bản, tiền tệ, mũ… Nếu chúng ta không
xác định chính xác kiểu dữ liệu khi khai báo biến thì sau này khi nhập liệu hoặc phân tích
sẽ gặp nhiều rắc rối không đáng có.
Đưa chuột vào cột Type, mặc định của SPSS là Numeric, nút có dấu ba chấm xuất hiện
bên phải của nó. Click vào nút đó hộp thoại Variable Type như Hình 2 sẽ xuất hiện.

Hinh 2 Cua so Variable Type
Chúng ta có thể chọn các kiểu cho biến khi mã trong SPSS như sau:









Numeric: Kiểu số. Các giá trị được nhập vào và hiển thị ở dạng chữ số, có hoặc
không có dẫu ngăn cách hàng thập phân. Giá trị được định dạng theo tiêu chuẩn
khoa học, với E được gắn vào để đại diện cho số mũ. Giá trị ở ô Width là tổng số
của tất cả các ký tự trong một số, bao gồm tất cả ký tự ngăn cách hàng thập phân
cũng như chỉ số mũ. Số lượng chữ số hàng thập phân được xác định ở ô Decimal
Places, không bao gồm số mũ.
Comma: Kiểu này chỉ rõ những giá trị số với những dấu phẩy (,) được chèn vào
giữa những nhóm ba chữ số để thuận tiện phân biệt chữ số hàng chục, trăm,
nghìn…Chúng ta có thể nhập dữ liệu mà không cần chèn dấu phẩy nhưng SPSS sẽ
chèn vào khi hiển thị giá trị. Ở hàng thập phân, cho dù có hơn ba chữ số nhưng
vẫn không có dấu phẩy ngăn cách. Ví dụ 1000000,555555 = 1,000,000.555555
Dot: Giống như kiểu Comma, nhưng ở đâu dấu ngăn cách giữa những nhóm ba
chữ số là dấu chấm (.) và dấu phẩy được dùng cho chữ số hàng thập phân. Ví dụ
1000000,555555 = 1.000.000,555555
Scientific Notation: Biến số mà dùng ký tự E để hiển thị chữ số mũ. Cơ số được
viết biên trái chữ E, có hoặc không có hàng thập phân. Số mũ được viết bên phải
chữ E, có hoặc không có hàng thập phân, cho biết mười mũ bao nhiêu sau đó nhân
với cơ số. Bạn có thể nhập D hoặc E để đánh dấu số mũ nhưng SPSS luôn luôn sử
dụng E. Ví dụ số 2,014 được viết như 2.014E3, chẳng hạn số 0.0005 được việt như
5E-4
Date: Một biến có thể bao gồm năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây. Khi chúng ta
chọn Date các định dạng có sẵn xuất hiện bên trái hộp thoại như Hình 3. Chọn
định dạng phù hợp nhất với kiểu dữ liệu nhập vào. Lựa chọn của chúng ta sẽ quyết
định cách hiển thị dữ liệu trong SPSS. Định dạng này cũng xác định phạm vi và
hình thức để chúng ta nhập liệu vào. Chúng ta có thể nhập liệu sử dụng dấu gạch
ngang (-) dấu gạch chéo (/) dấu chấm (.) dấu cách hoặc ký tự khác để phân biệt
ngày tháng năm, giờ phút giây. Ví dụ, nếu chọn định dạng mà năm chỉ có 2 chữ số,
khi nhập vào SPSS sẽ chấp nhận hiển thị năm theo cách đó, tuy nhiên nó sẽ sử
dụng bốn chữ số để tính toán. Hai chữ số đầu tiên của năm nó sẽ lấy theo cấu hình
mà chúng ta phải thiết lập bằng cách vào Edit ➪Options sau đó vào thẻ Data để thực hiện

