Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ

11
mua bảo hiểm rồi, nông hộ có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp
né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm (rủi ro đạo đức)(Quiggin và
cộng sự, 1993).

2.2. BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC RỦI RO THƯỜNG XẢY RA
2.2.1. Rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp
Cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển thường xuyên phải đối mặt
với nhiều rủi ro trong cuộc sống hàng ngày,hầu hết trong số họ có liên quan đến
sinh kế nông nghiệp; trong khi việc sản xuất nông nghiệp thì thường phải đối mặt
với nhiều rủi ro chủ yếu do thời tiết gây ra như sâu bệnh, ngập lụt, giông bão, hạn
hán,…. và thu nhập không chắc chắn do ảnh hưởng giá cả đầu ra (Trang, 2013).
Trọng tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những rủi ro nói trên và việc
bảo hiểm cây lúa.
Theo Smith and Watts (2009), những hộ giàu có khả năng tự đảm bảo cuộc
sống của họ thông qua những tài sản dự trữ như tiền tiết kiệm gửi ngân hàng, việc
kinh doanh khác,… trong khi những hộ nông dân sống phụ thuộc chủ yếu vào
SXNN như cây trồng và thường đối mặt với giảm năng suất cây trồng do rủi ro về
thời tiết hoặc những cú sốc trong sản xuất nên gây thiệt hại lớn về thu nhập. Những
hộ nông dân này sẵn sàng bỏ ra một số chi phí để đối phó hoặc giảm thiểu những
rủi ro và các cú sốc gây thiệt hại cho thu nhập của họ. Một số yếu tố ảnh hưởng đến
việc những hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra chi phí để giảm thiểumột phần hoặc hoàn
toàn những thiệt hại do rủi ro về thời tiết hoặc các cú sốc khác như:
(i) Quy mô, kích thước của những mất mát tiềm năng có thể xảy ra gây tổn
thất lớn đến thu nhập, tài sản của hộ dân. Ví dụ: ở các nước giàu như Nhật, Úc thì
họ có thể sẽ không mua bảo hiểm cho chiếc xe đạp vì giá trị không lớn đối với thu
nhập của họ, nhưng họ sẵn sàng bỏ ra chi phí mua bảo hiểm cho việc rò rỉ khí gas
gây cháy nhà vì ảnh hưởng lớn đến thu nhập của họ.

12

(ii) Một yếu tố quan trọng thứ hai là tần suất xảy ra những thiệt hại làm biến
động sản lượng cây trồng.Khi thiệt hại không xảy ra thường xuyên (khoảng 20-30
năm xảy ra một lần), mặc dù xảy ra thiệt hại lớn thì những hộ nông dân không
muốn bỏ ra những chi phí để giảm thiểu những rủi ro, thiệt hại tiềm năng này;
nhưng khi những thiệt hại xảy ra thường xuyên, mặc dù gây thiệt hại nhỏ thì những
hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra một mức phí để giảm nhẹ thiệt hại.
(iii) Mức độ nghiêm trọng dự kiến xảy ra gây tổn thất đáng kể. Những hộ
dân có khả năng sẽ tìm cách để giảm thiểu rủi ro, mất mát khi những thiệt hại xảy ra
lớn.
(iv) Chi phí để giảm thiểu rủi ro. Trong quyết định về việc có nên bỏ ra
khoảng chi phí để mua bảo hiểm cho việc giảm thiểu rủi ro hay không, thì hộ nông
dân sẽ cân nhắc chi phí bỏ ra có đem lại lợi ích mong muốn của họ không?
(v) Phần thu nhập mà những hộ nông dân sẽ nhận lại được bao nhiêu khi bỏ
ra khoản phí cho việc giảm thiểu rủi ro. Những hộ dân thích được bồi thường căn cứ
vào những tổn thất thực tế họ phải gặp phải, tức là sản lượng và doanh thu của họ ở
mức thấp. Một phần quan trọng khác là khi xảy ra thiệt hại thì họ cần được khoản
bồi thường kịp thời.
(vi) Cân nhắc giữa khoản phí bỏ ro để giảm thiểu rủi ro so với những chiến
lược quản trị rủi ro thay thế. Những nông hộ, trang trại nông nghiệp sẽ xem xét các
chiến lược quản trị rủi ro của họ như đa dạng hoá cây trồng, đầu tư vào lĩnh vực
khác trồng trọt như chăn nuôi, đầu tư thuỷ lợi, hoặc trồng ở những nơi khác nhau,…
có rẻ tiền và hiệu quả hơn so với khoản phí bỏ ra để giảm thiểu rủi ro không?

