Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VHDN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VHDN

Tải bản đầy đủ

5
ngoài kinh tế, sống được nhờ sự trợ cấp của nhà nước và ăn theo nền kinh tế
(Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009, trang 10).
Khi phân loại căn cứ theo hình thức biểu hiện, văn hóa được phân loại thành
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn theo cách phân loại này văn
hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Các đền chùa, cảnh quan di tích
lịch sử cũng như các sản phẩm văn hóa truyền thống như đồ gốm tranh, tượng, các
loại trang phục….đều thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy sự phân loại trên
cũng chỉ có nghĩa tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thường có cả yếu tố
“vật thể” và “phi vật thể” (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009).
Như vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó có những giá trị vật chất và tinh
thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành
động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái
mỹ trong mối quan hệ giữa người và người, giữa người với tự nhiên và môi trường
xã hội.
Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra
một định nghĩa được nhiều quốc gia thừa nhận và ứng dụng: “Văn hóa là tổng thể
sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại hình thành một hệ thống
các giá trị truyền thống và thị hiếu. Văn hóa đó xác định từng đặc trưng riêng của
dân tộc”.
Từ những đặc trưng và nhận định có thể rút ra văn hóa như sau: “Văn hóa là
toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử”.
1.1.2 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia
đó ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành lĩnh vực văn hóa đặc thù như văn
hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình…và văn hóa
kinh doanh.
Văn hóa là một công cụ quan trọng và không thể thiếu trong quản lý điều
hành, bất kể đó là điều hành một quốc gia, một xã hội, một doanh nghiệp hay một
cơ quan. Người ta không thể quản lý điều hành tốt mà không sử dụng công cụ văn

6
hóa. Về mặt khoa học quản trị, việc quản trị một doanh nghiệp hay một quốc gia
điều có những nét tương đồng. Người ta thường sử dụng pháp luật và văn hóa xã
hội như hai công cụ quan trọng để quản lý một quốc gia.Và cũng tương tự người ta
có thể dùng quy chế và văn hóa doanh nghiệp để quản lý một doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới bắt đầu
tìm hiểu và nghiên cứu từ thập niên 70 của thế kỷ 20 sau thành công của các doanh
nghiệp Nhật Bản có nền tảng dựa vào văn hóa doanh nghiệp giới doanh nhân.
Khái niệm văn hóa doanh nghiệp có nhiều định nghĩa nhưng vẫn chưa có định
nghĩa chuẩn nào được công nhận chính thức.
Theo chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã cho rằng văn hóa
doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng huyền thoại, nghi thức các điều
cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức nền móng sâu xa của DN. Trong khi đó tổ
chức lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như là một sự
trộn lẫn giá trị, tiêu chuẩn, thói quen, truyền thống, những ứng xử và lễ nghi mà
toàn bộ chúng ta là duy nhất với một tổ chức đã biết. Hoặc theo (Kotter và Heskett,
1992) văn hóa tổ chức tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và
cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong
thời gian dài.
Như vậy văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần được
gầy dựng nên trong suốt quá trình hình thành tồn tại và phát triển của một doanh
nghiệp. Các giá trị đó trở thành quan niệm tập quán truyền thống ăn sâu vào hoạt
động của doanh nghiệp và chi phối đến tình cảm, nếp suy nghĩ niềm tin, lý tưởng,
hành vi mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu chung.
Văn hóa doanh nghiệp là một trong những yếu tố gắn kết lợi ích cá nhân với lợi ích
tập thể, hưởng hành vi cá nhân vào việc thực hiện tốt nhất mục tiêu và sự kỳ vọng
của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là sản phẩm của những người làm cùng
trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Văn hóa doanh nghiệp
xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người trong doanh nghiệp chấp nhận, đề
cao, chia sẻ và ứng xử theo các giá trị đó.

