Tải bản đầy đủ
3 Các bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu về việc nắm giữ tiền mặt:

3 Các bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu về việc nắm giữ tiền mặt:

Tải bản đầy đủ

15

hàng và tiền mặt nắm giữ có mối tương quan ngược chiều, các công ty có mối quan
hệ thân thiết với các ngân hàng sẽ nắm giữ ít tiền mặt vì lý do phòng ngừa.
Nguyen (2005) thu thập một mẫu gồm 9.168 quan sát của các công ty trên thị
trường chứng khoán Tokyo trong thời gian 1992 - 2003. Ông đã nghiên cứu giả
thuyết rằng số dư tiền mặt có động cơ phòng ngừa và để giảm thiểu sự biến động
của lợi nhuận hoạt động. Thông qua phân tích hồi quy, ông thấy rằng nắm giữ tiền
mặt có tương quan cùng chiều với mức độ rủi ro công ty, nhưng tương quan ngược
chiều với rủi ro ngành. Ông cũng phát hiện ra rằng nắm giữ tiền mặt giảm theo quy
mô của công ty và tỷ lệ nợ, và tăng theo lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng, và tỷ lệ chi
trả cổ tức.
Afza và Adnan (2007) nghiên cứu mức độ nắm giữ tiền mặt của các công ty
phi tài chính ở Pakistan theo quy mô của công ty và theo ngành công nghiệp khác
nhau. Họ đã sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1998-2005 về quy mô doanh nghiệp,
cơ hội tăng trưởng, dòng tiền, chi tiêu vốn, đòn bẩy, dòng tiền không chắc chắn, và
chi trả cổ tức. Afza và Adnan tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa giá trị thị trường
so với giá trị sổ sách, chi tiêu vốn, đòn bẩy, chi trả cổ tức, với nắm giữ tiền mặt, và
mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, và nắm giữ tiền mặt.
phát hiện của họ cho thấy quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, dòng tiền không chắc
chắn, chi tiêu vốn và đòn bẩy ảnh hưởng đáng kể đến nắm giữ tiền mặt của các công
ty phi tài chính ở Pakistan.
Drobetz và Grüninger (2007) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định nắm giữ
tiền mặt cho một mẫu gồm 156 Các công ty phi tài chính Thụy Sĩ từ năm 19952004. Thông qua phân tích hồi quy, họ phát hiện ra rằng tài sản hữu hình và quy mô
doanh nghiệp đều có mối quan hệ tiêu cực đến nắm giữ tiền mặt của công ty. Chi trả
cổ tức và dòng tiền có mối tương quan tích cực đến dự trữ tiền mặt.
Rizwan và Javed (2011) thu thập dữ liệu từ 300 công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Karachi Pakistan (KSE) trong giai đoạn 1998-2007. Tác giả
thấy rằng nắm giữ tiền mặt của các công ty Pakistan tăng lên cùng với sự gia tăng

16

trong lưu chuyển tiền tệ và giá trị thị trường. Họ cũng phát hiện ra rằng chi tiêu vốn
và đòn bẩy có liên quan tiêu cực với nắm giữ tiền mặt của các công ty Pakistan.
Saddour (2006) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến nắm giữ tiền mặt
bằng cách thu thập dữ liệu từ 297 công ty của Pháp trong giai đoạn 1998-2002, sử
dụng lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng. Thông qua phân tích hồi quy,
tác giả thấy rằng các công ty của Pháp tăng mức nắm giữ tiền mặt khi hoạt động của
công ty là rủi ro và mức độ lưu chuyển tiền tệ của họ cao, và giảm khi có đòn bẩy
cao. Đối với các công ty tăng trưởng, có một mối quan hệ ngược chiều giữa tiền mặt
và các nhân tố sau: quy mô, mức độ tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Mức tiền mặt
của các công ty đang tăng trưởng tăng theo quy mô, mức độ đầu tư, và thanh toán
cho cổ đông dưới dạng cổ tức hoặc mua lại cổ phiếu, và giảm với tín dụng thương
mại và các chi phí cho nghiên cứu và phát triển (Saddour, 2006, p. 1).
2.4. Các bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tài chính tác động đến việc
nắm giữ tiền mặt:
2.4.1 Các nghiên cứu về quy mô công ty có ảnh hƣởng đến nắm giữ tiền mặt
Quy mô công ty được đo lường bằng logarit của tổng tài sản. Có nhiều
nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô công ty và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt. Có bằng
chứng cho thấy quy mô công ty có mối quan hệ ngược chiều với nắm giữ tiền mặt
Theo Al-Najjar & Belghitar (2011), các công ty nhỏ được cho là có tỷ lệ nắm giữ
tiền mặt nhiều hơn so với các công ty lớn vì các công ty nhỏ có nhiều thông tin bất
cân xứng giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư bên ngoài hơn so với công ty lớn nên
việc huy động nguồn vốn bên ngoài tốn kém hơn.
Quy mô của một công ty có thể thay đổi đáng kể tác động của thông tin bất
cân xứng và khả năng khủng hoảng tài chính. Pettit và Singer (1985) cho thấy rằng
thông tin bất cân xứng là ít nghiêm trọng đối các công ty lớn vì thông tin của họ
được phổ biến hơn. Vì vậy, các công ty lớn có thể tiếp cận các nguồn tài trợ bên
ngoài với chi phí thấp hơn. Giả thuyết là nắm giữ tiền mặt có liên quan tiêu cực đến
quy mô của một công ty. Miller và Orr (1966) cho rằng công ty lớn có quy mô kinh

