Tải bản đầy đủ
Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ

32

(t) đại diện cho số năm quan sát/dữ liệu thời gian, t = 1,2, …,6
Biến phụ thuộc :
LIQUIDITY : là tỷ số TSTK trên TSTK ròng. Trong đó:
- TSTK gồm khoản mục "Tiền mặt và các khoản tương đương tiền" cộng
"Đầu tư chứng khoán ngắn hạn" trên bảng cân đối kế toán.
- Tài sản ròng: là "Tổng tài sản" trừ TSTK.

(

)

(

)

*

TĐT: tương đương tiền. **CKNH: Chứng khoán ngắn hạn

Biến giải thích :
SIZE : đại diện cho quy mô công ty, được tính bằng logorit tự nhiên của
"Tổng tài sản” trên bảng cân đối kế toán.
MV_MB: Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách. Trong đó, giá trị sổ sách
của doanh nghiệp bằng “Tổng tài sản” trên bảng cân đối kế toán. Giá trị thị
trường của nợ bằng với giá trị sổ sách của nợ, tức bằng “Khoản phải trả” trên
bảng cân đối kế toán. Còn giá trị thị trường của Vốn cổ phần bằng số cổ phiếu
đang lưu hành trên thị trường nhân với giá đóng cửa của cổ phiếu tại thời điểm
kết thúc niên độ tài chính. Vậy, biến MV_MB được tính bằng công thức sau:

33

CF : Kim (1998) dùng dòng tiền hoạt động và dòng tiền tự do. Trong đó, dòng
tiền hoạt động là thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao, và dòng tiền tự do
là dòng tiền hoạt động trừ chi tiêu vốn. Opler (1999) và Iskandar-Datta và Jia
(2012) tính dòng tiền bằng lợi nhuận trước khấu hao nhưng sau thuế, lãi vay
và cổ tức cổ phần thường. Iskandar-Datta và Jia (2012) tính dòng tiền bằng lợi
nhuận Luận văn này lấy theo công thức của Kim (1998) theo quan điểm dòng
tiền trước khi dùng để trả các nghĩa vụ cho các bên (trước thuế, trước cổ tức,
trước lãi vay và trước khấu hao):

* KHTSCĐ: Khấu hao tài sản cố định.
DIV : Là tỷ lệ cổ tức tiền mặt trên Tài sản ròng. Vì đang nghiên cứu các nhân
tố tác động đến TSTK, tức tiền mặt, nên luận văn này chỉ xét cổ tức tiền mặt
đã trả cho chủ sở hữu mà không xét đến các hình thức không bằng tiền mặt
khác. Số liệu cổ tức lấy ở khoản mục "cổ tức, lợi nhuận đã trả cho Chủ sở
hữu" trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
ổ ứ







34

NWC : là tỷ lệ vốn luân chuyển ròng trên tài sản ròng, được tính bằng công
thức:




( ề



à Đ

)







*TĐT: tương đương tiền **CKNH: chứng khoán ngắn hạn

CAPEX : là tỷ lệ chi tiêu vốn trên tài sản ròng. Số liệu chi tiêu vốn lấy ở
khoản mục "Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn
khác" trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.






*TSCĐ: tài sản cố định **TSDH: tài sản dài hạn
CFVOL: là độ lệch chuẩn của dòng tiền trong 5 năm liền kề trước năm đánh
giá (bao gồm cả năm đánh giá) và chia cho tài sản ròng bình quân của 5 năm
đó. Giả sử CFVOL năm 2012 là bằng độ lệch chuẩn của dòng tiền năm 2008,
2009, 2010, 2011, 2012 chia cho bình quân tài sản ròng của năm 2008, 2009,
2010, 2011, 2012. Riêng CFVOL năm 2007 là bằng độ lệch chuẩn của dòng
tiền năm 2005, 2006, 2007 và CFVOL năm 2008 là bằng độ lệch chuẩn của
dòng tiền năm 2005, 2006, 2007, 2008 do chỉ thu thập được số liệu BCTC từ
năm 2005 trở đi.
LEVERAGE : bằng tỷ lệ "nợ phải trả" trên "tổng tài sản".

35

3.3.

