Tải bản đầy đủ
PHẦN I: GIỚI THIỆU

PHẦN I: GIỚI THIỆU

Tải bản đầy đủ

3

Đồng thời kiểm định tác động của các nhân tố tài chính lên mức độ nắm giữ
tiền mặt của các doanh nghiệp đối với chất lượng thu nhập tốt và chất lượng thu
nhập kém. Từ kết quả đó, giúp các doanh nghiệp điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ
để tối ưu hóa giá trị.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Chất lượng thu nhập dựa trên lãi gộp và chất lượng thu nhập dựa trên lãi
ròng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các công ty hay không?
Bên cạnh ảnh hưởng của chất lượng thu nhập, các nhân tố tài chính khác tác
động như thế nào đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai
đoạn 2007 – 2013?
Có sự khác biệt các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ nắm giữ tiền mặt của các
doanh nghiệp giữa chất lượng thu nhập tốt và chất lượng thu nhập kém hay không?
1.3 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Nguồn số liệu: Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu dạng bảng của các công ty
phi tài chính được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HNX và HOSE. Dữ liệu được
lấy từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu
chuyển tiền tệ của các công ty, giai đoạn 2006 – 2013.
Sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu Stata 11 để chạy mô hình hồi quy đa biến
để kiểm định giả thuyết. Dùng phương pháp OLS ở các mô hình: mô hình gộp
(Pooled), mô hình tác động cố định (Fixed effects) và mô hình tác động ngẫu nhiên
(Random effects) và so sánh các mô hình để chọn mô hình tối ưu.
1.4 Nội dung nghiên cứu:
Bài nghiên cứu gồm có 5 phần:
Phần 1: Giới thiệu.
Phần 2: Cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu.

4

Phần 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận và hạn chế của đề tài

5

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về nắm giữ tiền mặt:
Vào năm 1936, J.M.Keynes đã đưa ra lý thuyết về cầu tiền tệ, còn được gọi
là lý thuyết ưa thích tiền mặt, lý thuyết này đã trình bày 3 động cơ quan trọng để
giải thích vì sao cá nhân lại giữ tiền đó là động cơ giao dịch, động cơ đề phòng và
động cơ đầu cơ. Động cơ giao dịch cho rằng các cá nhân nắm giữ tiền vì đó là
phương tiện trao đổi có thể dùng để tiến hành các giao dịch hàng ngày. Keynes
nhấn mạnh rằng bộ phận cấu thành của tiền tệ trước tiên là do mức giao dịch của
dân chúng quyết định và ông cho rằng các giao dịch của cầu tiền tỷ lệ với thu nhập;
Động cơ đề phòng cho rằng ngoài việc cất giữ tiền cho các giao dịch hàng ngày,
người ta còn giữ thêm tiền để dùng cho những nhu cầu bất ngờ, những chi tiêu bất
thường. Keynes tin rằng số tiền dự phòng mà người ta muốn nắm giữ được xác định
bởi mức độ giao dịch dự tính sẽ thực hiện trong tương lai. Do đó, Ông ước định
rằng cầu tiền dự phòng tỷ lệ với thu nhập; Động cơ đầu cơ: Đối với động cơ giao
dịch và động cơ dự phòng thì thu nhập sẽ là yếu tố quyết định cầu tiền tệ. Ngoài ra,
Keynes đồng ý rằng tiền tệ là phương tiện cất giữ của cải và gọi động cơ giữ tiền là
động cơ đầu cơ. Theo Keynes các cá nhân có thể nắm giữ tài sản dưới dạng tiền
hoặc trái phiếu, đối với trái phiếu thì lãi suất đóng vai trò quan trọng, khi lãi suất
thấp thì cá nhân sẽ thích nắm giữ tiền mặt hơn và ngược lại. Tiếp theo lý thuyết cầu
tiền của Keynes, hàng loạt các lý thuyết khác sau Keynes lần lượt ra đời.
Từ lý thuyết nắm giữ tiền mặt của Keynes, các nghiên cứu thực nghiệm cũng
đã được thực hiện để giải thích tại sao mặc dù giữ nhiều tiền mặt sẽ không tạo lợi
nhuận cho doanh nghiệp so với dùng tiền mặt đầu tư nhưng các công ty vẫn giữ
nhiều tiền mặt. Bates et al. (2009) liệt kê bốn lý do tại sao các công ty nắm giữ
nhiều tiền mặt: động cơ đại diện, động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, và động
cơ thuế. Động cơ đại diện phản ánh lập luận rằng các nhà quản lý giữ nhiều hơn các
dòng tiền mặt tự do trong công ty để dễ dàng chuyển đổi và phục vụ cho lợi ích

6

riêng của họ (Jensen, 1986; Dittmar et al., 2003; Guney et al., 2007). Động cơ chi
phí giao dịch cho thấy rằng các công ty giữ tiền mặt vì chuyển đổi tài sản thành tiền
đòi hỏi chi phí giao dịch (Miller và Orr, 1966; Opler và cộng sự, 1999). Động cơ
phòng ngừa khẳng định rằng các công ty giữ tiền mặt để tránh tình trạng thiếu hụt
trong tương lai của tiền mặt cho chi tiêu đầu tư vì sử dụng nguồn tài chính bên
ngoài là tốn kém hơn sử dụng nguồn vốn nội bộ do sự hiện diện của thông tin bất
cân xứng (Myers và Majluf, 1984; Kim và cộng sự, 1998; . . Opler và cộng sự,
1999). Động cơ thuế cho rằng các doanh nghiệp có thể lo lắng về thuế cổ tức sẽ bị
tăng gấp đôi khi tiền được chuyển từ công ty cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức,
thu nhập bị đánh thuế hai lần: đầu tiên, vào cuối năm khi các công ty phải nộp thuế
thu nhập, và thứ hai, khi lợi nhuận sau thuế được phân phối cho cổ đông phải nộp
thuế thu nhập cổ tức. Để tránh thuế cổ tức, các doanh nghiệp có thể thích giữ tiền
mặt thay vì trả tiền cho các cổ đông.
Tiền mặt đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của một doanh
nghiệp vì nó là tài sản có tính thanh khoản cao nhất dùng để đo lường khả năng
thanh toán của công ty. Tuy nhiên việc nắm giữ tiền sẽ tạo ra chi phí bao gồm: chi
phí do không có khả năng sinh lời, chi phí lạm phát, chi phí cơ hội của khoản lợi
nhuận bị mất đi khi dùng tiền mặt để đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có
sẵn lượng tiền cần thiết cho hoạt động sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và có
thể dẫn đến nguy cơ phá sản. Vì vậy quản trị tiền mặt là nội dung quan trọng trong
quản trị tài chính và đã có rất nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về quản trị
tiền mặt. Lý thuyết quản trị tiền mặt được trình bày ở một số giáo trình như “Tài
chính doanh nghiệp hiện đại” (2007) của TS. Trần Ngọc Thơ (chương 28, 30);
“Quản trị tài chính doanh nghiệp” (2007) của tác giả Nguyễn Hải Sản (chương 15)
…. Ngoài ra, còn có rất nhiều giáo trình nước ngoài trình bày chuyên sâu, chi tiết
các vấn đề liên quan đến tiền mặt, dòng tiền mặt trong doanh nghiệp và quản trị tiền
mặt như: Cuốn Corporate Finance –Theory and Practice (second edition) (2001) của
Aswath Damodaran; cuốn Short-Term Financial Management (third edition) (2005)
của Terry S. Maness và John T.