17

tế để quản lý tiền mặt. Vì vậy, các công ty lớn sẽ nắm giữ ít tiền mặt. Tuy nhiên
cũng có thể lập luận rằng, các công ty lớn có ít thông tin bất cân xứng, ít khả năng
xảy ra khủng hoảng tài chính và các nhà quản lý có thể linh hoạt hơn trong chính
sách tài chính nên giữ tiền mặt nhiều hơn (Opler,1999). Theo đó quy mô doanh
nghiệp là một yếu tố quyết định quan trọng của nắm giữ tiền mặt và cũng không dự
đoán được dấu hiệu của mối liên hệ giữa quy mô doanh nghiệp và nắm giữ tiền mặt.
Vì vậy Quy mô công ty có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với tỷ lệ nắm
giữ tiền mặt.
2.4.2 Các nghiên cứu về đòn bẩy tài chính có ảnh hƣởng đến nắm giữ tiền mặt
Các công ty thường sử dụng đòn bẩy như một công cụ để giảm mức độ thâm
hụt tiền. Khi có nhu cầu về tiền cho các hoạt động, công ty có thể vay nợ để tài trợ.
Theo giả thuyết này, đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nắm
giữ tiền mặt. Giả thiết này được hỗ trợ bởi nghiên cứu của Myers và Majluf (1984);
Saddour (2006) qua nghiên cứu dữ liệu của 297 công ty của Pháp trong giai đoạn
1998-2002 cho thấy rằng có mối tương quan ngược chiều giữa nắm giữ tiền mặt và
đòn bẩy tài chính.
Cả hai lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng đều dự đoán một mối
quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và nắm giữ tiền mặt. Mặt khác, Ferreira và Vilela
(2003) cho rằng lý thuyết đánh đổi cũng có thể dự đoán một mối quan hệ tích cực
giữa đòn bẩy và tiền mặt nắm giữ vì đòn bẩy làm tăng xác suất phá sản và do đó,
các công ty giữ tiền mặt nhiều hơn để giảm xác suất của khủng hoảng tài chính. Lý
thuyết dòng tiền tự do cũng dự đoán một mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và nắm
giữ tiền mặt, bởi vì các công ty ít sử dụng vốn vay có thể ít có sự giám sát bên ngoài
và do đó các nhà quản lý sẽ quyết định giữ lượng tiền mặt cao hơn vì động cơ đại
diện.
Guney và cộng sự (2003) nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính lên số
dư tiền mặt của các công ty, cho rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy và
nắm giữ tiền mặt. Tuy nhiên, khi gia tăng đòn bẩy các công ty phải dự trữ lượng

