Tải bản đầy đủ
2 Chất lượng thu nhập và đo lường chất lượng thu nhập:

2 Chất lượng thu nhập và đo lường chất lượng thu nhập:

Tải bản đầy đủ

9

tiền lại bị âm và ngược lại. Nguyên nhân là do các trường hợp như sau: doanh
nghiệp bán hàng tăng lợi nhuận nhưng chưa thu được tiền, mua hàng làm tăng chi
phí nhưng chưa thanh toán... Tuy nhiên, thu nhập sẽ cung cấp thông tin về dòng
tiền; Từ thu nhập hiện hành có thể xác định dòng tiền trong tương lai, việc ước
lượng dòng tiền dựa trên tính toán thời gian dự kiến thu được tiền. Vì vậy chất
lượng thu nhập là yếu tố quan trọng, chứa đựng nhiều thông tin cho các nhà quản lý
bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.
Nếu có mối quan hệ trực tiếp giữa sự bất cân xứng thông tin và mức độ nắm
giữ tiền mặt, và chất lượng thu nhập xác định thông tin bất cân xứng được chấp
thuận, có thể kết luận rằng có thể chuyển đổi mối quan hệ ngược giữa chất lượng
thu nhập và mức độ nắm giữ tiền trong các công ty. Các công ty với chất lượng thu
nhập tốt có xu hướng giữ ít tiền mặt so với các công ty có chất lượng thu nhập kém.
Chất lượng thu nhập kém chứa đựng nhiều thông tin rủi ro về dòng tiền trong tương
lai, thiếu thông tin đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư bên ngoài nên các công ty
giữ lượng tiền nhiều hơn mức độ thông thường vì động cơ phòng ngừa. Chất lượng
thu nhập có liên quan đến Bất cân xứng thông tin.
Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng thu nhập. Teets (2002) nói rằng một số
xem xét chất lượng của các khoản thu nhập qua các hoạt động kinh tế cơ bản của
một công ty, cũng như các chuẩn mực kế toán mà báo cáo về hiện tượng cơ bản;
một số khác xem xét chất lượng thu nhập chỉ đề cập đến làm thế nào để hạch toán
thu nhập chuyển tải thông tin về hiện tượng cơ bản. Pratt (2003) định nghĩa chất
lượng thu nhập là mức độ mà thu nhập ròng trên báo cáo kết quả kinh doanh khác
với lợi nhuận thực sự của nó. Penman (2003) cho rằng chất lượng của các khoản thu
nhập được dựa trên chất lượng của các khoản thu nhập trước cũng như báo cáo thu
nhập hiện tại. Schipper và Vincent (2003) xác định chất lượng thu nhập là mức độ
báo cáo thu nhập thể hiện đầy đủ thu nhập bao gồm sự thay đổi giá trị tài sản ròng
khác hơn là từ các giao dịch với chủ sở hữu.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các biện pháp khác nhau để chỉ ra '' chất

10

lượng thu nhập'' bao gồm: sự bền vững, phương pháp trích trước, thông suốt, kịp
thời, tránh tổn thất, đáp ứng đầu tư… Lafond, Olsson, và Schipper (2004) đề nghị
bảy tính năng mong muốn thu nhập: chất lượng dồn tích, sự bền vững, khả năng dự
báo, thông suốt, phù hợp giá trị, kịp thời, và bảo thủ. Theo Patricia Dechow,
WeiliGe, Catherine Schrand (2010), có ba đặc điểm về định nghĩa của chất lượng
thu nhập: Thứ nhất, chất lượng thu nhập là điều kiện thông tin để ra quyết định phù
hợp. Như vậy, theo định nghĩa này thì thuật ngữ '' chất lượng thu nhập '' đứng một
mình là vô nghĩa; chất lượng thu nhập chỉ được xác định trong một mô hình ra
quyết định cụ thể. Thứ hai, chất lượng số liệu của một báo cáo thu nhập phụ thuộc
vào việc nó là thông tin về hoạt động tài chính của công ty, nhiều khía cạnh trong
đó không quan sát được. Thứ ba, chất lượng thu nhập được xác định cùng với sự
liên quan của hoạt động tài chính cơ bản cho quyết định và khả năng của hệ thống
kế toán để đo lường hiệu suất. Nhân tố đo lường chất lượng thu nhập chia thành ba
loại chính: tính chất của thu nhập, thu nhập đáp ứng được nhà đầu tư, và các chỉ số
sai sót trọng yếu bên ngoài thu nhập.
2.2.2 Đo lƣờng chất lƣợng thu nhập
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng thu nhập, vì vậy cũng có
nhiều phương pháp đo lường.
2.2.2.1 Đo lƣờng chất lƣợng thu nhập qua sự ổn định của thu nhập:
Một số tác giả đã nghiên cứu về chất lượng thu nhập như Saghafi và
Kordestani, 2004 cho rằng chất lượng thu nhập là sự ổn định thu nhập qua các năm
kế tiếp. Sự ổn định thu nhập càng cao, sự kiểm soát của công ty qua việc giữ lợi
nhuận hiện hành càng lớn và chất lượng thu nhập càng tốt. Ví dụ, Karmi và Sadeghi
(2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng thu nhập và ổn định lợi nhuận
trong công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Tehran. Họ tìm thấy có mối quan
hệ đáng kể giữa chất lượng thu nhập và ổn định lợi nhuận.
Chất lượng thu nhập được đánh giá qua sự ổn định của thu nhập, sự ổn định
này được đo bằng mô hình tự hồi quy. Sự ổn định thu nhập càng cao, chất lượng thu