Hinh 3 Lua chon dinh dang Date
Dollar: Khi chọn Dollar các lựa chọn định dạng có sẵn xuất hiện trong danh sách
bên phải của hộp thoại. Giá trị của số liệu luôn được hiển thị với một dấu dollar ($)
đằng trước, dấu chấm ngăn cách hàng thập phân và dấu phẩy cho các giá trị lớn
ngăn cách nhóm ba chữ số với nhau. Chọn định dạng, độ rộng và số chữ số hàng
thập phân như Hình 4. Các lựa chọn định dạng là tương tự nhau, quan trọng là
chúng ta chọn một trong các định dạng đó tương thích với định nghĩa biến của
mình để thuận tiện trong việc in ấn cũng như hiển thị giá trị tiền tiện trong các
bảng đầu ra của phần mềm SPSS. Như vậy khi nhập số liệu chúng ta không cần
phải nhập ký tự dollar ($) và dấu chấm, phẩy, SPSS sẽ tự động chèn các ký tự này
vào dữ liệu
 Custom Currency: Năm định dạng tùy chỉnh cho tiền tệ được đặt tên CCA, CCB,
CCC, CCD, và CCE, như thể hiện trong Hình 5. Chúng ta có thể xem và tuỳ chỉnh
định dạng này bằng cách vào Edit➪Options sau đó chọn thẻ Currency. Chúng ta có thể sửa
định dạng tuỳ chỉnh bất kỳ khi nào mà không sợ làm thay đổi số liệu khi nhập vào SPSS. Cũng
như định dạng Dollar thiết lập width và Decimal Places để thuận tiện việc in ấn
cũng như xuất kết quả SPSS
 String: Định dạng kiểu ký tự không phải số. Bởi vì định dạng này là chuỗi ký tự
nên nó không dùng để tính toán. Kiểu định dạng này không giới hạn số ký tự nhập
vào, chúng ta sử dụng định dạng kiểu này cho biến mô tả hoặc định danh của một
trường hợp cụ thể.
 Restricted Numeric (integer with leading zeros): Giống định dạng kiểu
Numeric tuy nhiên số chữ số được hiển thị trên SPSS là bằng nhau, số chữ số hiển
thị được khai báo ở ô width. Những số liệu nhập vào mà ít hơn số ký tự được hiển
thị nhập vào thì SPSS mặc định thêm vào chữ số 0 đằng trước đến khi đủ số ký tự
như khai báo.
3. Width
Thiết lập độ rộng trong định nghĩa của biến xác định số lượng ký tự được sử dụng để hiển
thị giá trị. Nếu giá trị được hiển thị không đủ lớn để lấp đầy không gian thì SPSS sẽ mặc
định thành những khoản trắng. Nếu giá trị được hiển thị lớn hơn chúng ta chỉ định SPSS sẽ
tự động điều chỉnh hoặc xuất hiện dấu sao (*) để chung ta điều chỉnh lại cho phù hợp.


Một số định dạng kiểu biến cho phép chúng ta xác định độ rộng cho biến. Độ rộng của
biến mà chúng ta khai báo ở đây cũng giống như khai báo lúc định dạng kiểu biến. Nếu
chúng ta thay đổi thông số này ở đây thì tự động SPSS sẽ cập nhật giá trị độ rộng trong
hộp thoại định dạng kiểu biến. Giá trị này ở hai chỗ là như nhau
Lúc này chúng ta có thể thực hiện một trong ba điều sau:

Bỏ qua lựa chọn này và chấp nhận mặc định sẵn có của SPSS (hoặc số mà chúng
ta đã khai trước đó trong mục Type)
 Nhập một giá trị nào đó cho độ rộng của biến
 Sử dụng dấu mũi tên hướng lên hoặc xuống để lựa chọn một giá trị cho độ rộng
của biến
4. Decimals
Số chữ số thập phân là số chữ số hiển thị ở hàng thập phân trên mành hình. Giá trị chúng
ta khai báo ở đây cũng giống như khi chúng ta khai báo ở ô Decimal Places trong lúc
khai báo định dạng biến Type. Nếu chúng ta điều chỉnh thì giá trị khai báo ở đây là mặc
định cho biến và giá trị khai báo trong Type sẽ tự động thay đổi theo. Giá trị này ở hai chỗ
giống nhau
Lúc này chúng ta có thể thực hiện một trong ba điều sau:


Bỏ qua lựa chọn này và chấp nhận mặc định sẵn có của SPSS (hoặc số mà chúng
ta đã khai trước đó trong mục Type)
 Nhập một giá trị nào đó cho độ rộng của biến
 Sử dụng dấu mũi tên hướng lên hoặc xuống để lựa chọn một giá trị cho độ rộng
của biến
5. Label
Name và Label cơ bản có cùng chung mục đích dùng để mô tả biến. Khác biệt là Name là
ngắn còn Label dài hơn, mô tả chi tiết tên biến. Trong quá trình xử lý dữ liệu nhiều lúc
chúng ta cần hiển thị biến ở một tên ngắn hơn dưới dạng Name hoặc trường hợp cần hiển
thị tên biến với mô tả một cách chi tiết biến ở dạng Label.


Chúng ta có thể sử dụng bất kỳ ký tự nào cho Label. Tất nhiên phải phù hợp với tên biến
cũng như mục địch xử lý dữ liệu. Ví dụ trong Ví dụ 1 ở trên với biến trình độ học vấn thì
Name có thể là HOCVAN còn Label có thể là học vấn hoặc đơn giản là trình độ học vấn
Số lượng ký tự của Label không quy định là bao nhiêu, tuy nhiên đầu ra phân tích sẽ tốt
hơn khi chúng ta sử dụng Name ngắn và Label dài hơn. Mỗi một câu phải đơn nghĩa. Sau
khi phân tích chúng ta có thể thấy Label không phù hợp cho mục đích phân tích ví dụ
trong một biểu đồ Label hiển thị quá dài. Không vấn đề, chúng ta vào Variable View để
chỉnh sửa lại Label cho phù hợp. Lần sau xuất ra Label mới được sử dụng. Chúng ta cũng
có thể bỏ qua bước thiết lập Label này, khi đó SPSS sẽ dùng Name mà chúng ta đã khai
báo cho mọi thứ
6. Value
Cột Value là nơi mà chúng ta gán mã cho tất cả các lựa chọn của biến. Chúng ta click
chọn vào ô value lúc này xuất hiện một nút có dấu ba chấm. Nhấn vào nút này, hiển thị
hộp thoại như Hình 6

Hinh 6 Value Labels
Thông thường, bạn sẽ gán mã cho các lựa chọn của biến, ví dụ với biến giới tính thì giá trị
1 gán nhãn Nam, giá trị 2 gán nhãn Nữ hoặc với biến sở thích giá trị 1 gán nhãn không
thích, giá trị 2 gán nhãn bình thường và giá trị 3 gán nhãn thích. Nếu chúng ta đã xác
định nhãn ở đây thì khi SPSS xuất kết quả phân tích, nó sẽ hiển thị các nhãn thay vì giá trị
Để định nghĩa một nhãn cho một giá trị ta làm như sau:

1.
2.
3.

Trong hộp Value, ta nhập giá trị

4.
5.
6.

Chọn định nghĩa cần thay đổi hoặc loại bỏ

Trong hộp Label, ta nhập vào nhãn

Click nút Add
Giá trị và nhãn được khai báo trong SPSS. Để thay đổi hoặc loại bỏ một định nghĩa, chỉ
cần chọn nó và thực hiện thay đổi hoặc loại bỏ

Click nút Remove để loại bỏ định nghĩa

Trường hợp thay đổi định nghĩa thì sau bước 4, chúng ta thay đổi giá trị hoặc nhãn
mới sau đó click nút Change để thay đổi định nghĩa
7. Missing
Trong trường hợp có biến của mẫu nào đó không có giá trị khi đó dữ liệu chúng ta sẽ bị
khuyết đi một mẫu. Nghĩa là mẫu này chúng ta có giá trị cho tất cả các biến riêng có một
biến nào đó không có giá trị, chúng ta phải chỉ định một giá trị thích hợp để lấp đầy khoản
trống dữ liệu này. Click vào dấu ba chấm ở ô Missing hộp thoại Missing Values xuất hiện
như Hình 7