2.2.2. Bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển.
Những người ủng hộ bảo hiểm nông nghiệp như là một chiến lược đối phó
rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nó góp phần giúp nông dân có cách nhìn tốt hơn
về thay đổi mô hình sản xuất sao cho có lợi, tăng đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư
nhiều hơn cho sản xuất, cải thiện thu nhập và đảm bảo nguồn cung cấp lương thực

13
cho quốc gia. Khi có bảo hiểm nông nghiệp, các ngân hàng cũng tự tin hơn trong
việc cho vay sản xuất nông nghiệp và có thể tăng tín dụng cho vay xứng đáng với
khoảng thu nhập dự kiến của họ.
Chương trình bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được thực hiện chủ yếu thông
qua sự bao cấp của Chính phủ hoặc thông qua quan hệ đối tác công tư (PPP). Do vai
trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và vấn đề rủi ro trong sản
xuất nông nghiệp nên Chính phủ thường có sự can thiệp quản lý rủi ro. Thực tế, bảo
hiểm nông nghiệp thường nhận được sự trợ cấp lớn từ Chính phủ và có sự can thiệp
mạnh mẽ. Các can thiệp bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu nhằm mục đích là: bảo vệ
các hộ nông dân nghèo, các tổ chức tài chính cho vay sản xuất nông nghiệp, bảo
đảm các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, giảm dự trữ tài chính cho thiên tai cứu
trợ và phát triển mạng lưới an sinh xã hội tốt. Trong lịch sử, việc thực hiện bảo
hiểm cây trồng ở các nước thường bị thất bại do mức phí bảo hiểm thấp, xác định
bảo hiểm nông nghiệp chưa rõ ràng giữa mục tiêu thương mại và xã hội, thiếu quản
lý trong kiểm soát rủi ro và giám định tổn thất do thông tin bất cân xứng, chi phí
giao dịch cao và khả năng thanh toán của các công ty bao hiểm khi xảy ra các thảm
hoạ lớn. Tại Việt Nam, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp dựa trên mối
quan hệ phát triển đối tác công tư (PPP) và việc thực hiện bảo hiểm dựa vào chỉ số
(Trang, 2013).

2.2.3. Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số.
Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số được đưa vào thí điểm ở Việt Nam như là
một biện pháp bảo vệ thu nhập của người nông và sinh kế của họ trước những tác
động không mong muốn từ môi trường bên ngoài. Khi xảy ra rủi ro đối với một loại
cây trồng cụ thể được bảo hiểm thì khoanh vùng thiệt hại và xác định mức giảm thu
nhập(Phạm Khánh Nam, 2013).
Theo website: www.snvworld.org (2013), khi năng suất thực tế sụt giảm ít
nhất 90% so với năng suất bình quân trong 3 mùa vụ tương ứng của 3 năm gần nhất

14
và được cơ quan có tính pháp lý xác nhận do thiên tai dịch bệnh quy định trong hợp
đồng thì sẽ được công ty bảo hiểm theo chỉ số năng suất bồi thường.
Trong đợt thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Chính phủ đã có nhiều
chính sách hỗ trợ cho người nông dân nghèo và mức phí bảo hiểm cũng tương đối
phù hợp nhưng số lượng hợp đồng bảo hiểm cho người nghèo vẫn còn thấp do
người nông dân không sẵn lòng mua bảo hiểm để đối phó với rủi ro bởi vì: (i) với
những người hành xử theo theo kiểu ưa thích rủi ro, họ cho rằng họ có thể ước tính
xác suất xảy ra rủi ro một cách chính xác; (ii) đối với những người không ưa thích
rủi ro, họ cũng cho rằng xác suất xảy ra rủi ro thấp; hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên
khi cho rằng xác suất xảy ra thấp và vừa chấp nhận rủi ro (Phạm Khánh Nam,
2013).

