Tải bản đầy đủ
Tóm Lược Chương 4

Tóm Lược Chương 4

Tải bản đầy đủ

57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bộ số liệu điều tra trực tiếp từ nông
hộ ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang là huyện có thực hiện thí điểm bảo hiểm cây
lúa theo chương trình thí điểm của Chính phủ để xác định mức độ tham gia và khả
năng chi trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất. Việc tách sẵn
sàng tham gia và sẵn sàng trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa nhằm bóc tách những
hộ sẵn sàng mua sản phẩm giả định và những hộ thực tế có mua bảo hiểm cây lúa
trong vùng khảo sát.
Các nông hộ ở nông thôn khu vực khảo sát thường đối mặt với các rủi ro và
thường ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ do đa số nông hộ sống dựa vào sản
xuất lúa là chủ yếu, sự phụ thuộc lớn vào sản xuất lúa tiềm ẩn nhiều rủi ro làm cho
họ càng trở nên dễ bị tổn thương, nhất là những cú sốc rủi ro trong sản xuất lúa ảnh
hưởng đến thu nhập của nông hộ như giông bão, lũ lụt, sâu bệnh, dịch bệnh. Trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi có lồng ghép các câu hỏi phỏng vấn sâu về bảo
hiểm nông nghiệp và các đối tượng được phỏng vấn chủ yếu có đất ruộng sản xuất.
Nghiên cứu cho thấy nông hộ chưa quan tâm nhiều đến BHNN, tuy nhiên người dân
vẫn ý thức được những rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất lúa.
Thực tế khảo sát cho thấy: số hộ sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm cây lúa
chiếm tỷ trọng khá cao trong mẫu khảo sát (chiếm 79,29%); nhưng số hộ mua bảo
hiểm thực tế chỉ có 58 hộ (chiếm 34,3% số hộ khảo sát và chiếm 43,3% số hộ sẵn
sàng tham gia). Bởi vì các nông hộ dựa vào kinh nghiệm trong quá khứ, những dự
báo trong thời gian tới đối mặt với rủi ro và bảo hiểm chỉ là một trong số các giải
pháp ứng phó rủi ro, họ sẽ cân nhắc mức độ hiệu quả của các giải pháp ứng phó để
quyết định tham gia mua bảo hiểm; bên cạnh đó, do mức phí bán bảo hiểm theo các
mùa vụ là như nhau, nhiều nông hộ vẫn còn chưa biết về BHNN và việc lựa chọn
bất lợi trong SXNN là những nông hộ nào có nguy cơ rủi ro cao do thời tiết và nằm
trong khu vực dễ bị ngập lụt thì tăng khả năng tham gia.Thực tế đã chứng minh là

58
đa số các hộ mua bảo hiểm cây lúa chủ yếu trong vụ Thu Đông vì có rủi ro ngập lụt
lớn rất cao.
Từ kết quả phân tích hồi quy về sự sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm cây lúa
ta thấy những hộ chưa từng đối mặt hoặc biết không chính xác về mức độ lũ lụt
trong tương lai thì họ thích dùng các biện pháp khác ứng phó với rủi ro và chỉ có
những hộ đã từng đối mặt hoặc gần như biết chính xác về những trận lũ lụt lớn thì
tăng khả năng tham gia mua rất cao. Những hộ đã từng mua bảo hiểm cây lúa và có
tham gia nhiều vào các tổ chức xã hội cũng cho kết quả rất tích cực trong việc gia
tăng tham gia mua bảo hiểm. Điều này nhất quán với nghiên cứu của Zweifel &
Eisen (2012).
Với việc phân tích dữ liệu cho thấy mức giá sẵn sàng mua bảo hiểm của
nông hộ trong vùng khảo sát khoảng 43.300 VNĐ/công ruộng, cao hơn mức giá mà
công ty bảo hiểm đang bán thực tế và nghiên cứu của Trang (2013) ở Đồng Tháp;
điều này có thể góp phần giúp cho các nhà làm chính sách có thêm tư liệu trong
việc xem xét các mức hỗ trợ tùy theo vùng, miền, đối tượng khác nhau.
Bên cạnh đó, trong cuộc hội thảo làm việc nhóm với một số nông hộ trước
khi tiến hành khảo sát thì họ cho rằng việc mua BH từ công ty vật tư nông nghiệp sẽ
có hiệu quả hơn so với mua bảo hiểm từ công ty bán bảo hiểm bởi vì khi xảy ra rủi
ro họ không biết phải xử lý như thế nào.
Từ những nội dung kết luận ở trên, tác giả đưa ra một số gợi ý chính sách để
gia tăng khả năng tham gia mua bảo hiểm cây lúa cũng như sẵn sàng chấp nhận bỏ
ra mức phí để mua bảo hiểm của nông hộ như sau:
(i) Cần có một giải pháp tuyên truyền, tiếp thị hiệu quả, lâu dài chính sách
bảo hiểm nông nghiệp gắn liền với tổ chức, hiệp hội, đoàn thể ở địa phương; đồng
thời, giúp nông hộ nhận thức được BHNN là một trong những giải pháp hiệu quả
trong việc ứng phó với các rủi ro gặp phải, nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và lựa chọn
bất lợi trong sản xuất về việc mua BH.