18

tiền mặt nhiều hơn để giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính và phá sản. Vì vậy, khi
mức độ đòn bẩy cao, mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và mức độ nắm giữ tiền
mặt chuyển đổi tác động cùng chiều (động cơ phòng ngừa). Kết quả này cho thấy
mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và nắm giữ tiền mặt là phi tuyến tính.
2.4.3 Các nghiên cứu về tăng trƣởng có ảnh hƣởng đến nắm giữ tiền mặt
Có nhiều nhân tố đại diện cho sự tăng trưởng của công ty, có thể được xem
là sự gia tăng trong tổng tài sản, sự gia tăng giá trị thị trường của cố phiếu, sự tăng
trưởng doanh thu… Nguyen (2005) phát hiện ra rằng nắm giữ tiền mặt tương quan
tích cực với lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng, và tỷ lệ chi trả cổ tức. Ferreira, M.A., và
Vilela, A.S. (2004) cho thấy rằng nắm giữ tiền mặt có tương quan cùng chiều với cơ
hội tăng trưởng và dòng tiền. Hofmann (2006) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến nắm giữ tiền mặt của các công ty phi tài chính ở New Zealand cho thấy rằng cơ
hội tăng trưởng của công ty có tương quan tích cực đến nắm giữ tiền mặt. Các công
ty với cơ hội đầu tư lớn hơn có xu hướng nắm giữ một lượng tiền mặt nhiều hơn bởi
vì họ cần tài trợ cho các khoản đầu tư của họ. Theo Opler và cộng sự (1999), Ozkan
và Ozkan (2004) cho rằng những công ty có cơ hội tăng trưởng nhanh sẽ có xu
hướng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn các công ty khác, họ sẽ ít có nguy cơ khủng
hoảng tài chính và phá sản và do đó giữ tiền mặt nhiều hơn.
2.4.4 Các nghiên cứu về dòng tiền có ảnh hƣởng đến nắm giữ tiền mặt
Ferreira và Vilela (2004) trong nghiên cứu 400 công ty của 12 quốc gia Liên
minh kinh tế và tiền tệ (EMU) cho thấy rằng nắm giữ tiền mặt có tương quan tích
cực với dòng tiền và ảnh hưởng tiêu cực bởi tính thanh khoản của tài sản, đòn bẩy
tài chính và quy mô công ty. Afza và Adnan (2007) nghiên cứu mức độ nắm giữ
tiền mặt của các công ty phi tài chính ở Pakistan tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa
quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, và nắm giữ tiền mặt. Drobetz và Grüninger (2007)
đã nghiên cứu các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty phi tài chính
Thụy Sĩ phát hiện ra rằng chi trả cổ tức và dòng tiền có mối tương quan tích cực đến
dự trữ tiền mặt. Opler và cộng sự (1999) và Harford (2008) đã tìm mối quan hệ

19

cùng chiều giữa dòng tiền từ hoạt động và nắm giữ tiền mặt, theo đó các công ty có
dòng tiền từ hoạt động càng cao thì càng nắm giữ nhiều tiền. Trong khi đó Kim và
cộng sự (1998), Ozkan và Ozkan (2004) lại tìm thấy tác động ngược chiều của dòng
tiền lên nắm giữ tiền mặt.
2.4.5 Các nghiên cứu về chất lƣợng thu nhập và nắm giữ tiền mặt:
Tiền là một hạng mục quan trọng của tài sản hiện hành trong quá trình thực
hiện hoạt động của doanh nghiệp. Thông tin tiền mặt là rất quan trọng trong việc
chuẩn bị báo cáo tài chính, và các tổ chức có thể phải đối mặt với khó khăn trong
việc thực hiện các hoạt động của họ nếu họ không quản lý tiền mặt. Jiang và cộng
sự (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng thu
nhập ở Mỹ trong giai đoạn 2002-2004. Họ sử dụng chỉ số GOV cho quản trị doanh
nghiệp và các mô hình điều chỉnh của Jones đối với chi phí trích trước và tìm thấy
một mối quan hệ mạnh mẽ giữa chúng. Điều đó nói rằng, mức độ quản trị doanh
nghiệp càng cao, mức độ trích trước càng giảm và làm tăng chất lượng của thu
nhập.
Garcia và cộng sự (2009) tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa chất
lượng thu nhập với mức độ nắm giữ tiền mặt và tuyên bố rằng công ty có chất
lượng thu nhập tốt giữ ít tiền mặt so với các công ty có chất lượng thu nhập kém.
Phát hiện này cho thấy rằng chất lượng của thông tin kế toán có thể làm giảm những
tác động tiêu cực của sự bất cân xứng thông tin, cho phép giảm mức độ nắm giữ
tiền mặt của công ty.
Kwan và cộng sự (2011) "Chất lượng thu nhập và nắm giữ tiền mặt" cũng
cho thấy kết quả tương tự. Ebrahimi và Arabi (2010) "Sở hữu tập trung và chất
lượng thu nhập của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran" đã
chứng minh rằng quyền sở hữu tập trung bên ngoài cải thiện chất lượng thu nhập.
Đây là một dấu hiệu cho thấy giả thuyết giám sát hoạt động, mặc dù không có bằng
chứng thuyết phục được cung cấp cho sự ảnh hưởng của các nhà đầu tư nội bộ về
chất lượng thu nhập. Số liệu kế toán bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như