7
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp và được coi là
bản sắc đặc trưng riêng của mỗi doanh nghiệp, VHDN liên quan đến các nhận thức
những gì mà thấy và nghe được. Với cách hiểu như vậy, khái niệm VHDN có thể
định nghĩa như sau: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa giá trị, niềm tin chủ đạo,
cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp
đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng
thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh
nghiệp đó.
Tóm lại văn hóa doanh nghiệp là những đặc trưng, bản sắc cá tính nét riêng cơ
bản để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Đồng thời VHDN là
những chuẩn mực hành vi, hệ thống giá trị mà tất cả những người trong doanh
nghiệp đó phải tuân theo hoặc bị chi phối.
1.2 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp
Các yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp không phải nguồn vốn
nhiều hay ít sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi việc tổ chức những
con người như thế nào, nguồn nhân lực luôn là tài sản quý giá nhất của mỗi
doanh nghiệp. Con người có thể đi lên từ tay không nhưng không bao giờ từ tay
không về văn hóa. Văn hóa chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc cuối cùng do
vậy xuất phát điểm của doanh nghiệp sẽ rất cao nếu nó được xây dựng trên nền
tảng văn hóa. Các doanh nghiệp khi xây dựng đều phải có nhận thức và niềm tin
triệt để khi đó văn hóa sẽ xuất hiện.
Văn hóa doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp, thể hiện qua các mặt sau:
Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như:
chất lượng sản phẩm, chi phí, sự linh hoạt, thời gian giao hàng….để có được những
lợi thế này doanh nghiệp phải có được những nguồn lực như nhân lực tài chính
công nghệ. Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệu đóng vai trò lợi thế so
sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng. Nguồn nhân lực đóng vai trò tham

8
gia toàn bộ quá trình chuyển hóa các nguồn lực khác thành sản phẩm đầu ra vì vậy
có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranh như chất
lượng sản phẩm, thời gian giao hàng.
Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa. Nó
ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách,
nó tạo ra định hướng có tính chất chiến lược đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc
thực hiện thành công chiến lược cho bản thân doanh nghiệp. Môi trường văn hóa
của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ động cơ
lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động vào các yếu tố khác
Văn hóa doanh nghiệp là một nguồn lực của doanh nghiệp
Mục tiêu của văn hóa doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cách quản
trị hiệu quả đưa hoạt động của doanh nghiệp vào nề nếp và xây dựng mối quan hệ
hợp tác thân thiện giữa các thành viên của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp trở
thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác tin cậy, gắn bó, thân thiện và
tiến thủ. Trên cơ sở đó hình thành tâm lý chung và lòng tin vào sự thành công của
doanh nghiệp, do đó xây dựng một nền nếp văn hóa lành mạnh tiến bộ trong tổ
chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Mỗi công ty đều
có một hệ thống giá trị, một bản sắc riêng.
Văn hóa doanh nghiệp giữ chân người tài giỏi
Sự cạnh tranh trong môi trường kinh doanh của Việt Nam những năm gần
đây ngày càng cao. Người lao động có nhiều sự lựa chọn công việc hơn trước do
vậy việc biến động nhân lực là điều không thể tránh khỏi. Để giữ chân và phát huy
hết năng lực của nhân viên thì ngoài lương , các khoản phúc lợi xã hội và cơ hội
thăng tiến thì người lao động còn quan tâm đến văn hóa doanh nghiệp của doanh
nghiệp có phù hợp không, có cảm thấy thoải mái khi công tác không đó là các yếu
tố gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên bản sắc của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp và phân biệt với
các doanh nghiệp khác, các thế hệ thành viên đã cùng chung tay xây dựng bảo tồn

