Tải bản đầy đủ
4 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu.

4 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ

65

Thứ 2 là kết quả thống kê mô tả cho thấy sự chênh lệch giữa giá trị lớn nhất của
biến LNPCGDP so với số trụng vị của nó cao hớn giá trị lớn nhất của các biến
LNPRIVCRE, LNBANKDEP, LNLIQLIAB so với số trung vị của chính các biến này
( vì 6.06% > 1.41%, 1.29%, 0.81%), sự chênh lệch giữa giá trị nhỏ nhất của biến
LNPCGDP so với số trụng vị của nó thấp hơn giá trị nhỏ nhất của các biến
LNPRIVCRE, LNBANKDEP, LNLIQLIAB so với số trung vị của chính các biến này
(vì 1.52% < 2.86%, 2.72%, 2.2%). Kết quả thống kê mô tả còn cho thấy độ lệch chuẩn
của biến LNPCGDP là 2.54, độ lệch chuẩn của biến LNPRIVCRE là 1.01, độ lệch
chuẩn của biến LNBANKDEP là 1.01, độ lệch chuẩn của biến LNLIQLIAB là 0.77.
Kết quả độ lệch chuẩn của biến LNPRIVCRE, LNBANKDEP, LNLIQLIAB cho thấy
mức biến động của các biến xung quanh giá trị trung bình của chính nó gần như là
giống nhau không có sự khác biệt giữa các biến, có thể kết luận sơ bộ cho kết quả của
mô hình VAR hoặc VECM cho 3 trường hợp là như nhau nhưng trong đó kết quả của
mô hình VAR hoặc VECM cho trường hợp 1, 2 giống nhau nhiều hơn so với trường
hợp thứ 3.
Thứ 3 là kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho kết quả tất cả các biến đều dừng
ở sai phân bậc 1 với mức ý nghĩa 1%, và kết quả kiểm định đồng liên kết cho thấy giữa
biến LNPRIVCRE và LNPCGDP, giữa biến LNBANKDEP và LNPCGDP, giữa biến
LNLIQLIAB và LNPCGDP đều không có mối quan hệ đồng liên kết. Qua kết quả của
kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết dạng bảng cho kết quả các biến
đều dừng ở sai phân bậc 1 và trong 3 trường hợp các biến đều không có mối quan hệ
đồng liên kết nên mô hình VAR được sử dụng trong 3 trường hợp.
Thứ 4 là kết quả kiểm định nhân quả Granger của trường hợp 1 và 2 cho kết quả
giống nhau là biến LNPCGDP có mối quan hệ nhân quả đến biến LNPRIVCRE và
LNBANKDEP với mức ý nghĩa 1%, nghĩa là giữa biến phát triển tài chính và biến tăng
trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do biến tăng trưởng kinh tế dẫn đến
biến phát triển tài chính – kết quả này hỗ trợ cho quan điểm demand – following. Kết

66

quả kiểm định nhân quả Granger của trường hợp 3 cho thấy không tồn tại mối quan hệ
nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế với mức ý nghĩa 10%.
Thứ 5 là kết quả của mô hình VAR của 3 trường hợp cho cùng một kết quả là
trong năm đầu tiên khi biến tăng trưởng kinh tế tăng sẽ làm cho biến phát triển tài
chính tăng nhưng đến năm thứ 2 khi biến tăng trưởng kinh tế tăng sẽ làm cho biến phát
triển tài chính giảm. Ở trường hợp 1 cứ 1% tăng lên của LNPCGDP thì sau 1 năm sẽ
làm cho LNPRIVCRE tăng 1.7% nhưng sau 2 năm lại làm cho LNPRIVCRE giảm
1.71%. Ở trường hợp thứ 2 cứ 1% tăng lên của LNPCGDP thì sau 1 năm sẽ làm cho
LNBANKDEP tăng 1.02% nhưng sau 2 năm lại làm cho LNBANKDEP giảm 1.02%.
Ở trường hợp thứ 3 cứ 1% tăng lên của LNPCGDP thì sau 1 năm sẽ làm cho
LNLIQLIAB tăng 0.32% nhưng sau 2 năm lại làm cho LNLIQLIAB giảm 0.32%. Tóm
lại kết quả của mô hình VAR cho thấy có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do biến tăng
trưởng kinh tế dẫn đến biến phát triển tài chính.
Thứ 6 là kết quả phân tích hàm phản ứng xung cho 3 trường hợp được tóm tắt
như sau:
Trường hợp 1 khi biến LNPRIVCRE đại diện cho biến phát triển tài
chính cho thấy cú sốc của LNPCGDP làm cho chính nó tăng lên, cú sốc của
LNPRIVCRE làm cho biến LNPCGDP giảm xuống, cú sốc của LNPCGDP làm cho
biến LNPRIVCRE tăng trong 4 năm đầu nhưng những năm sau đó giảm với mức độ
không đáng kể, cú sốc của biến LNPRIVCRE làm cho chính nó tăng trong 4 năm đầu
nhưng những năm sau đó LNPRIVCRE bắt đầu giảm. Tóm lại ở trường hợp 1 khi biến
LNPRIVCRE đại diện cho biến phát triển tài chính thì giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 2 chiều. Biến LNPRIVCRE là nguyên nhân
làm cho biến LNPCGDP giảm xuống và biến LNPCGDP là nguyên nhân làm cho biến
LNPRIVCRE tăng trong khung thời gian nghiên cứu.
Trường hợp 2 khi biến LNBANKDEP đại diện cho biến phát triển tài