20

quyền lực của nhà quản lý, phương pháp kế toán khác nhau, kinh tế và môi trường
thay đổi... Nhiều yếu tố có thể đưa vào khi xem xét đặc điểm cụ thể của một công
ty.
Rasoul Baradaran Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh Kangarluei và Farzad
Soleimani (2012) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của chất lượng thu nhập đến nắm
giữ tiền mặt của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran (TSE)”
đã sử dụng một mẫu gồm 428 quan sát của 92 công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Tehran (TSE) trong giai đoạn từ năm 2003-2010, sử dụng mô hình hồi
quy đa biến để kiểm định giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, dòng
tiền từ hoạt động có tác động cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, trong khi đó
tăng trưởng doanh thu và chất lượng thu nhập dựa trên lợi nhuận ròng theo mô hình
Ozkan (2004), chất lượng thu nhập dựa trên lợi nhuận gộp theo mô hình Opler
(1999) tương quan ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của công ty.
Qian Suna và các cộng sự (2011) cho thấy rằng chất lượng thu nhập kém có
tác động ngược chiều đến nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp và tác động cùng
chiều vào mức độ dự trữ tiền mặt. Họ tìm thấy rằng tác động tiêu cực của chất
lượng thu nhập kém lớn hơn nhiều so với tác động tích cực của dư thừa tiền mặt lên
giá trị công ty.
Tại Iran, Moradi (2008) cho thấy rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa ngược
chiều giữa đòn bẩy tài chính và thu nhập được làm đẹp. Ngoài ra, những công ty có
dòng tiền tự do cao hơn, có mối quan hệ tiêu cực hơn giữa đòn bẩy tài chính và thu
nhập được làm đẹp.
2.5. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trƣớc đây
Một số nhà nghiên cứu đã thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm bằng cách
sử dụng các mẫu dữ liệu khác nhau ở nhiều quốc gia và kết quả là họ đã tìm thấy
các bằng chứng liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của
các công ty. Sau đây là một số bằng chứng thực nghiệm trong việc kiểm tra các yếu

21

tố tác động đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các nhà nghiên cứu trước được tóm tắt
như sau:
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt kết quả của các nghiên cứu trước đây.
Biến

Tên tác giả

Kết quả nghiên cứu

- Al-Najjar & Belghitar (2011)
- Ozkan and Ozkan ( 2004)

Quy mô công ty

- Pettit và Singer (1985)

Quy mô công ty có mối tương

- Rasoul Baradaran

quan ngược chiều với tỷ lệ

Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh nắm giữ tiền mặt.
Kangarluei và Farzad
Soleimani (2012).

- Opler (1999)

Quy mô công ty có mối tương
quan cùng chiều với tỷ lệ nắm
giữ tiền mặt

- Myers và Majluf (1984);

Đòn bẩy tài chính có mối

- Saddour (2006)

tương quan ngược chiều với

- Ozkan và Ozkan (2002) và

tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.

Diamond (1984)
- Opler và cộng sự (1999)
Đòn bẩy tài

- Rasoul Baradaran

chính

Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh
Kangarluei và Farzad
Soleimani (2012).

22

- Ferreira và Vilela (2003)

Đòn bẩy tài chính có mối
tương quan cùng chiều với tỷ
lệ nắm giữ tiền mặt.

Tăng

trưởng - Nguyen (2005)

doanh thu

Cơ hội tăng trưởng có tương

- Ferreira, M.A., và Vilela, A.S. quan cùng chiều với tỷ lệ nắm
giữ tiền mặt của công ty.

(2004)
- Opler và cộng sự (1999)

- Ozkan và Ozkan (2004)

Tăng trưởng có tương quan

- Rasoul Baradaran

ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ

Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh tiền mặt của công ty.
Kangarluei và Farzad
Soleimani (2012).

Dòng

tiền

hoạt động

từ - Ferreira và Vilela (2004)

Dòng tiền từ hoạt động có

- Afza và Adnan (2007)

tương quan cùng chiều với tỷ

- Drobetz và Grüninger (2007)

lệ nắm giữ tiền mặt của công

- Opler và cộng sự (1999) và ty.
Harford (2008)
-

Rasoul

Baradaran

Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh
Kangarluei



Soleimani (2012).