9
bản sắc văn hóa doanh nghiệp qua nhiều thế hệ thành viên tạo ra khả năng phát triển
bền vững của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp thành công là những doanh nghiệp chú trọng xây dựng
tạo ra môi trường văn hóa khác biệt với VHDN khác. Bản sắc văn hóa là phương
thức sinh hoạt và hoạt động chung của doanh nghiệp. Tạo ra môi trường hoạt động
chung của doanh nghiệp bầu không khí tình cảm, sự giao lưu mối quan hệ và ý thức
trách nhiệm, tinh thần hợp tác phối hợp trong thực hiện công việc.
Văn hóa ảnh hưởng tới hoạch định chiến lược
Văn hóa tổ chức ảnh hưởng tới hoạch định chiến lược phát triển của tổ chức
chọn lọc thông tin thích hợp áp dụng kinh nghiệm, mô hình phù hợp đặt ra những
mức tiêu chuẩn theo giá trị của tổ chức, cung cấp những tiêu chuẩn, nguyên tắc cho
các hoạt động. Hoạch định chiến lược phát triển của tổ chức sẽ giúp cho các thành
viên thấy hết các vai trò của họ trong tổ chức, cung cấp những cơ sở quan trọng để
các thành viên tổ chức hiểu được môi trường vị trí của họ và vị trí của doanh nghiệp
trong môi trường, tạo được cam kết cao của các thành viên trong tổ chức, yếu tố
quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng suất lao động của tổ chức.
Văn hóa doanh nghiệp thu hút nhân tài và tăng cường sự gắn bó của người
lao động
Văn hóa doanh nghiệp phát triển hiệu quả sẽ góp phần nâng cao lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp, đưa hình ảnh của doanh nghiệp ra ngoài bởi việc quản lý
chặt chẽ và hiệu quả các hoạt động truyền thông đại chúng đối với doanh nghiệp
cũng như sự thành công thực tế của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh.
Những thành công sẽ giúp doanh nghiệp thu hút nhân tài vào làm việc bằng chính
VHDN ổn định rõ ràng, có tính định hướng cao sẽ giúp cho doanh nghiệp giữ lại
người lao động ở lại với mình lâu hơn, có ý muốn gắn bó và phát triển lâu dài cùng
doanh nghiệp do họ tìm thấy môi trường làm việc ổn định phù hợp và có tương lai.
Văn hóa doanh nghiệp tạo động lực làm việc
Văn hóa doanh nghiệp chính là sự gắn kết giữa cá nhân với doanh nghiệp
bằng mối liên hệ giữa công việc mà họ đang làm đối với nỗ lực đạt được mục tiêu

10
của doanh nghiệp thông qua việc thực thi các chính sách của chiến lược để tiến đến
mục tiêu. Văn hóa doanh nghiệp chỉ cho các thành viên thấy sự đóng góp của họ đối
với việc hoàn thành tốt công việc của mình.
Văn hóa doanh nghiệp được thúc đẩy bởi sự lãnh đạo hiệu quả nếu một
người lãnh đạo biết chú trọng và phát triển VHDN họ sẽ xây dựng phương thức và
hệ thống làm việc hiệu quả để giúp nhân viên thực hiện tốt công việc như hệ thống
thông tin, các phương thức phân quyền và giao việc hiệu quả hay là xây dựng một
môi trường làm việc cởi mở, thuận lợi. Chính những điều đó đã góp phần tạo động
lực thúc đẩy nhân viên làm việc.
Ngoài ra, một môi trường văn hóa doanh nghiệp ổn định, thuận lợi sẽ giúp
cho các thành viên thấy gắn bó và nhìn thấy tương lai của họ trong tương lai của
doanh nghiệp và vì vậy họ càng nỗ lực để hoàn thành công việc, góp phần tạo nên
sự thành công cho doanh nghiệp.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa doanh nghiệp
Quá trình hình thành văn hóa doanh nghiệp là một quá trình lâu dài và chịu sự
tác động của nhiều yếu tố trong đó 3 yếu tố có ảnh hưởng quyết định nhất là văn
hóa dân tộc, văn hóa vùng miền, nhà lãnh đạo và sự học hỏi từ môi trường bên
ngoài.
1.3.1 Văn hóa dân tộc-văn hóa vùng miền
Trong một dân tộc có nhiều con người cụ thể, mỗi cá nhân đến từ một dân tộc,
một vùng miền nhất định và họ sẵn mang trong mình truyền thống văn hóa của dân
tộc, vùng miền đó. Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp tất yếu mang những đặc
điểm chung nhất của văn hóa dân tộc văn hóa vùng miền, thừa hưởng những đặc
trưng của các nền văn hóa đó. Tổng hòa những giá trị văn hóa dân tộc, vùng miền
tạo nên một phần giá trị trong văn hóa doanh nghiệp.
Các tập đoàn kinh tế lớn, các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia có nhiều
đơn vị thành viên, chi nhánh hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau hoặc nhiều vùng
miền khác nhau trong một quốc gia. Bên cạnh những giá trị văn hóa chung của tập
đoàn, công ty mẹ, mỗi chi nhánh, doanh nghiệp thành viên sẽ phải chịu sự tác động