Hinh 7 Value Labels
Ở Ví dụ 1 chúng ta có biến hỏi về trình độ học vấn có những người được điều tra vì lý do
tế nhị nào đó đã từ chối trả lời biến hỏi này, biến này sẽ không có giá trị. Tuy nhiên, chúng
ta có thể chỉ định một giá trị để thay thế khoảng trống này, có lẽ 0 là một lựa chọn phù
hợp, giá trị thay thế sẽ không mang ý nghĩa để tính toán. Chúng ta cần khai báo Missing
để mỗi khi cần tính toán cho biến, ví dụ như tính tần số chẳng hạn thì SPSS sẽ loại giá trị
khuyết này ra khi tính phần trăm hợp lệ.
Cách gán giá trị cho các Missing value là tuỳ tình hình và sự lụa chọn của người xử lý. Ví
dụ nếu đặt Missing value cho biến độ tuổi mà ta chọn số 99 sẽ gây nhầm lẫn nếu cuộc
điều tra có thể có những người đạt 99 tuổi hoặc hơn nữa, với tình huống này ta nên đặt là
999 hay 888. Trong SPSS chúng ta có thể chỉ định tối đa ba giá trị cụ thể (hay gọi là giá trị
rời rạc) để đại diện cho dữ liệu bị mất, hoặc cũng có thể chỉ rõ phạm vi của giá trị nằm
trong khoản nào của dãy số cộng với một giá trị riêng biệt tất cả khoản giá trị và một giá
trị riêng biệt này sẽ được gán là Missing.
Ngoài ra có một loại giá trị khuyết nữa là System Missing, đó là giá trị khuyết của hệ
thống, nó được chương trình tự động đặt dấu chấm (.) ở những vị trí không được nhập giá
trị. Giá trị System Missing này “vô hình” đối với các lệnh xử lý thống kê của phần mềm
SPSS
8. Columns
Columns là nơi khai báo độ rộng của cột biến khi ta nhập liệu. Để xác định độ rộng của
cột ta chọn vào ô và nhập số, thông thường chọn là 8
9. Align
Xác định vị trí của dữ liệu được nhập trong cột, dữ liệu được canh trái, canh phải hoặc
canh giữa của cột. Khi chúng ta bấm chọn vào ô Align, một danh sách xuất hiện và chúng
ta chọn một trong ba khả năng hiển thị. Canh trái (Left) nghĩa là số liệu nằm phía bên trái
của cột, canh phải (Right) nghĩa là số liệu nằm phía bên phải của cột, canh giữa (Center)
nghĩa là giữ liệu nằm chính giữa của cột.
10. Measure
Giá trị chúng ta chọn ở đây khai báo thang đo đo thể hiện dữ liệu với ba loại chính là
Scale (gồm cả Interval và Ratio tức thang đo khoảng cách và tỉ lệ), Ordinary (thang đo thứ
bậc), Norminal (thang đo danh nghĩa). Khi bấm chọn ô Measure chúng ta chọn một trong
các lựa chọn như Hình 9

Hinh 9 Measure
Scale: thang đo định lượng nó có thể là khoản cách, trọng lượng, tuổi tác, mức độ hài
lòng… Trong SPSS thang đo Scale này bao gồm thang đo khoảng – Interval và thang đo tỉ
lệ – Ratio.
Ordinal: thang đo thứ bậc những con số trong thang đo này xác định vị trí (thứ tự) của cái
gì đó trong một danh sách chọn lựa. Ví dụ đầu tiên, thứ hai, thứ ba
Nominal: Thang đo danh nghĩa (còn gọi là thang đo định danh hoặc thang đo phân loại)
trong thang đo này các con số dùng để phân loại các đối tượng, chúng không mang ý
nghĩa nào khác. Ví dụ các phân loại giới tính, quốc tịch, dân tộc…
Bước 2: Nhập số liệu
Sau khi thực hiện xong bước 1 – khai báo tất cả các biến vào SPSS ở sheet Variable
View, chúng ta chuyển qua làm việc ở sheet Data View để tiến hành nhập liệu. Thực
hiện việc chuyển đổi sheet làm việc này bằng cách click chuột vào thẻ Data View ở dưới
cùng bên trái của màn hình SPSS. Khi đó màn hình Data View xuất hiện. Màn hình Data
View sau khi khai báo biến cho Ví dụ 1 như Hình 11, hàng ở trên cùng là những tên biến
đã mã hoá, chúng ta click vào các ô này để chuyển sang Variable View để xem định dạng
cũng như kiểu mã khi nhập liệu cho từng biến. Cuối cùng chúng ta tiến hành nhập số liệu
vào SPSS cho từng biến