Farzad

23

- Kim và cộng sự (1998), Dòng tiền từ hoạt động có
Ozkan và Ozkan (2004)

tương quan ngược chiều với
tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của
công ty.

Chất lượng thu - Garcia và cộng sự (2009)

Chất lượng thu nhập có tương

nhập

- Kwan và cộng sự (2011)

quan ngược chiều với tỷ lệ

- Sun và các cộng sự (2011)

nắm giữ tiền mặt của công ty.

- Moradi (2008)

- Rasoul Baradaran

Chất lượng thu nhập dựa trên

Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh lợi nhuận ròng theo mô hình
Kangarluei và Farzad

Ozkan (2004) tương quan

Soleimani (2012).

ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ
tiền mặt của công ty.
Chất lượng thu nhập dựa trên
lợi nhuận gộp theo mô hình
Opler

(1999)

tương

quan

ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ
tiền mặt của công ty.

24

PHẦN 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Lựa chọn biến số cho mô hình thực nghiệm:
Trên thực tế có rất nhiều yếu tố có thể tác động đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt và
cũng đã được một số các nhà nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu, thể hiện trong
phần 2.2. Vì vậy, Trong bài nghiên cứu này của tác giả, việc lựa chọn biến hoàn
toàn dựa trên bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của chất lượng thu nhập đến nắm giữ tiền
mặt của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran (TSE)” của tác
giả Rasoul Baradaran Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh Kangarluei và Farzad
Soleimani (2012). Các biến cho nghiên cứu này bao gồm 01 biến phụ thuộc là tỷ lệ
tiền mặt (CASH) và 06 biến độc lập là quy mô doanh nghiệp (SIZE), đòn bẩy tài
chính (LEV), tăng trưởng doanh thu (SGR), dòng tiền từ hoạt động (CFO), chất
lượng thu nhập dựa trên lãi gộp (BOIN) và chất lượng thu nhập dựa trên lãi ròng
(BNIN).
3.1.1 Biến phụ thuộc
CASH: Tỷ lệ tiền mặt
Định nghĩa tiền trong mô hình này bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền.
Tỷ lệ tiền mặt nắm giữ đƣợc đƣợc tính toán theo 2 mô hình:
-

Theo Mô hình của Ozkan and Ozkan (2004)

CASH: Được tính từ tỷ số tổng tiền và tương đương đương chia cho tổng tài sản
CASH (OZKAN)i,t = (Tiền và tương đương tiền) / Tổng tài sản
-

Theo Mô hình của Opler and et al. (1999)

CASH: Tương tự như mô hình của Ozkan, chỉ khác biệt là tiền và tương đương tiền
được trừ ra từ tổng tài sản ở mẫu số.
CASH (OPLER)i,t = (Tiền và tương đương tiền) / (Tổng tài sản - Tiền và
tương đương tiền)
3.1.2 Các biến độc lập và biến kiểm soát:

25

a. SIZE : Quy mô công ty
Được đo lường bằng logarit của Tổng tài sản.
SIZEi,t = Log (TAi,t)
Trong đó: SIZEi,t là quy mô công ty
và (TAi,t) là tài sản của doanh nghiệp i trong thời gian t
b. LEVERAGE (LEV): Đòn bẩy tài chính
Thể hiện số tiền nợ trong cơ cấu vốn của công ty và được tính bằng cách
tổng nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn chia cho tổng tài sản của công ty.
LEVi,t = (STLit + LTLit)/TAit
Trong đó: STLit là nợ ngắn hạn của doanh nghiệp i trong thời gian t
LTLit là nợ dài hạn của doanh nghiệp i trong thời gian t
c. SALES GROWTH (SGR): Tăng trƣởng doanh thu
Được tính bằng sự chênh lệch giữa doanh thu năm hiện hành và doanh thu năm
trước chia cho doanh thu của năm trước
SGRi,t = (Doanh thu năm hiện hành – Doanh thu năm trước)/ Doanh thu năm
trước
d. CASHFLOW FROM OPERATION (CFO): Dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh
Được tính từ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chia cho tài sản bình quân
của công ty.
CFOi,t = (CFO)/{(BTA + ETA)/2}
Trong đó: CFO là dòng tiền từ hoạt động
BTA là tổng tài sản đầu năm
ETA là tổng tài sản cuối năm.