11
của bản sắc văn hóa dân tộc, vùng miền tại nơi hoạt động sản xuất kinh doanh. Do
vậy cùng chung tập đoàn, công ty mẹ nhưng mỗi đơn vị thành viên hoạt động ở
những địa bàn địa lý khác nhau cũng sẽ có những giá trị văn hóa khác biệt trong văn
hóa doanh nghiệp.
1.3.2 Nhà lãnh đạo
“Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của
doanh nghiệp, mà còn là người quyết định các biểu tượng, ngôn ngữ ứng xử, nghi
lễ…của doanh nghiệp. Qua quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, hệ tư
tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ phản chiếu lên văn hóa doanh nghiệp”
(Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009, trang 273).
Người sáng lập hay nhà lãnh đạo là người sáng lập với vai trò là thành lập văn
hóa của doanh nghiệp. Phong cách lãnh đạo là một trong những yếu tố cấu thành
văn hóa doanh nhân, người quyết định vận mệnh của một doanh nghiệp cũng là
người tạo lập các giá trị văn hóa doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp muốn mở
rộng phạm vi hoạt động VHDN sẽ là chất keo kết dính mọi người hướng đến mục
đích chung qua sự điều hành các nhà lãnh đạo. Tuy nhiên trong một doanh nghiệp
các thế hệ lãnh đạo khác nhau cũng sẽ tạo ra những giá trị khác nhau.
1.3.3 Những giá trị văn hóa tích luỹ
Có những giá trị văn hóa doanh nghiệp không thuộc về văn hóa dân tộc, cũng
không phải do nhà lãnh đạo sáng tạo ra mà do tập thể nhân viên trong doanh nghiệp
tạo dựng chúng hình thành hoặc vô thức hoặc có ý thức ảnh hưởng của chúng đến
hoạt động của doanh nghiệp.
Những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp: đây là những kinh nghiệm có
được khi xử lý các vấn đề chung, sau đó chúng được tuyên truyền và phổ biến
chung trong toàn đơn vị và tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ nhân viên mới.
Đó có thể là những kinh nghiệm về giao dịch với khách hàng, về phục vụ yêu cầu
của khách hoặc cũng có thể là kinh nghiệm ứng phó với những thay đổi.
Những giá trị được học hỏi tử các doanh nghiệp khác: đó là kết quả của quá
trình nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, của những chương trình

12
giao lưu giữa các doanh nghiệp trong một ngành, của những khóa đào tạo mà doanh
nghiệp này mở cho nhân viên ở doanh nghiệp khác tham gia qua đó sẽ có một nhóm
nhân viên của doanh nghiệp tiếp thu những giá trị và truyền lại cho đồng nghiệp
khác hoặc những người này tự ý tiếp thu chúng. Sau một thời gian, các giá trị trở
thành “tập quán” chung cho toàn doanh nghiệp.
Những giá trị do thành viên mới đến mang lại: các thành viên mới khi gia
nhập vào tổ chức sẽ đem đến những giá trị văn hóa mới. Những giá trị đó có thể từ
tổ chức trước kia họ từng tham gia hoặc những giá trị tích lũy từ kinh nghiệm sống
và làm việc của họ. Đó có thể là niềm tin những hành vi giao tiếp những cách ứng
xử trong tổ chức. Những giá trị đó nếu phù hợp với văn hóa của doanh nghiệp sẽ
được chấp nhận, giữ lại tạo điều kiện phát huy và sẽ phong phú thêm bản sắc văn
hóa doanh nghiệp
Những xu hướng hoặc trào lưu của xã hội: văn hóa doanh nghiệp cần phải thay
đổi cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội. Nếu văn hóa doanh nghiệp không có sự
điều chỉnh thay đổi của xã hội thì văn hóa doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị lạc hậu,
cản trở sự phát triển của doanh nghiệp
1.4 Đặc trưng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp
1.4.1 Đặc trưng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều hình thành nên văn hóa một cách
tự nhiên. Một nền văn hóa thích hợp, mang đặc trưng riêng sẽ đưa doanh nghiệp đi
đến thành công và ngược lại có thể là nguyên nhân dẫn đến thất bại. Có nhiều cách
tiếp cận trong việc nhận diện một nền văn hóa mạnh của văn hóa doanh nghiệp.
-Cách tiếp cận thứ nhất các nhà quản lý cùng nhân viên chia sẻ các giá trị và
có phương thức nhất quán trong việc tiến hành các hoạt động của mình. Văn hóa
mạnh được biểu hiện qua “bản sắc riêng” và “sự khác biệt mang tính vượt trội”.
Một nền văn hóa được xem là “mạnh”nếu đáp ứng được các đặc tính cơ bản sau:
+Sẽ có ảnh hưởng, chi phối sâu rộng đối với thành viên tổ chức trong việc
thực hiện mục tiêu chung. Do vậy cũng có thể nói là sự nhất trí chia sẻ các giá trị
văn hóa thể hiện qua văn hóa chung trong tổ chức