Hinh 11 Data View
Sau khi chúng ta nhập được vài số liệu, phải lưu dữ liệu chúng ta vào một tập tin thực
hiện bằng cách chọn File ➪Save As chọn nơi lưu dữ liệu và bấn save. Trong suốt quá trình nhập liệu
chúng ta chỉ cần chọn File ➪Save để lưu những thao tác trước đó tránh trường hợp máy bị treo hoặc cúp
điện đột ngột.
<>

By Ngô Thông • Posted in Thực hành SPSS • Tagged Cài đặt SPSS, chạy SPSS, Dịch vụ phân tích
SPSS, Giới thiệu SPSS, hướng dẫn spss, hướng dẫn spss tại nhà, Luận văn tốt nghiệp, Mã hoá, Mã hoá số
liệu, Nghiên cứu khoa học, Nhận chạy SPSS, Nhập liệu SPSS, Phân tích dữ liệu, phân tích SPSS, Phần mềm
SPSS, tự học spss, Thực hành SPSS

22
TH7 82014

Hướng dẫn sử dụng SPSS – Mã hoá lại biến
Recoding Varibles
Mã hóa lại biến – Recoding variables là công cụ hữu ích trong SPSS để bạn biên tập
dữ liệu, khi bạn muốn thay đổi mã số cho các lựa chọn của một biến hoặc khi bạn có quá
nhiều lựa chọn của một biến và cần giảm số biểu hiện không cần thiết trong phân tích.
Mã hóa lại biến cho phép bạn thay đổi các mã số hiện hữu gán cho các giá trị biến. Không
có chuyện đúng hay sai trong việc mã hóa lại các biến. Tuy nhiên, việc mã hoá lại các
biến thường được thực hiện bởi hai lý do:
1. Để thuận tiện cho việc tính toán thống kê. Ví dụ chúng ta có biến hỏi về thu nhập của
bạn trong khoản nào? câu trả lời có 4 lựa chọn: 1. Dưới 5 triệu; 2. Từ 5 đến dưới 10 triệu;
3. Từ 10 đến dưới 15 triệu; 4. Từ 15 triệu trở lên. Một yêu cầu phân tích với đối tượng trả
lời có thu nhập 10 triệu trở lên, khi đó bạn phải mã hoá lại biến thu nhập bằng cách gom
chung biểu hiện thứ 3 và thu nhập từ 10 đến dưới 15 triệu và biểu hiện thứ 4 là từ 15
triệu trở lên thành nhóm chung là 5. Từ 10 triệu trở lên.

2. Để kết hợp lại các lựa chọn của một biến khi số lượng các câu trả lời trong một biến
quá nhỏ để phân tích thống kê. Ví dụ bạn đang phân tích độ tuổi người trả lời, thay vì độ
tuổi người trả lời dao động từ 20 đến 60 tuổi như vậy chúng ta có 40 lựa chọn, bạn có thể
mã hoá lại biến này thành 4 nhóm tuổi như (20 – 25); (26 – 35); (36 – 45); (46 – 60). Việc
mã hoá lại biến tuổi này làm cho biến tuổi từ biến liên tục định lượng thành một biến định
tính nó sẽ hữu ích trong một số trường hợp phân tích nhất định.
Để thực sự thực hiện các recode, bấm vào “Transform” menu ở trên cùng của cửa sổ
soạn thảo dữ liệu, chọn “Recode into Different Variables”. Hầu hết việc mã hoá lại
biến đều chọn Recode into Different Variables chứ không chọn “Recode into Same
Variable” vì khi chọn Recode into Same Variable thị biến mới sinh ra đè lên biến củ làm
cho các giá trị gốc mất đi

X
uất hiện cửa sổ “Recode into Different Variables”, Bạn có thể chọn các biến từ danh
sách bên trái và chèn chúng vào các hộp “Numeric Variable → Output Variable“. Để
làm điều này bằng cách bạn chọn biến và sau đó nhấp vào nút mũi tên:

B
ây giờ gõ nhãn tên biến mới trong hộp“Output Variable” “Name” và “Label”. Tuỳ vào
mục đích nhà nghiên cứu đặt các tên biến khác nhau, một cách phổ biến dễ nhớ là thêm
“x” hoặc “z” vào cuối của biến ban đầu (ví dụ, Agex). Một khi bạn đã thêm tên và nhãn
hiệu, nhấp vào Change. Phần cuối cùng này rất quan trọng vì bạn không thể mã hóa lại
biến cho đến khi bạn chọn “Change“.