59
(ii) Trong những khu vực ít xảy ra thiên tai lũ lụt, có điều kiện sản xuất tốt
hoặc có biện pháp ứng phó rủi ro tốt họ sẽ ít tham gia mua bảo hiểm nhưng khi xảy
ra các cú sốc khác như dịch bệnh, hạn hán,… sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của nông
hộ trồng lúa. Vì vậy để gia tăng việc tham gia mua BHNN để giảm thiểu rủi ro thì
cần có một thiết kế sản phẩm BHNN đa dạng, phong phú, giá bán sản phẩm khác
nhau sao cho phù hợp với từng đối tượng, khu vực, mùa vụ khác nhau để góp phần
tăng khả năng tham gia mua BHNN.
(iii) Cần có một chính sách hỗ trợ hoặc giải pháp hiệu quả đối với các công
ty vật tư nông nghiệp ở địa phương trong việc bán sản phẩm BH; cũng như xem xét
việc hỗ trợ tham gia mua BH lần đầu đối với các nông hộ có mức thu nhập trung
bình và thấp nhằm giúp họ có cái nhìn tốt hơn về BHNN.
(iv) Đối với những nông hộ đã từng mua BHNN để ứng phó với rủi ro trong
nông nghiệp, nhưng trong thời gian mua bảo hiểm không xảy ra thiệt hại thì họ có
khả năng sẽ dùng các biện pháp ứng phó khác thay thế hiệu quả. Tuy nhiên, khi có
các cú sốc lớn thì những biện pháp ứng phó thay thế sẽ không phát huy hiệu quả; vì
vậy, cần có sự tuyên truyền, giải thích cho nông hộ hiểu về những lợi ích của việc
mua BHNN.
(v) Tùy theo vùng, khu vực và đối tượng khác nhau mà có mức giá sẵn lòng
trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa khác nhau, điều này có thể giúp nhà làm chính
sách có thêm tư liệu để đề ra các mức phí hỗ trợ cho việc mua bảo hiểm cây lúa của
nông hộ hợp lý hơn để gia tăng việc tham gia mua bảo hiểm cây lúa.
Hạn chế của đề tài: hiện nay một số vấn đề được xem là nóng bỏng trong
sản xuất lúa khu vực ĐBSCL đó là thiên tai lũ lụt, sâu bệnh, giá lúa không ổn định
đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất lúa của nông hộ khu vực ĐBSCL nói riêng và cả
nước nói chung. Nhưng nghiên cứu này của tôi chỉ mới góp phần giải quyết được
một phần trong trong các vấn đề đó là xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định mua bảo hiểm và giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa ở tỉnh An Giang;
còn vấn đề bảo hiểm giá lúa (thu nhập của nông hộ) thì chưa được nghiên cứu.