Giả thuyết nghiên cứu :

Bảng dưới đây tóm tắt kết quả kiểm định thực nghiệm ở các nghiên cứu trước
đây và cho thấy các yếu tố tác động thường không toàn bộ tuân theo một lý
thuyết nhất định nào mà là sự pha trộn giữa lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật
tự phân hạng.
Bảng 3.4 Tóm tắt kết quả kiểm định thực nghiệm của các nghiên cứu trước
đâyx`
Biến
Quy mô
(SIZE)

Giá trị thị
trường trên
giá trị sổ sách
(MV_MB)
Dòng tiền
(CF)
Cổ tức (DIV)

Vốn luân

Dự
đoán
(–)

(+)

Không
tác
động
(–)

(–)

Nghiên cứu thực nghiệm
(+)
(–)
Meltzer 1963),
Mulligan (1997)
Kim (1998),
Opler (1999)
ruinshoofd
Kool (2002)
Iskandar-Datta
và Jia (2012)
John (1993), Kim (1998),
Opler (1999)Bruinshoofd
Kool (2002) Iskandar
-Datta và Jia (2012)
Opler (1999) Bruinshoofd Kim (1998)
và Kool (2002) Iskandar- Iskandar-Datta
Datta và Jia (2012)
và Jia (2012)
Opler (1999)
Opler (1999) IskandarIskandar-Datta
Datta và Jia (2012)
và Jia (2012)
Opler (1999)

36

chuyển
ròng (NWC)
Chi tiêu vốn
(CAPEX)
Độ biến động
dòng tiền
(CFVOL)
Đòn bẩy
(LEVERAGE)

Iskandar-Datta
và Jia (2012)
(+)
(+)

Không
tác
động

Iskandar-Datta
và Jia (2012)

Opler (1999)
Kim (1998), Opler (1999)
Bruinshoofd và Kool
(2002) Iskandar-Datta và
Jia 2012)
Haan (1997), Van Ees
(1998) Acharya (2007)

Kim (1998),
Opler (1999)
Bruinshoofd và
Kool (2002)

Dấu (–) biểu thị tương quan nghịch giữa nhân tố tương ứng với TSTK,
Dấu (+) biểu thị tương quan nghịch giữa nhân tố tương ứng với TSTK.
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
- Các biến có tác động rõ ràng và thống nhất giữa các kết quả kiểm định là
biến SIZE, MV_MB, NWC, CFVOL.
- Các biến còn lại là CF, DIV, CAPEX, LEVARAGE có tác động không rõ
ràng qua các bài nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Trong đó, biến CF và
LEVERAGE được các nghiên cứu lý thuyết thống nhất về chiều hướng tác
động nhưng qua kiểm định thực nghiệm lại cho thấy có sự khác biệt khi
dùng phương pháp nghiên cứu khác nhau hoặc giữa các quốc gia khác
nhau.
Với những lập luận chặt chẽ của lý thuyết đánh đổi, cũng như nhiều bằng
chứng thực nghiệm ở các quốc gia đã ủng hộ lý thuyết này, luận văn đưa ra 2
giả thuyết sau:
- Tồn tại tỷ lệ TSTK mục tiêu, hay nói cách khác, lý thuyết đánh đổi giải thích
tốt hơn về mức dự trữ thanh khoản của doanh nghiệp.

37

- Tỷ lệ TSTK bị tác động bởi các nhân tố hàm ý từ lý thuyết đánh đổi, tức là
TSTK tăng theo chỉ số giá thị trường trên giá trị sổ sách, độ biến động dòng
tiền, chi tiêu vốn và giảm theo quy mô, vốn luân chuyển ròng và cổ tức. Tỷ lệ
TSTK không tuân theo lý thuyết trật tự phân hạng, tức không bị tác động của
các nhân tố đòn bẩy và dòng tiền.
3.4.

Phương pháp nghiên cứu

Bước 1: thống kê mô tả biến phụ thuộc và các biến giải thích của mô hình để
đưa ra các nhận định ban đầu về đặc điểm của mẫu nghiên cứu :
- Xu hướng biến động của tỷ lệ TSTK bình quân theo thời gian: Xu
hướng biến động của mẫu nghiên cứu trong luận văn này có thống
nhất với xu hướng biến động ở các bài nghiên cứu ở các quốc gia
khác?
- Phân phối mẫu: Giá trị bình quân, trung vị, độ lệch chuẩn của các
biến.
- Giá trị tỷ lệ TSTK của mẫu nghiên cứu trong luận văn này so với các
bài nghiên cứu ở các quốc gia khác
Bước 2 : Opler (1999) cho rằng "bước đầu tiên để xác định việc các công ty có
duy trì tỷ lệ TSTK mục tiêu là xác định được tỷ lệ TSTK của các công ty có
trở về giá trị trung bình (mean reversion)11". Để kiểm định giả thuyết này, luận
văn này dùng phương pháp của Hamilton (1994), tức tự hồi quy bậc 1 tỷ lệ
TSTK cho từng công ty:

11

Trở về giá trị trung bình (mean reversion), còn gọi là hồi quy về giá trị trung bình, là hiện tượng thống kê
khi một độ lệch giữa giá trị ngẫu nhiên và giá trị trung bình càng lớn thì rất có khả năng độ lệch giữa giá trị
ngẫu nhiên tiếp theo và giá trị trung bình nhỏ hơn độ lệch trước đó (Weisstein, Eric W "Reversion to the
Mean")

38

(

)

Sau khi hồi quy mô hình (3.1) cho 137 công ty, thu được 137 ước lượng β,
xem xét phân phối của 137 ước lượng hệ số β. β âm hàm ý TSTK có xu hướng
trở về giá trị trung bình. Trung vị của tập hợp 137 β âm hàm ý tỷ lệ TSTK của
mẫu có xu hướng trở về giá trị trung bình.
Nếu tỷ lệ TSTK không trở về giá trị trung bình, có thể kết luận ngay là không
có tỷ lệ TSTK mục tiêu. Nếu tỷ lệ TSTK trở về giá trị trung bình, thì việc
TSTK có mục tiêu hay không còn phải xem xét lý thuyết nào giải thích tốt hơn
về mức dự trữ thanh khoản của doanh nghiệp.
Bước 3 : Phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ TSTK với các đặc điểm của doanh
nghiệp bằng cách tứ phân vị mẫu theo tỷ lệ TSTK (Opler, 1999). Phương pháp
tứ phân vị được xem là lựa chọn tốt nhất để xem xét độ phân tán và mật độ
trung tâm của dữ liệu trong trường hợp dữ liệu bị chệch, có nhiều giá trị ngoại
biên (outliers). Cụ thể, phân chia mẫu mỗi năm thành 4 nhóm có số lượng
quan sát bằng nhau theo tỷ lệ TSTK từ thấp đến cao. Tứ phân vị được lập ra
cho từng năm, vì thế biên độ của tỷ lệ TSTK giữa các phân vị có thể chồng lên
nhau. Sau đó, kiểm định giả thuyết về sự khác nhau giữa nhóm phân vị 4, tức
nhóm có tỷ lệ TSTK cao nhất, với nhóm phân vị 1, tức nhóm có tỷ lệ TSTK
thấp nhất, bằng kiểm định t-test đối với giá trị trung bình của 2 nhóm.
Bằng phương pháp này, có thể xác định nhân tố nào quyết định đến tỷ lệ
TSTK khác nhau giữa các doanh nghiệp. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ tỏ
ra hiệu quả nếu như các các biến giải thích thay đổi xuyên suốt/đồng điệu với
biến phụ thuộc.
Bước 4: Xác định mô hình hồi quy và phương pháp ước lượng phù hợp để xác

39

định được mức độ tác động của các biến giải thích đến biến phụ thuộc và ý
nghĩa thống kê của các tham số hồi quy:
- Ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất thông thường
(Ordinary Least Square – OLS) hay phương pháp bình phương bé nhất
tổng quát (Generalized Least Square - GLS)? Việc sử dụng OLS hay GLS
là phụ thuộc vào tính chất phương sai thay đổi của mô hình. Đối với dữ liệu
chéo (cross-sectional data) hay dữ liệu bảng (panel data), GLS tỏ ra có hiệu
quả hơn.
- Hồi quy bằng mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model – FEM) và
mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM) cho dữ liệu
dạng bảng. Mô hình hồi quy của dữ liệu bảng có dạng sau:
(3.2)
Yi,t: biến phụ thuộc
: các biến giải thích
i là các đơn vị chéo (i = 1,2,3,…N)
t là đơn vị thời gian (t = 1,2,3,..T)
Có 4 phương pháp phổ biến dùng để hồi quy dữ liệu bảng:
o Phương pháp hồi quy gộp (Pooled Regression): Đây là phương pháp
đơn giản nhất khi hồi quy dữ liệu bảng vì không kể đến tính chất
không gian và thời gian của dữ liệu, tức xem Các hệ số
không thay đổi theo thời gian và không gian. Tuy nhiên
đây là phương pháp "khá phi lý và ít được áp dụng đối với dữ liệu
bảng" (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2013). Vì vậy, luận
văn không dùng phương pháp này.
o Phương pháp tác động cố định (FEM): Đây là phương pháp được