11

nhập sẽ càng tốt. Để đo lường sự ổn định thu nhập, hệ số giải thích của biến
EARNJ,t-1, tương ứng với β1 trong mô hình hồi quy, được xem như là đại diện của
sự ổn định thu nhập. Theo Kormendi và Lipe (1987), Modarres and Abbaszadeh
(2008), mô hình hồi quy chất lượng thu nhập:
EARN J,t = β0 + β1 EARNJ,t-1 + εJ,t
Theo Majid Zanjirdar and Masomeh Chogha (2012): Thu nhập ổn định có
nghĩa là thu nhập hiện tại được lặp lại hoặc được giữ liên tục; ổn định thu nhập cao
hơn cho thấy rằng một công ty có khả năng tốt hơn để giữ thu nhập hiện tại và vì
vậy, nó được giả định rằng chất lượng thu nhập sẽ cao hơn. Vì vậy, nếu giá trị hệ số
của biến giải thích β1 càng gần 1, ổn định thu nhập sẽ càng cao (chất lượng thu nhập
cao) và ngược lại β1 càng gần 0, ổn định thu nhập càng thấp (chất lượng thu nhập
kém).
2.2.2.2 Đo lƣờng chất lƣợng thu nhập qua chất lƣợng dồn tích:
Dechow, Weili Ge, Catherine Schrand (2010) đã đề ra mô hình đo lường
chất lượng thu nhập dựa trên dồn tích:
Accruals = Earningst _ CFt
Phương pháp này được đo lường trực tiếp dựa trên hệ thống kế toán liên
quan đến dòng tiền. Chi phí trích trước có chất lượng thấp vì nó đại diện cho một
thành phần của thu nhập không bền vững. Nhược điểm của phương pháp này là hiệu
suất cơ bản có thể sẽ khác nhau đối với các doanh nghiệp có trích trước nhiều so với
các doanh nghiệp có trích trước ít. Vì vậy, tính bền vững thấp hơn của các thành
phần dồn tích có thể được điều khiển bởi cả hiệu suất cơ bản và các quy tắc đo
lường.
Ngoài ra Dechow, Weili Ge, Catherine Schrand (2010) cũng đã đề ra mô
hình đo lường chất lượng thu nhập dựa trên đo lường Chất lượng dồn tích (AQ)
được đo bằng độ lệch chuẩn của phần dư từ hồi quy chi phí dồn tích với dòng tiền

12

từ hoạt động ở hiện tại và tương lai. Độ lệch chuẩn càng cao (thấp) thì cho thấy chất
lượng dồn tích càng thấp (cao).
McNichols (2002) dựa trên mô hình Dechow và Dichev, đã đưa ra mô hình
đo lường chất lượng thu nhập như sau:

Trong đó: TCAj,t = Tổng chi phí dồn tích hiện hành của công ty j năm t.
CFO = Dòng tiền từ hoạt động.
DREVj,t = Thay đổi trong doanh thu thuần từ năm t-1 đến năm t.
PPEj,t = Tài sản thuần, nhà xưởng, thiết bị trong năm t
TCA được tính bằng (DCA – DCL – DCash + DSTDEBT) trong đó DCA là
sự thay đổi trong tài sản hiện hành, DCL là sự thay đổi trong nợ hiện hành, DCash
là sự thay đổi trong tiền mặt và DSTDEBT là sự thay đổi nợ trong nợ hiện hành.
2.2.2.3 Đo lƣờng chất lƣợng thu nhập qua dự báo thu nhập
Lipe (1990) đưa ra một biện pháp đo lường dự báo thu nhập dựa trên sự thay
đổi của thu nhập trong đó chênh lệch cao về thu nhập dẫn đến giảm khả năng dự
báo. Sau Lipe (1990), Francis et al (2004) đo lường dự báo thu nhập bằng cách sử
dụng căn bậc hai của phương sai từ phương trình dự báo thu nhập như sau:

Trong đó:

là phương sai sai số ước tính của công ty j trong thời gian t

được tính từ mô hình EARN

J,t

= β0 + β1 EARNJ,t-1 + UJ,t. Giá trị của RESIDPERj,t

càng lớn cho thấy dự báo thu nhập càng thấp và do đó chất lượng thu nhập càng
thấp.
2.2.2.4 Đo lƣờng chất lƣợng thu nhập qua làm đẹp thu nhập

13

Làm đẹp thu nhập là cách thức tránh những lên xuống bất thường của thu
nhập nói cách khác là làm giảm thu nhập những năm thu nhập cao nhằm dự trữ cho
những năm thu nhập kém. Các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp dồn tích trong
cách làm đẹp thu nhập, lợi nhuận cao sẽ đề nghị ít sử dụng phương pháp dồn tích
vào thu nhập được làm đẹp. Leuz et al. (2003) đo lường sự làm đẹp qua tỷ số của
các độ lệch về thu nhập từ hoạt động và dòng tiền từ hoạt động của công ty theo độ
trễ là 1 năm so với tổng tài sản. Bowen và cộng sự (2003) đo lường thu nhập được
làm đẹp qua tỷ số độ lệch chuẩn của dòng tiền từ hoạt động và độ lệch chuẩn của
thu nhập.
Francis et al. (2004) đo lường thu nhập được làm đẹp qua tỷ số độ lệch chuẩn
của thu nhập ròng và dòng tiền hoạt động, của công ty theo độ trễ là 1 năm so với
tổng tài sản theo mô hình như sau:

Trong đó:

là độ lệch chuẩn.

OCFj,t là dòng tiền từ hoạt động của công ty j trong thời gian t
Earnj,t là thu nhập ròng của công ty j trong thời gian t
ASSETj,t-1 là tổng tài sản của công ty j trong năm t-1
Giá trị của Smooth càng lớn chỉ ra thu nhập được làm đẹp càng nhiều và
ngược lại.
2.2.2.5 Đo lƣờng theo các tiêu chí ảnh hƣởng đến chất lƣợng thu nhập
Jodi L. Bellovary Giacomino Akers (2005) đã đưa ra mô hình đánh giá chất
lượng thu nhập sử dụng 20 tiêu chí ảnh hưởng chất lượng thu nhập, xem xét doanh
thu và chi phí sản phẩm, cũng như các thay đổi kế toán, mua lại, và ngưng hoạt
động. Mô hình này cũng đánh giá sự ổn định, hoặc thiếu ổn định của một công ty
dẫn đến một sự hiểu biết đầy đủ hơn về thu nhập tương lai tiềm năng của nó. Chất

14

lượng thu nhập được đánh giá bằng cách gán một giá trị điểm từ 1 đến 5 cho mỗi
trong số 20 tiêu chí, với tổng thể là 100 điểm. Điểm số 1 cho thấy một ảnh hưởng
tiêu cực đến chất lượng thu nhập, và một số điểm trong 5 cho thấy một ảnh hưởng
rất tích cực đến chất lượng thu nhập.
2.3

Các bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu về việc nắm giữ tiền mặt:
Rasoul Baradaran Hasanzadeh, Saeid Jabbarzadeh Kangarluei và Farzad