2.2.4. Những rủi ro cơ bản.
Ngoài những ưu điểm của bảo hiểm theo chỉ số, thì cũng còn tồn tại một số
nhược điểm như sự khác nhau về năng suất của các nông hộ, những tổn thất thực tế
và số tiền người dân nhận được từ bảo hiểm, có khi những nông hộ bị thiệt hại
nhưng không được bồi thường hoặc ngược lại không bị thiệt hại nhưng vẫn được
bồi thường, những điều này trái với nguyên tắc trong bảo hiểm khi có thiệt hại mới
được bồi thường; ngoài ra, năng suất lúa ở một vùng rộng lớn thường có sự khác
biệt do những đặc điểm về thời tiết, triều cường, thỗ nhưỡng nên mức độ tổn thất và
số tiền bảo hiểm cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, việc bảo hiểm theo chỉ số này được
chấp nhận nhằm đánh đổi những rủi ro trên để có chi phí giao dịch thấp. Để giảm
thiểu những rủi ro này, một chương trình bảo hiểm theo khu vực được đưa ra; trong
đó, nông hộ mua bảo hiểm sẽ trả mức phí và nhận được là như nhau vì năng suất sẽ
dao động ở mức trung bình của khu vực. Rủi ro của bảo hiểm theo chỉ số thời tiết
thường cao hơn bảo hiểm theo chỉ số năng suất, do bảo hiểm theo chỉ số năng suất
có thể có nhiều mối đe doạ hơn (Smith và Watts, 2009).

15
2.3. THÁI ĐỘ VỚI RỦI RO, NHẬN THỨC RỦI RO VÀ NHU CẦU BẢO
HIỂM.
2.3.1. Thái độ với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm.
Thái độ đối với rủi ro là một quyết định lựa chọn quan trọng của một cá
nhân, hoạt động nông nghiệp ở các nước đang phát triển chịu nhiều rủi ro trong sản
xuất.Theo Ellis (1988), mô hình lý thuyết về thái độ của nông hộ đối với rủi ro
trong SXNN đã chỉ ra rằng: những nông hộ có mức thu nhập thấp thường sợ rủi ro
nên họ thường sử dụng không hiệu quả các nguồn lực trong SXNN và thích sản
xuất an toàn hơn là việc chấp nhận đầu tư rủi ro để đạt được tối đa hoá lợi nhuận
như sử dụng phân bón, máy móc, đổi mới trong canh tác,… nhằm ổn định thu nhập,
điều đó có thể ảnh hưởng đến những nổ lực làm giảm rủi ro trong sản xuất. Những
nông hộ có chấp nhận đánh đổi những rủi ro gặp phải với lợi ích kỳ vọng hay không
phụ thuộc vào thái độ của họ đối với rủi ro.
Trong nghiên cứu về cây cacao ở Bờ Biển Ngà, Kouame và Komenan (2012)
cho rằng sự lo ngại về rủi ro ảnh hưởng tích cực đến giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm
cacao của nông hộ; Galarza và Carter (2010), trong một nghiên cứu ở Peru đã chỉ ra
rằng có mối quan hệ giữa sự lựa chọn các loại bảo hiểm và mức độ ưa thích rủi ro
của nông hộ. Trong khi đó, nghiên cứu của Clarke (2012) về lợi ích mà bảo hiểm
mang lại cho người dân nông thôn ở Bangladesh thì không có ý nghĩa thống kê của
mối quan hệ giữa sự lo ngại rủi ro và quyết định mua bảo hiểm của nông hộ.

2.3.2. Sự nhận thức đối với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm.
Những nông hộ có quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro hay không
phụ thuộc vào khả năng nhận thức xảy ra và kích thước (mức độ nghiêm trọng) xảy
ra rủi ro, sự nhận thức này thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như kinh
nghiệm trong quá khứ, độ tuổi, giới tính, những thông tin hậu quả về rủi ro có thể
xảy ra (Zweifel & Eisen, 2012).