13
+Có tính kế thừa, truyền thống, nền tảng quá khứ
+Có đặc trưng riêng, gần gũi
+Năng động và có khả năng tự thích ứng để phát triển
-Cách tiếp cận thứ hai, người lãnh đạo “mạnh” sẽ tạo ra “văn hóa mạnh”, đồng
thời được xác định qua hai nhân tố chủ yếu: sự chia sẻ và cường độ
+Sự chia sẻ: đề cập tới mức độ mà các thành viên trong tổ chức có cùng nhận
thức chung về những giá trị cốt lõi. Sự chia sẻ này bao hàm những yếu tố đa dạng,
thậm chí là khác nhau, nhưng sẽ hòa hợp trong một sự phát triển chung và làm
phong phú thêm những giá trị cốt lõi
+Cường độ: là mức độ tích cực, tự giác, nhiệt tình đã trở thành thói quen, tập
quán của các thành viên tổ chức trong việc hành xử theo các giá trị cốt lõi.
Như vậy, việc nghiên cứu lý luận không phải để hình thành một văn hóa tổ
chức chung chung, mà chính là để xây dựng, duy trì một nền văn hóa tổ chức mạnh,
có tính thích nghi để phát triển.
Trong hai cách tiếp cận nêu trên, cách thứ nhất mang tính định tính để nhận
diện được một nền văn hóa mạnh; cách thứ hai mang tính định lượng để nghiên cứu
đánh giá mức giá mức độ mạnh/yếu của nền văn hóa đó.
1.4.2 Đặc thù của văn hóa doanh nghiệp đối với ngành ngân hàng
Ngày nay, văn hoá doanh nghiệp có thể được coi là một loại tài sản vô hình
trên cơ sở sự kết hợp hài hoà các yếu tố cần thiết trong mỗi doanh nghiệp, tạo sự
gắn kết từng cá thể trong tập thể doanh nghiệp, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con
người, làm gia tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, góp phần
vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp; một doanh nghiệp có văn hóa mạnh
sẽ tạo ra được sự thống nhất và tuân thủ cao của mọi thành viên đối với tổ chức;
mặt khác xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu của chính sách
phát triển thương hiệu vì thông qua hình ảnh VHDN sẽ góp phần quảng bá thương
hiệu của doanh nghiệp.
NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) trải qua 58 năm hình thành
và phát triển. BIDV đã có những giá trị văn hóa cốt lõi truyền thống, BIDV hiểu

