Tải bản đầy đủ
TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ

-4-

Sở dĩ có sự khác nhau như trên là vì các nước đang phát triển thường được
xem là các nền kinh tế mở và quy mô nhỏ nên quyền áp đặt giá trên thị trường là rất
hạn chế theo Hakan Kara (2005) . Điều đó được cho là thay đổi tỷ giá sẽ tác động
mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến cho các chỉ số giá trong nước trở nên rất
nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá danh nghĩa.
Một luận điểm khác nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ bù
đắp phần nào ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái lên giá cả (Gagnon và
Ihrig, năm 2004). Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Wincoop (2003) cho
rằng việc định giá đồng nội tệ làm giảm mức độ ảnh hưởng của ERPT.
Một yếu tố quan trọng khác của ERPT đứng trên quan điểm lý thuyết là mức
độ mở cửa mậu dịch của 1 quốc gia. Sự liên hệ tức thì giữa 2 biến số là cùng chiều:
một quốc gia mở cửa càng nhiều thì biến đổi của tỷ giá ảnh hưởng lên giá nhập
khẩu càng nhiều, được đo lường thông qua chỉ số CPI. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm
thì Romer (1993) cho rằng viễn cảnh càng trở nên phức tạp khi chúng tôi tính đến
lạm phát có tương quan nghịch với sự mở cửa của một quốc gia. Điều này đưa ra
một kênh gián tiếp về mối tương quan ngược chiều giữa sự mở cửa với lạm phát và
mức độ truyền dẫn. Các kênh trực tiếp và gián tiếp không cùng chiều với nhau và
điều này làm cho mối tương quan giữa truyền dẫn và mậu dịch cũng có thể cùng
chiều hoặc là ngược chiều.
Trong trường hợp của Việt Nam (nằm trong nhóm nước đang phát triển) nên
luận văn này tác giả sẽ định nghĩa truyền dẫn tỷ giá theo như các nghiên cứu thực
nghiệm áp dụng cho các nước đang phát triển tức là: “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái là
phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay
đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu (IMP)
và chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nếu tỷ giá thay đổi 1% làm cho chỉ số giá cả thay đổi
1% thì sự truyền dẫn được gọi là hoàn toàn (complete pass-through), và nếu nhỏ

-5-

hơn 1% thì sẽ được gọi là sự truyền dẫn không hoàn toàn (incomplete passthrough).
Cái gì gây nên sự khác biệt về ERPT giữa các quốc gia?
Các nhà kinh tế học thường giả định đơn giản rằng giá của hàng hóa ngoại thương
được quy đổi về cùng 1 loại tiền tệ thì như nhau ở các quốc gia. Có nghĩa rằng giữ
vững trạng thái ngang bằng sức mua. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn các giả định này
thường ít thuyết phục, ít nhất là trong trường hợp mẫu nhỏ và thời gian kéo dài từ
ngắn hạn đến trung hạn. Theo những bằng chứng mà học thuyết về ERPT đã phát
triển qua 2 thập kỷ này đã cung cấp những lý giải khác nhau về tại sao ERPT lại
không hoàn toàn và khác biệt giữa các quốc gia. Nhiều kiểm định thực nghiệm cho
thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi nước và thời gian, cũng như giá
cả ở những mắc xích của dây chuyền sản xuất (gía nhập khẩu, giá nhà sản xuất và
giá tiêu dùng) và giá cả của các ngành trong phạm vi một quốc gia.
Xét trên phạm vi ngành, ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công
ty, đến lượt nó chính sách định giá của công ty lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành.
Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu chiến lược định giá và thay đổi
mức lợi nhuận của công ty nhằm đối phó với sự thay đổi của tỷ giá. Cơ sở lý luận
của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Donbursch (1987), trong
đó những khác biệt về ERPT được lý giải là do mức độ tập trung hóa của thị trường,
mức độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế của hàng hóa nhập khẩu
và hàng hóa sản xuất trong nước. Còn Donbursch cho rằng các ngành có tính cạnh
tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỷ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh
thu bán hàng càng lớn thì ERPT càng lớn.
Xét trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co dãn
tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô
(Phillips,1988). Trong điều kiện không phát sinh các cơn sốc khác, độ co dãn của
cầu và cung theo giá là nhân tố quyết định lớn của ERPT. Đối với hàng hóa xuất
khẩu, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng lớn và độ co dãn
của cung càng thấp. Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, mức độ của ERPT sẽ