16
Nếu cá nhân cho rằng khả năng xảy ra rủi ro là thấp thì họ thường là tự bảo
vệ mình trước những rủi ro, khi đó nhu cầu bảo hiểm thấp dần(Petrolia và cộng sự,
2011).
Hộ gia đình sẽ chi tiêu đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giảm nhẹ sự mất mát
tiềm năng nếu như nó ảnh hưởng lớn mức thu nhập của nông hộ, cùng với tần suất
xảy ra mất mát (biến động năng suất) và kinh nghiệm trong quá khứ về mất mát do
rủi do có thể làm tăng nỗ lực giảm nhẹ sự mất mát đó (Smith & Watts, 2009).
Cách tốt nhất để biết quan điểm của nông hộ về nhận thức những rủi ro trong
hoạt động SXNN cũng như việc mua BH giảm nhẹ sự mất mát do rủi ro đó là hỏi
trực tiếp họ nhận thức như thế nào về những rủi ro xung quanh họ; đồng thời,
Weerdt (2005) cũng đã đưa ra mô-đun về sự nhận thức rủi ro để giúp xác định xác
suất sản lượng trong tương lai với các hoạt động cụ thể, trong đó nông hộ được
khuyến khích suy nghĩ về những rủi ro liên quan đến từng hoạt động như vậy, việc
xây dựng các cận trên và cận dưới của sự nhận thức sẽ giúp biết được nhận thức của
một người đối với các rủi ro liên quan đến đời sống sản xuất xung quanh họ”
(Weerdt, 2005).

2.4. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU BẢO HIỂM.
2.3.1. Các chiến lược quản trị rủi ro.
Quản trị rủi ro là nhằm tìm ra cách quản lý tốt hơn các rủi ro và hạn chế nó,
nhất là các nguy cơ tiềm ẩn, từ đó có sự chuẩn bị thích hợp để hạn chế những rủi ro
xảy ra ở mức thấp nhất.Theo Ramasubramanian (2012), trong sản xuất nông nghiệp,
những nông hộ thường quản lý các rủi ro bằng các biện pháp như đa dạng hoá cây
trồng, tổ chức bao đê, thuỷ lợi hoặc làm các công việc khác để có thu nhập thêm
ngoài nông nghiệp nếu như họ cảm thấy chi tiền cho các hoạt động này có hiệu quả
hơn mua bảo hiểm nông nghiệp. Ngoài ra, những nông hộ nào có tham gia vào các
tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ chức cho vay tiết kiệm,...cũng có thể ảnh hưởng
đến khả năng mua bảo hiểm của họ (Clarke, 2011).

17

2.3.3. Những nhân tố khác ảnh hưởng đến WTJ và WTP.
Khi đứng trước những lựa chọn về việc có tham gia mua bảo hiểm hay
không?Những nông hộ thường xem xét những khả năng có thể xảy ra thiệt hại để
đưa ra quyết định tham gia mua bảo hiểm nhằm tối đa hóa phúc lợi của mình (Phạm
Lê Thông, 2013). Đồng thời trong nghiên cứu về giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây
lúa theo chỉ số năng suất được thực hiện ở tỉnh Đồng Tháp của Trang (2013) cũng
cho kết quả tương tự là những nông hộ nào từng bị ảnh hưởng ngập lũ lớn trong quá
khứ sẽ tăng khả năng tham gia mua bảo hiểm cây lúa.
Những nông hộ có nhu cầu mua BHNN khi họ có nguy cơ đối diện với rủi ro
cao trong SXNN, những rủi ro này xuất phát từ thời tiết, khu vực; khi những nông
hộ đã lựa chọn mua bảo hiểm rồi thì có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm
giải pháp né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm (Quiggin và cộng sự,
1993).Đồng thời, trong nghiên cứu khoa học của Trang (2013) cũng đã chỉ ra rằng
những nông hộ cho rằng năng suất thấp hơn năng suất trung bình của xã sẽ cho kết
quả tích cực trong việc tham gia mua bảo hiểm của nông hộ.
Quyết định mua bảo hiểm của nông hộ phụ thuộc vào nhận thức xảy ra,
những kinh nghiệm trong quá khứ về qui mô, thông tin hậu quả có thể xảy ra
(Zweifel & Eisen, 2012).
Có sự tương quan giữa sự hiểu biết về sản phẩm BHNN và mong muốn tham
gia bảo hiểm của nông hộ. Khi những nông hộ nhận thấy những mất mát tiềm
năngảnh hưởng càng lớn đến thu nhập, tài sản thì càng ảnh hưởng lớn đến quyết
định tham gia mua BHNN (Path và cộng sự, 2010).
Ở các nước đang phát triển, những nông hộ có mức thu nhập thấp lại sẵn
sàng đầu tư một phần chi phí để chống lại các rủi ro vì nó có thể ảnh hưởng lớn đến
tài sản, thu nhập của họ (Smith & Watts, 2009).
Kết quả nghiên cứu của Vandeveer (2001) về cầu đối với bảo hiểm mùa vụ
trồng vảicủa nông dân ở miền Bắc Việt Nam chỉ ra rằng: những nông hộ có thu