Soleimani (2012) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của chất lượng thu nhập đến nắm
giữ tiền mặt của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran (TSE)”
đã sử dụng một mẫu gồm 428 quan sát của 92 công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Tehran (TSE) trong giai đoạn từ năm 2003-2010, sử dụng mô hình hồi
quy đa biến để kiểm định giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, dòng
tiền từ hoạt động có tác động cùng chiều đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, trong khi đó
tăng trưởng doanh thu và chất lượng thu nhập dựa trên lợi nhuận ròng theo mô hình
Ozkan (2004), chất lượng thu nhập dựa trên lợi nhuận gộp theo mô hình Opler
(1999) tương quan ngược chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của công ty.
Hardin và cộng sự (2009) trong nghiên cứu "Các yếu tố quyết định nắm giữ
tiền mặt" thấy rằng nắm giữ tài sản thay thế tiền mặt sẽ có tác động ngược chiều đến
mức độ nắm giữ tiền mặt trong công ty. Họ cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều
giữa mức độ nắm giữ tiền mặt và cơ hội đầu tư. Nói cách khác, các công ty với cơ
hội đầu tư lớn hơn có xu hướng nắm giữ một lượng tiền mặt nhiều hơn bởi vì họ
cần tài trợ cho các khoản đầu tư của họ và có thể được hưởng lợi từ các nguồn nội
bộ của họ về tiền mặt và vì lý do tài chính bên ngoài rất tốn kém.
Ferreira và Vilela (2004) sử dụng một mẫu gồm 400 công ty của 12 quốc gia
Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) trong giai đoạn 1987-2000 để điều tra các yếu
tố quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty. Kết quả cho thấy rằng nắm giữ tiền mặt
được ảnh hưởng tích cực bởi các cơ hội đầu tư và lưu chuyển tiền và ảnh hưởng tiêu
cực bởi tính thanh khoản của tài sản, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty. Nợ ngân

15

hàng và tiền mặt nắm giữ có mối tương quan ngược chiều, các công ty có mối quan
hệ thân thiết với các ngân hàng sẽ nắm giữ ít tiền mặt vì lý do phòng ngừa.
Nguyen (2005) thu thập một mẫu gồm 9.168 quan sát của các công ty trên thị
trường chứng khoán Tokyo trong thời gian 1992 - 2003. Ông đã nghiên cứu giả
thuyết rằng số dư tiền mặt có động cơ phòng ngừa và để giảm thiểu sự biến động
của lợi nhuận hoạt động. Thông qua phân tích hồi quy, ông thấy rằng nắm giữ tiền
mặt có tương quan cùng chiều với mức độ rủi ro công ty, nhưng tương quan ngược
chiều với rủi ro ngành. Ông cũng phát hiện ra rằng nắm giữ tiền mặt giảm theo quy
mô của công ty và tỷ lệ nợ, và tăng theo lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng, và tỷ lệ chi
trả cổ tức.
Afza và Adnan (2007) nghiên cứu mức độ nắm giữ tiền mặt của các công ty
phi tài chính ở Pakistan theo quy mô của công ty và theo ngành công nghiệp khác
nhau. Họ đã sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1998-2005 về quy mô doanh nghiệp,
cơ hội tăng trưởng, dòng tiền, chi tiêu vốn, đòn bẩy, dòng tiền không chắc chắn, và
chi trả cổ tức. Afza và Adnan tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa giá trị thị trường
so với giá trị sổ sách, chi tiêu vốn, đòn bẩy, chi trả cổ tức, với nắm giữ tiền mặt, và
mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, và nắm giữ tiền mặt.
phát hiện của họ cho thấy quy mô doanh nghiệp, dòng tiền, dòng tiền không chắc
chắn, chi tiêu vốn và đòn bẩy ảnh hưởng đáng kể đến nắm giữ tiền mặt của các công
ty phi tài chính ở Pakistan.
Drobetz và Grüninger (2007) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định nắm giữ
tiền mặt cho một mẫu gồm 156 Các công ty phi tài chính Thụy Sĩ từ năm 19952004. Thông qua phân tích hồi quy, họ phát hiện ra rằng tài sản hữu hình và quy mô
doanh nghiệp đều có mối quan hệ tiêu cực đến nắm giữ tiền mặt của công ty. Chi trả
cổ tức và dòng tiền có mối tương quan tích cực đến dự trữ tiền mặt.
Rizwan và Javed (2011) thu thập dữ liệu từ 300 công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Karachi Pakistan (KSE) trong giai đoạn 1998-2007. Tác giả
thấy rằng nắm giữ tiền mặt của các công ty Pakistan tăng lên cùng với sự gia tăng