60
Hướng nghiên cứu tiếp theo: khi có điều kiện, thời gian sẽ phát triển đề tài
theo hướng nghiên cứu thực nghiệm về bảo hiểm giá lúa (thu nhập của nông hộ) và
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia mua bảo hiểm giá lúa của
nông hộ khu vực ĐBSCL./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt:
Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Phú đến
năm 2020, được Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang phê duyệt tại Quyết định số
870/QĐ-UBND ngày 10/5/2010.
Bảo hiểm Việt Nam: Bảo hiểm nông nghiệp – Những bài học thành công.
http://webbaohiem.net/chuyen-de.[truy cập ngày 20/5/2014].
Đài Tiếng nói Việt Nam, 2010. Bảo hiểm nông nghiệp: Những khoảng trống
cần lấp. http://vov.vn/Print.aspx?id=152604. [Ngày truy cập 15 tháng 6 năm 2014].
Đặng Kim Sơn và Phạm Quang Diệu, 2009.Tầm nhìn chính sách bảo hiểm
nông nghiệp Việt Nam.Nhà xuất bản Viện Chính sách và Chiến lược phát triển
nông nghiệp nông thôn (IPSARD).
Lê Nguyễn Đoan Khôi, 2011.Nhận thức của cộng đồng về tác động của biến
đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp và các giải pháp ứng phó.Tạp chí Khoa học
Đại học Huế, số 67, năm 2011.
Nguyễn Duy Vĩnh, 2013.Nông nghiệp Việt Nam thực trạng và giải pháp.
Đăng trên website của Vụ Kế hoạch – Bộ NN&PTNT (cập nhật ngày 31/12/2013):
http://vukehoach.mard.gov.vn/Default.aspx?id=1426.
Nguyễn Quốc Nghi, 2011. Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông
nghiệp.Tạp chí Nghiên cứu – Trao đổi, Trường Đại học Cần Thơ, tháng 3/2011.
Nguyễn Tuấn Sơn, 2008.Nghiên cứu vận dụng phương pháp chỉ số trong bảo
hiểm nông nghiệp Việt Nam.Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội. Tập VI, số 4, 367-374.
Phạm Khánh Nam, 2013. Thái độ của nông dân đối với rủi ro lũ lụt tại Việt
Nam: gợi ý cho ngành bảo hiểm. Seminar trao đổi học thuật.Trung tâm Nghiên cứu
Phát triển, Trường Đại học Mở Tp.HCM, tháng 4 năm 2013.

Phạm Lê Thông, 2013. Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các
nông hộ ở Cần thơ. Tạp chí Công nghệ Ngân hang, Trường Đại học Cần Thơ, số 90,
tháng 9/2013.
Võ Hồng Tú và cộng sự, 2012. Tính tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh
hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó. Tạp chí Khoa học, Trường
Đại học Cần Thơ, số 22b, trang 294-303.
Website

Tổng

cục

Thống



Việt

Nam:

Số

liệu

thống

kê.

http://www.gso.gov.vn/.[truy cập ngày 20/6/2014]
Website Ủy ban nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang:
http://chauphu.angiang.gov.vn/ [truy cập ngày 20/6/2014]
Website của SNV: www.snvworld.org. Bảo hiểm cây lúa, giải pháp ổn định
thu nhập cho người dân trong dự án “Thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo hiểm
nông nghiệp”. Truy cập ngày 30/4/2014.

Tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh:
Christiaensen, L., & Sarris, A., 2007. Rural Household Vulnerability and
Insurance Against Commodity Risks: Evidence from the United Republic of
Tanzania. Fao commodities and trade technical paper 10. Roma, 2007.
Clarke, D., 2011. A Theory of Rational Demand for Index Insurance. Manor
Road Building, Oxford OXI 3UQ. Number 572, October 2011.
Clarke, D., & Kalani, G., 2012. Microinsurance decisions: Evidence from
Ethiopia. Research paper No. 19, May 2012.
Dercon, S., Kirchberger, M., Gunning, W., & Platteau, J.P., 2008.Literature
Review on Microinsurance.Microinsurance Paper No.1.Oxford University.
Ellis, F., 1988. Peasant Economics: Farm households
development. Second edition.Cambridge University press.

and agrarian