ể nhập các giá trị cũ và mới mà bạn dự định mã lại như ví dụ ở trên, nhấn “Old and New
Values” Bạn sẽ nhận được cửa sổ sau:

Đ

Sử dụng danh sách thủ công trước đây chúng ta thực hiện, chuyển đổi các giá trị cũ vào
giá trị mới. Giá trị cũ được nhập vào từ hộp Old Values, giá trị mới được nhập vào hộp New
Values. Nhấp vào “Add” sau khi bạn nhập các giá trị cũ và mới cho mỗi biến để bổ sung
vào danh sách “Old → New”. Như bạn có thể thấy các biến từ 20 đến 25 họ đã được mã
hóa lại là “1” Giá trị 26 đến 35 đã được tái mã hóa như “2” việc này cũng có thể được
thực hiện bằng cách chọn nút “Range” bên phải để nhập khoản giá trị.
Khi bạn hoàn tất, nhấp “continue” điều này sẽ đưa bạn quay lại cửa sổ mã hoá lại biến,
nơi bạn có thể bấm “OK” để hoàn thành thao tác ở cửa sổ Recode into Different
Variables
Bạn sẽ chưa hoàn toàn kết thúc việc mã hoá lại biến. Bạn nên quay trở lại cửa sổ Data
Editor, Variable View. Ở dưới cùng của danh sách biến của bạn, bạn sẽ tìm thấy biến mới
sinh ra được tái mã hóa của bạn. Để thuận tiện việc theo dõi bạn nên kéo biến mới được
mã hoá đến gần với biến gốc. Bạn cũng nên chỉnh sửa các Nhãn Giá trị để phản ánh các
giá trị mới được tái mã hóa tránh trường hợp khi phân tích xuất kết quả chúng ta quên
những giá trị của biến được mã hoá:

Nhấn “OK” và bạn đã hoàn tất.
Biên soạn: Ngô Thông
Hướng dẫn sử dụng SPSS 20.0
Cách hiển thị giá trị trên biểu đồ khi chạy biểu đồ tần số, tần suất trong SPSS

By Ngô Thông • Posted in Thực hành SPSS • Tagged Biên tập dữ liệu, Chạy dữ liệu, dạy kèm spss, dạy
spss tại nhà, Dịch vụ chạy SPSS, dịch vụ dạy kèm, dịch vụ phân tích data, Dịch vụ phân tích dữ liệu, Dịch
vụ phân tích SPSS, Dữ liệu SPSS, EFA, học spss miễn phí, hướng dẫn sử dụng spss, hướng dẫn spss, hướng
dẫn spss 11.5, hướng dẫn spss 16, hướng dẫn spss 18, hướng dẫn spss 20, hướng dẫn spss 21, hướng dẫn
spss tại nhà, Khai giảng SPSS, Mã hoá lại biến, Nhận chạy SPSS, nhận dạy spss, Nhận phân tích
SPSS, Numeric Variable, Phân tích, Phân tích dữ liệu, Phân tích dữ liệu với spss, phân tích dữ liệu với spss
hoàng trọng, phân tích SPSS, phương pháp định lượng, Recode into Different Variables, Recode into Same
Variable, Recoding Varibles, SPSS, spss là gì, tự học spss, Thực hành SPSS, Transform

3
TH 6 282014

Cách hiển thị giá trị trên đồ thị trong SPSS
Cách hiển thị giá trị trên biểu đồ khi chạy biểu đồ tần số, tần suất trong SPSS:
Analyze/Descriptive Statistics/Frequencies xuất hiện cửa sổ Frequencies