14
rằng người lao động, uy tín cá nhân và danh tiếng ngân hàng là tài sản vô giá, là sức
mạnh nền tảng tạo nên mọi thành công đồng thời đang tiếp tục đẩy mạnh tuyên
truyền, phổ biến và tiếp tục hoàn thiện VHDN, coi đây là yếu tố phát triển bền
vững, luôn chú trọng tới đạo đức kinh doanh trong quá trình phát triển hoạt động,
bên cạnh đó BIDV luôn thực hiện tốt nhất các trách nhiệm thuộc về mình.
Đối với cộng đồng xã hội, BIDV dành sự quan tâm và chủ động tham gia có
trách nhiệm các chương trình, hoạt động xã hội, cống hiến cho lợi ích và sự phát
triển cộng đồng.
Đối với người lao động, BIDV cam kết tạo lập môi trường làm việc chuyên
nghiệp, tạo cơ hội làm việc và phát triển nghề nghiệp bình đẳng, đồng thời thúc đẩy
năng lực và niềm đam mê trong mỗi người lao động.
Đối với khách hàng/đối tác và các bên liên quan khác, BIDV luôn nỗ lực để
xây dựng mối quan hệ đối tác chuyên nghiệp, tin cậy và lâu dài; qua đó thực hiện
đầy đủ các cam kết và thoả mãn cao nhất các yêu cầu của họ. Việc khách hàng chọn
lựa một ngân hàng cung cấp dịch vụ tài chính không chỉ đơn thuần là chất lượng
dịch vụ, phí dịch vụ được đảm bảo theo cam kết mà ngân hàng còn phải luôn là
người bạn đồng hành tin cậy cho quyết định về tài chính của khách hàng.
1.5 Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp có thể phân tích thành nhiều cấp độ khác nhau, trong
đó thuật ngữ “cấp độ” thể hiện mức độ nhìn nhận được các hiện tượng văn hóa của
người quan sát. Các cấp độ này đi từ những biểu hiện hữu hình, có thể nhìn thấy và
cảm nhận được cho đến bản chất của văn hóa đó là các giả định đã ăn sâu trở thành
vô thức được cho là giá trị cốt lõi của văn hóa. Từ những quan điểm này văn hóa
doanh nghiệp có thể chia làm 3 cấp độ khác nhau:
1.5.1 Cấp độ thứ 1 – Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh
nghiệp
Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp là những cái thể hiện
được ra bên ngoài rõ ràng những hiện tượng và sự vật mà ta có thể nhìn, nghe và
cảm thấy khi tiếp xúc với một doanh nghiệp như: kiến trúc xây dựng trụ sở, nội thất,

15
thiết kế phòng ban làm việc, hệ thống dây chuyền công nghệ, sản phẩm. Các hình
thức lễ nghi lễ hội hàng năm, các biểu tượng, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo. Tiếp
theo là các câu chuyện, huyền thoại của tổ chức, mẫu mã của sản phẩm, thái độ và
cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức đó.
Đây là cấp độ văn hóa có thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, nhất
là những yếu tố vật chất như: kiến trúc, bài trí, đồng phục….cấp độ một này chịu
ảnh hưởng nhiều của tính chất công việc kinh doanh của công ty.
1.5.2 Cấp độ thứ 2 – Những giá trị được tuyên bố (bao gồm các chiến lược,
mục tiêu, triết lý doanh nghiệp)
Doanh nghiệp nào cũng có quy định, nguyên tắc, triết lý, chiến lược, tầm nhìn
sứ mệnh và mục tiêu riêng được công bố công khai để mọi thành viên của doanh
nghiệp nỗ lực thực hiện. Đây là kim chỉ nam hoạt động của toàn bộ nhân viên được
doanh nghiệp công bố rộng rãi ra công chúng. Những giá trị này cũng có tính hữu
hình vì có thể nhận biết và diễn đạt một cách rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện
chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với
các tình huống cơ bản và huấn luyện ứng xử cho các thành viên mới trong môi
trường doanh nghiệp.
1.5.3 Cấp độ thứ 3 – Những quan niệm chung
Những quan niệm chung trong VHDN cũng như trong văn hóa nói chung
được hình thành và tồn tại sau quá trình hoạt động, xử lý, sàng lọc các tình huống
thực tiễn trong một thời gian dài. Không thể nhìn thấy được, cũng không được nêu
ra nhưng mọi người đều làm theo đó là những niềm tin nhận thức, suy nghĩ đã ăn
sâu vào tiềm thức của mỗi thành viên trong doanh nghiệp nên mặc nhiên được công
nhận.
Các quan niệm chung này là cơ sở cho các hành động, định hướng sự hình
thành các nhận thức trong mỗi cá nhân trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên để hình thành được quan niệm chung, nó phải trải qua quá trình
hoạt động lâu dài, va chạm và xử lý tình huống thực tiễn. Chính vì vậy một khi đã
hình thành các quan niệm chung sẽ khó thay đổi do các thành viên cùng nhau chia