67

chính cho thấy cú sốc của LNPCGDP làm cho chính nó tăng lên, cú sốc của biến
LNBANKDEP hầu như không ảnh hưởng đến biến LNPCGDP trong 5 năm đầu nhưng
thời gian sau thì làm cho biến LNPCGDP giảm đều qua các năm, cú sốc của
LNPCGDP làm cho biến LNBANKDEP tăng, cú sốc của biến LNBANKDEP làm cho
chính nó tăng trong 4 năm đầu nhưng những năm sau đó LNBANKDEP bắt đầu giảm.
Tóm lại ở trường hợp 2 khi biến LNBANKDEP đại diện cho biến phát triển tài chính
thì giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 2 chiều.
Biến LNBANKDEP là nguyên nhân làm cho biến LNPCGDP giảm xuống và biến
LNPCGDP là nguyên nhân làm cho biến LNBANKDEP tăng trong khung thời gian
nghiên cứu.
Trường hợp 3 khi biến LNLIQLIAB đại diện cho biến phát triển tài
chính cho thấy cú sốc của LNPCGDP làm cho chính nó tăng lên, cú sốc của biến
LNLIQLIAB làm cho biến LNPCGDP tăng lên trong 5 năm đầu và giảm trong những
năm sau đó, cú sốc của LNPCGDP làm cho biến LNLIQLIAB tăng, cú sốc của biến
LNLIQLIAB làm cho chính nó tăng trong 4 năm đầu nhưng những năm sau đó
LNLIQLIAB bắt đầu giảm. Tóm lại ở trường hợp 3 khi biến LNLIQLIAB đại diện cho
biến phát triển tài chính thì giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan
hệ nhân quả 2 chiều. Biến LNLIQLIAB là nguyên nhân làm cho biến LNPCGDP tăng
trong 5 năm đầu và giảm trong những năm sau, biến LNPCGDP là nguyên nhân làm
cho biến LNLIQLIAB tăng trong khung thời gian nghiên cứu.
Tóm lại kết quả phân tích hàm phản ứng xung của 3 trường hợp đều có chung 1 kết quả
là giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 2 chiều.
Tuy nhiên có 1 sự khác biệt trong chiều tác động từ biến phát triển tài chính là nguyên
nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế ở trường hợp thứ 3 là cú sốc của biến LNLIQLIAB
đại diện cho biến phát triển tài chính làm cho biến tăng trưởng kinh tế tăng trong 5 năm
đầu và giảm trong những năm sau, trong khi cũng với chiều tác động từ biến phát triển
tài chính là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế ở trường hợp thứ 1 và 2 là cú sốc

68

của LNPRIVCRE, LNBANKDEP đại diện cho biến phát triển tài chính lại làm cho
biến tăng trưởng kinh tế giảm.
Thứ 7 là kết quả phân tích phân rã phương sai cho 3 trường hợp được tóm tắt
như sau:
Trường hợp 1 khi biến LNPRIVCRE đại diện cho biến phát triển tài
chính thì kết quả phân rã phương sai của biến LNPCGDP cho thấy sự biến động của
biến LNPCGDP phần lớn do chính nó gây ra chiếm trên 97% và biến LNPRIVCRE
cũng có làm nó biến động nhưng mức độ chỉ từ 0% đến 3% rất nhỏ có thể xem như
không đáng kể. Kết quả phân rã phương sai của biến LNPRIVCRE cho thấy sự biến
động của biến LNPRIVCRE phần lớn do chính nó gây ra chiến trên 75% và biến
LNPCGDP cũng có làm nó biến động nhưng mức độ thấp hơn chiếm khoảng 25%.
Trường hợp 2 khi biến LNBANKDEP đại diện cho biến phát triển tài
chính thì kết quả phân rã phương sai của biến LNPCGDP cho thấy sự biến động của
biến LNPCGDP phần lớn do chính nó gây ra chiếm trên 96% và biến LNBANKDEP
làm LNPCGDP biến động với mức độ chỉ từ 0% đến 3.5%. Kết quả phân rã phương sai
của biến LNBANKDEP cho thấy sự biến động của biến LNBANKDEP chủ yếu do
chính nó gây ra chiếm trên 92% và biến LNPCGDP cũng có làm nó biến động nhưng
mức độ thấp hơn chiếm dưới 8%.
Trường hợp 3 khi biến LNLIQLIAB đại diện cho biến phát triển tài chính
thì kết quả phân rã phương sai của biến LNPCGDP cho thấy sự biến động của biến
LNPCGDP phần lớn do chính nó gây ra chiếm trên 99.3% và biến LNLIQLIAB làm
LNPCGDP biến động với mức độ dưới 0.7%. Kết quả phân rã phương sai của biến
LNLIQLIAB cho thấy sự biến động của biến LNLIQLIAB chủ yếu do chính nó gây ra
chiếm trên 93% và biến LNPCGDP cũng có làm nó biến động nhưng mức độ thấp hơn
chiếm dưới 7%.
Tóm lại kết quả phân tích phân rã phương sai của 3 trường hợp cho thấy kết quả phân
rã phương sai của biến tăng trưởng kinh tế nói rằng sự biến động của biến tăng trưởng