18
nhập cao và những nông hộ đã từng bị mất mùa trong sản xuất sẵn lòng tham gia
mua bảo hiểm nhiều hơn.Trong khi đó, các yếu tố về đặc điểm cá nhân, đặc điểm
nông hộ ít có ảnh hưởng đến quyết định tham gia mua bảo hiểm.
Trong nghiên cứu của Christiaensen & Sarris (2007) về nhu cầu bảo hiểm
hạt điều và cà phê của nông hộ ở Tanzania cho kết quả là tỷ trọng của thu nhập từ
các loại cây trồng này trong tổng thu nhập của nông hộ biến đổi cùng chiều với khả
năng tham gia mua bảo hiểm.
Những nông hộ có tham gia các tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ chức cho
vay tiết kiệm cũng có ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm (Clarke, 2011).
Nhưng theoRamasubramanian (2012) thì yếu tố tiền tiết kiệm, khả năng vay
mượn và thu nhập khác ngoài thu nhập từ nông nghiệp cũng có ý nghĩa thống kê
cao ảnh hưởng đến việc tham gia mua bảo hiểm.
Theo Dercon và cộng sự (2008), đối với những nông hộ ở các nước đang
phát triển thì sự hiểu biết và tin tưởng về các sản phẩm mới (sản phẩm BHNN theo
chỉ số) có thể làm hạn chế mức độ mua bảo hiểm của nông hộ, nhưng khi sự hiểu
biết về công ty bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm sẽ làm gia tăng sự tham gia mua bảo
hiểm; và cũng trong nghiên cứu của Patt và cộng sự (2010) có mối tương quan giữa
mong muốn mua bảo hiểm với mức độ hiểu biết sản phẩm bảo hiểm.
Theo Trang (2013), dựa trên những nghiên cứu của Binswanger-Mkhize
(2012), Clarke & Kalani (2011), Smith & Watts (2009) cho rằng: những nông hộ
xem xét tính hiệu quả, chi phí, lợi ích, chiến lược sẵn có của chiến lược quản trị rủi
ro (như tiết kiệm, vay, ký kết với các công ty NN, tham gia các tổ chức xã hội,…)
so với việc mua BH, sau đó nông hộ mới quyết định đến việc sẵn sàng chi trả mức
phí BH.
Trong nghiên cứu của Ramasubramanian (2012), ông chỉ ra rằng các yếu tố
về kinh tế - xã hội, qui mô diện tích đất, thái độ với rủi ro, tính năng của sản phẩm
ảnh hưởng đáng kể đến WTJ. Trong đó, diện tích đất là một yếu tố quan trọng cho
việc phân tích sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây trồng ở Ấn Độ. Đồng thời, ông

19
cũng cho rằng nếu nông hộ trồng nhiều hơn 1 loại cây trồng sẽ làm tăng khả năng
sẵn sàng lên 18,6%.
Từ những nghiên cứu của Clarke (2011), Phạm Lê Thông (2013), Path và
cộng sự (2010), Quiggin và cộng sự (1993), Ramasubramanian (2012), Smith và
Watts (2009), Trang (2013), Vandeveer (2001), Zweifel và Eisen (2012) ở trên, đề
xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia mua bảo hiểm của nông hộ
như sau:

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất WTJ
inufarm2

natural20

Rineutral

buyagri51

riceinsurance

WTJ

socialnet

higherpro

income

mitigation1

Trong đó:
-

WTJ: Sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm.