-6-

càng lớn nếu độ co dãn của cầu càng nhỏ và độ co dãn của cung càng lớn (Spitaller,
1980). Do đó, ERPT phải là toàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì
cầu đối với xuất khẩu là co dãn tuyệt đối và cung nhập khẩu là co dãn tuyệt đối do
quốc gia đó không có khả năng tác động đến thị trường thế giới.
Nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô thì tỷ trọng nhập khẩu càng lớn
thì ERPT đến giá trong nước càng mạnh. Knettter (1993) kết luận rằng ngành nghề,
chứ không phải quốc tịch của công ty mới ảnh hưởng nhiều hơn đến hành vi định
giá của công ty. Như vậy những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là do
những khác biệt về cơ cấu các ngành ở các quốc gia đó. Nếu như công ty ít quan
tâm đến chiến lược định giá trên thị trường nhỏ, ERPT sẽ mạnh hơn trong các nền
kinh tế nhỏ.
Mann (1986) trong công trình nghiên cứu của mình, đã khảo sát một số biến
kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT. Ông cho rằng, tỷ giá thường
xuyên biến động có thể làm giảm ERPT bởi vì các nhà nhập khẩu có thể thiên về
điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận hơn là giá cả. Tuy nhiên, nếu công ty kỳ vọng rằng sự
thay đổi của tỷ giá có tính chất lâu dài, chứ không phải mang tính chất tạm thời thì
nhiều khả năng công ty sẽ thay đổi giá cả hàng hóa hơn là tỷ suất lợi nhuận nên dẫn
đến ERPT sẽ cao. Vì vậy, ERPT sẽ cao hơn ở những nước nơi mà có những thay
đổi tỷ giá ổn định hơn.
Yếu tố vĩ mô được cho ảnh hưởng đến độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá là
mức phụ thuộc hàng nhập khẩu (được đo lường bằng tỷ lệ giá trị nhập khẩu/ GDP)
của một quốc gia; nếu một quốc gia có mức phụ thuộc hàng hóa nhập khẩu càng cao
thì mức độ truyền dẫn tỷ giá càng lớn. Điều này đã được khẳng định qua các nghiên
cứu của McCarthy (2000), Katherine H. Anderson (2005). Một biến kinh tế vĩ mô
khác có ảnh hưởng đến độ lớn ERPT, đó là tính ổn định của tổng cầu (Mann, 1986).
Những thay đổi của tổng cầu cùng với giao động của tỷ giá ảnh hưởng đến tỷ suất
lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời
làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia có tổng cầu biến động
nhiều hơn. Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến ERPT. Một nước với

-7-

đồng tiền quốc gia kém ổn định có tỷ lệ nhập khẩu khá lớn được định giá bằng
ngoại tệ thì việc yết giá bằng ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn đối với các công ty chỉ
kinh doanh trên thị trường nội địa. trong tình huống này, tỷ giá có những tác động
không chỉ đối với hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu
dùng trong nước (non-tradables), và ERPT sẽ toàn phần ( Tsesliuk, 2002). Một nhân
tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có thể là những khác
biệt trong mức lạm phát. Nhiều nghiên cứu chứng minh mức truyền dân tỷ giá là
thấp đối với các quốc gia có môi trường lạm phát ban đầu thấp, ngược lại ở các
quốc gia có môi trường lạm phát cao thì mức truyền dẫn tỷ giá sẽ lơn hơn, tiêu biểu
là nghiên cứu của Taylor (2000) đối với các nước phát triển, Michele Ca’ Zorzi
(2007) đối với các nước đang phát triển và Anderson (2005) đối với các nền kinh tế
nhỏ và có độ mở cao. Giải thích cho kết luận trên có thể được lập luận rằng tại các
nước có môi trường lạm phát cao tỷ giá hối đoái danh nghĩa được các NHTW công
bố chỉ mang tính chất tạm thời và dễ biến động, tỷ giá được điều chỉnh nhiều lần
khiến các công ty có nhiều lý do để tăng giá bán sản phẩm; hơn thế nữa trong môi
trường lạm phát cao giá cả mọi mặt hàng đều tăng cao nên người tiêu dùng dễ chấp
nhận việc tăng giá hơn là trong môi trường lạm phát thấp.
Joseph E. Gagnon và Jane Ihrig (2004) trong nghiên cứu của mình cho thấy rằng ở
các nước thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì ERPT là thấp hơn hẳn so với các
nước khác; nguyên nhân là do những nhà sản xuất và phân phối khi biết Chính phủ
thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì sẽ e ngại hơn trong việc điều chỉnh tăng giá
bán sản phẩm mà thay vào đó họ chấp nhận giảm lợi nhuận biên (trong một giới hạn
nhất định) của mình dù đồng tiền nội địa có bị điều chỉnh mất giá. Nhiều nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần khi tình hình kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh
tranh tăng lên và hành vi của các công ty hướng đến việc tối đa hóa thị phần của
mình. Theo kết luận của Dubravko & Marc (2002), ERPT đã giảm từ những năm 90
ở các nước đang phát triển, có thể là do các điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn và
kết quả của các cuộc cải cách được thực hiện.