40

dùng khả phổ biến. Trong phương pháp này, hệ số chặn thay đổi theo
không gian ( i1 ). Mỗi đơn vị chéo sẽ có một hệ số chặn riêng. Kỹ
thuật để tính toán hệ số gốc thay đổi là dùng cách đặt biến giả:
 1i ,t  1  D1 2  D2 3  ...  Di 1 i

(3.3)

Sẽ có (N-1) biến giả theo không gian.
o Phương pháp tác động ngẫu nhiên (REM): Trong phương pháp tác
động ngẫu nhiên REM, chỉ có một hệ số gốc chung cho các quan sát,
là giá trị trung bình của NxT quan sát. Chênh lệch ngẫu nhiên ở hệ
số gốc sẽ được đưa vào sai số

i,t .

Hệ số gốc trong mô hình (3.2) được viết lại như sau :
i1,t   1  i ,t (3.4)

Phương trình (3.2) được viết lại dưới dạng :
Yi ,t   1   2 X 1i ,t   3 X 2i ,t   i ,t (3.5)

Nếu mẫu có số quan sát theo không gian lớn (N lớn) và số quan sát
theo thời gian nhỏ (T nhỏ) như trong trường hợp của luận văn này thì
ước lượng giữa 2 mô hình FEM và REM có thể khác nhau đáng kể.
Để kiểm định phương pháp nào phù hợp hơn giữa FEM và REM,
luận văn dùng kiểm định Hausman (1978)
o Phương pháp Fama-Macbeth (1973): bên cạnh mô hình REM và
FEM, các bài nghiên cứu gần đây (Kim, 1998; Opler, 1999;

41

Bruinshoofd và Kool, 2002; Iskandar-Datta và Jia, 2012) còn sử
dụng song song mô hình Fama-Macbeth (1973) vì giúp loại bỏ được
hiện tượng tương quan chuỗi trong phần dư. Phương pháp FamaMacbeth gồm 2 bước: Đầu tiên, hồi quy TSTK theo từng công ty
trong thời gian 2007-2012. Sau đó, hồi quy TSTK bình quân của
từng công ty qua các năm dựa trên hệ số gốc ước lượng được ở bước
1 để xác định phần bù của từng nhân tố tác động lên TSTK của mỗi
một công ty. Tuy nhiên, phương pháp Fama-Macbeth này không thể
áp dụng trong bài luận văn này do thời gian đo lường ngắn, chỉ gồm
6 năm, không đủ điều kiện để hồi quy mô hình các nhân tố tác động
để TSTK của từng công ty như bước 1 của phương pháp này đề xuất.
Do đó, mặc dù đây là phương pháp được hầu hết các tác giả nghiên
cứu lĩnh vực này sử dụng, nó tỏ ra không phù hợp trong hoàn cảnh
thời gian quan sát ngắn.
Bước 5 : Sau khi đã xác định mô hình hồi quy phù hợp giữa OLS và GLS,
giữa FEM và REM, để loại trừ việc xử lý số liệu có thể ảnh hưởng đến sự phù
hợp của mô hình cũng như kết quả kiểm định t-test của các hệ số hồi quy, luận
văn tiến hành kiểm định thêm các trường hợp sau :
- Hồi quy mô hình trong trường hợp TSTK chỉ bao gồm mục "Tiền mặt và các
khoản tương đương tiền", không bao gồm mục "đầu tư tài chính ngắn hạn":
luận văn cho rằng khoản mục "đầu tư tài chính ngắn hạn" trong báo cáo tài
chính của doanh nghiệp Việt Nam khó có thể đại diện cho khái niệm "chứng
khoán thị trường" của các bài nghiên cứu trước đó vì 2 lý do:
o Các chứng khoán trong mục "đầu tư tài chính ngắn hạn" có tính
thanh khoản kém.

42

o Mục đích của doanh nghiệp khi nắm giữ các chứng khoán trong mục
"đầu tư tài chính ngắn hạn" có khả năng cao là đề đầu cơ hơn là mục
đích dự trữ thanh khoản.
Vì vậy, luận văn sẽ kiểm định xem việc loại bỏ "đầu tư tài chính ngắn hạn" ra
khỏi TSTK để xem xét sự ảnh hưởng lên mô hình gốc ban đầu.
- Nếu phân tích tứ phân vị cho thấy sự phân tán lớn của mẫu quan sát, luận
văn sẽ loại trừ các giá trị đột xuất ra khỏi mẫu quan sát để để xem xét sự ảnh
hưởng lên mô hình gốc ban đầu.