-

inufarm2:= 1 nếu ruộng có bị ngập lớn như năm 2000, = 0 ngược lại.

-

natural20: Biến liên tục: khả năng xảy ra thiên tai/dịch bệnh làm mất mùa.

-

Rineutral: =1 bàng quan với rủi ro nhưng ghét mất mát, =0 ngược lại.

-

buyagri51: =1 đã từng ứng phó rủi ro bằng mua BHNN, =0 ngược lại.

-

riceinsurance: =1 có mua BH cây lúa, =0 ngược lại.

-

socialnet: Biến liên tục: Tham gia các tổ chức xã hội.

20

-

higherpro: =1 nghĩ năng suất cao hơn các hộ khác, =0 ngược lại.

-

income: Biến liên tục: Thu nhập của nông hộ.

-

mitigation1: Hộ có biện pháp đối phó lũ lớn không.

Từ những tổng quan lý thuyết ở trên có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả của
nông hộ như: rủi ro, thu nhập ngoài trồng lúa, sử dụng các biện pháp đối phó rủi ro
trong sản xuất nông nghiệp (như tiết kiệm, ký kết với công ty vật tư nông nghiệp),
sản xuất 3 vụ sẽ gặp rủi ro hơn 2 vụ, thu nhập có ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả
mua bảo hiểm và sự hiểu biết của nông hộ về sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số năng
suất; cùng với mô hình nghiên cứu trước đã thực hiện về giá sẵn lòng trả cho bảo
hiểm cây lúa ở Đồng Tháp của Trang (2013) gồm có 7 biến độc lập. Đồng thời,
trong kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian (2012), ông chỉ ra rằng diện tích
đất là một yếu tố quan trọng cho việc phân tích sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây
trồng ở Ấn Độ. Từ đó, tôi xuất mô hình nghiên cứu bao gồm 8 biến độc lập có ảnh
hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) như sau:
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu WTP trong đề tài

risk2

nomfarm

save51

contactco51

WTP

seasons

income

knowledge

landrice

21
Trong đó:
-

WTP: Giá sẵn lòng trả

-

risk2: Mức độ chấp nhận rủi ro của nông hộ.

-

nomfarm: =1 có hoạt động ngoài trồng lúa, =0 ngược lại.

-

save51: =1 nếu từng tiết kiệm để ứng phó rủi ro, =0 ngược lại.

-

contactco51: =1 có ký kết với công ty nông nghiệp, =0 ngược lại.

-

seasons: =1 sản xuất 2 vụ lúa/năm, =0 ngoài ra.

-

income: Biến liên tục: thu nhập của nông hộ.

-

knowledge: Mức độ hiểu biết về BH.

-

landrice: Diện tích đất lúa.

Biến độc lập
(Xi)

Mô tả biến

Dấu
kỳ
vọng

Answer1

Biến liên tục: Câu trả lời ở mức giá khởi điểm

-

Answer2

Biến liên tục: Câu trả lời ở mức giá lần thứ 2

-

Bid1

Biến liên tục: Mức giá khởi điểm

-

Bid2

Biến liên tục: Mức giá lần thứ 2

-

Buyagri51

Biến giả: =1 nếu đã từng ứng phó rủi ro bằng mua BHNN,
=0 ngược lại

+

Contactco51

Biến giả: =1 nếu đã từng ứng phó rủi ro bằng ký kết với
công ty nông nghiệp, =0 ngược lại.

-

Higherpro

Biến giả:nghĩ rằngnăngsuất cao hơn người khác = 1, ngược
lại =0

-

Income

Biến liêntục: Thunhậpcủahộ (triệu/năm)

+

Insured

Biến giả: nếu đã từngmuaBH = 1 , ngượclại 0

+

Inufarm2

Biến giả: nếuruộngbị ngậplớnnhư năm2000 =1, ngược lại= 0

+

knowledge

Biến liên tục: mức độ hiểu biết về sản phẩm bảo hiểm

+

Landrice

Biến liêntục: diệntích đấttrồnglúa(công= 1000m2)

-