-8-

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU
3.1 Phương pháp nghiên cứu chung:
Dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, ta thấy các tác giả sử dụng
mô hình VaR để phân tích sự tác động của ERPT đến giá nhập khẩu, và giá tiêu
dùng trong các nền kinh tế khác nhau, bao gồm những nước đã phát triển và các
nước thị trường mới nổi. Tất cả các nhà nghiên cứu đều dẫn đến kết luận chung,
ERPT đến giá cả trong nước là không toàn phần và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm
của từng quốc gia, cơ cấu ngành trong nền kinh tế.
Trong bài nghiên cứu này, chúng ta cũng dựa vào mô hình VaR như các nhà
nghiên cứu trước đây đã sử dụng để phân tích cho nền kinh tế của Việt Nam.
Mô hình VaR (Vector autoregressive models) là mô hình véctơ các biến số tự hồi
quy. Mỗi biến số phụ thuộc tuyến tính vào các giá trị trễ của biến số này và giá trị
trễ của các biến số khác.

Mô hình VaR có dạng chuẩn như sau:

p

yt  c  i yt 1   t
i 1

Trong đó:

Yt

: là vecto đại diện cho biến nội sinh

c

: là giá trị trung bình không đổi

i

: là ma trận hệ số tự động hồi quy

t

: là sai số ngẫu nhiên (thường là nhiễu trắng)
Mô hình Var về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình)

và có các trễ của các biến số. Var là mô hình động của một số biến thời gian. Trong
mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của mỗi biến.

-9-

Giá trị của một biến số trong mô hình VaR chỉ phụ thuộc vào giá trị trong
quá khứ của các biến số. Do đó, việc ước lượng các phương trình không đòi hỏi các
thông tin nào khác ngoài các biến số của mô hình. Khi dự báo, sử dụng mô hình
VaR chỉ sử dụng trong ngắn hạn ngay cả trường hợp sử dụng dự báo động.
Mô hình VaR đòi hỏi các biến số đều là biến dừng. Cho nên khi xét đến mô
hình VaR ta phải xét đến tính dừng của các biến trong mô hình. Yêu cầu đặt ra khi
ta ước lượng mô hình VaR là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các
biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng. Càng khó khăn
hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính dừng và các biến không có tính
dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc dễ dàng.
Mô hình VaR(p) với p không cho trước nên không thể biết được độ trễ dài
bao nhiêu? Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp. Ngoài ra, khó khăn
trong việc lựa chọn khoảng trễ còn được thể hiện ở chỗ nếu ta tăng độ dài của trễ sẽ
làm cho bậc tự do giảm, do vậy mà ảnh hưởng đến chất lượng các ước lượng.
Mô hình VaR không dùng để phân tích chính sách được do trọng tâm mô
hình được đặt vào dự báo.
Khi ước lượng đòi hỏi số quan sát nhiều do mô hình có nhiều phương trình.
3.2 Mô hình thực nghiệm:
Mô hình rút gọn Var trong bài nghiên cứu này cũng như những mô hình
nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCathy năm 2000 và Hahn năm 2003 sẽ tiến
hành nghiên cứu và đưa 06 biến số vào mô hình: chỉ số giá dầu oilt ,biến số sản
lượng yt, lãi suất ngắn hạn it tỉ giá et, chỉ số giá nhập khẩu impt, chỉ số tiêu dùng cpi
. Trong đó, tỉ giá hối đoái và 2 biến số giá là những biến số chính trong phân tích
của chúng ta. Biến số sản lượng và giá dầu được đề cập để nắm bắt những ảnh
hưởng thực sự đến nền kinh tế. Biến lãi suất thể hiện thị trường tiền tệ (trong đó có
chính sách tiền tệ) tác động tới mối liên hệ đang nghiên cứu.
Trong mô hình cơ bản, các biến được sắp xếp theo một thứ tự như đã liệt kê
ở trên. Việc sử dụng sắp xếp theo hệ thống đệ quy nhằm ngụ ý, những biến động