69

kinh tế phần lớn do chính nó gây ra chiếm trên 96% và biến phát triển tài chính làm
biến tăng trường kinh tế biến động với mức độ khá thấp dưới 4%. Kết quả phân rã
phương sai của biến phát triển tài chính nói rằng khi biến phát triển tài chính được đại
diện bởi LNBANKDEP và LNLIQLIAB thì sự biến động của biến phát triển tài chính
do chính nó gây ra chiếm trên 92%, trong khi ở trường hợp 1 khi biến phát triển tài
chính được đại diện bởi LNPRIVCRE thì sự biến động này chỉ chiếm trên 75%. Tác
động của biến LNPCGDP làm LNBANKDEP và LNLIQLIAB biến động chỉ chiếm
dưới 8%, trong khi ở trường hợp 1 biến LNPCGDP làm LNPRIVCRE biến động chiếm
dưới 25%. Vậy biến phát triển tài chính làm tăng trưởng kinh tế biến động với mức độ
khá thấp dưới 4% nhưng biến tăng trưởng kinh tế làm biến phát triển tài chính biến
động với mức độ cao hơn dưới 25% cho biến LNPRIVCRE và dưới 8% cho 2 biến
LNBANKDEP và LNLIQLIAB.

70

Chương 5. Kết luận.
5.1 Kết luận.
Bài nghiên cứu đã sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết dạng
bảng để tiến hành nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế. Các biến được sử dụng để đo lường cho biến phát triển tài chính và biến
tăng trưởng kinh tế trong bài nghiên cứu bao gồm: biến GDP thực tế bình quân đầu
người đo lường cho biến tăng trưởng kinh tế, biến phát triển tài chính được đo lường
bởi 3 biến lần lượt là tỷ lệ tín dụng được cung cấp bởi các ngân hàng cho khu vực tư
nhân so với GDP, tỷ lệ nợ tiền gửi của ngân hàng so với GDP, tỷ lệ nợ thanh khoản so
với GDP. Tương ứng với 3 biến lần lượt đại diện cho biến phát triển tài chính bài
nghiên cứu chia làm 3 trường hợp ( trường hợp 1: GDP thực tế bình quân đầu người và
tỷ lệ tín dụng được cung cấp bởi các ngân h.àng cho khu vực tư nhân so với GDP,
trường hợp 2: GDP thực tế bình quân đầu người tỷ lệ nợ tiền gửi của ngân hàng so với
GDP, trường hợp 3: GDP thực tế bình quân đầu người và tỷ lệ nợ thanh khoản so với
GDP) để thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết dạng bảng cho
dữ liệu từ năm 1993 đến năm 2013 của 9 nước trong khu vực Đông Nam Á cho ra kết
quả các biến đều dừng ở sai phân bậc 1 với mức ý nghĩa 1% và 3 trường hợp đều
không có mối quan hệ đồng liên kết, từ kết quả này mô hình VAR được tiến hành cho
3 trường hợp và đưa ra 1 số kết luận sau:
Thứ 1 là kết quả kiểm định hệ số tương quan của từng cặp biến trong 3 trường
hợp đều cho kết quả âm từ -0.5 đến -0.6 cho thấy 3 cặp biến đều có mối tương quan
nghịch chiều và mức độ tương quan là trung bình. Tóm lại qua kết quả của kiểm định
hệ số tương quan cho thấy biến phát trển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối tương
quan nghịch chiều.
Thứ 2 là kết quả thống kê mô tả cho thấy sự chênh lệch giữa giá trị lớn nhất của
biến tăng trưởng kinh tế so với số trung vị của nó cao hớn giá trị lớn nhất của các biến
đại diện cho biến phát triển tài chính so với số trung vị của chính các biến này và sự

71

chênh lệch giữa giá trị nhỏ nhất của biến tăng trưởng kinh tế so với số trung vị của nó
nhỏ hớn giá trị nhỏ nhất của các biến đại diện cho biến phát triển tài chính so với số
trung vị của chính các biến này. Kết quả thống kê mô tả còn cho thấy độ lệch chuẩn
của biến LNPRIVCRE, LNBANKDEP là 1.01 và độ lệch chuẩn của biến LNLIQLIAB
là 0.77 nên mức biến động của các biến xung quanh giá trị trung bình của chính nó gần
như là giống nhau không có sự khác biệt giữa các biến, có thể kết luận sơ bộ cho kết
quả của mô hình VAR cho 3 trường hợp là như nhau nhưng trong đó kết quả của mô
hình VAR cho trường hợp 1, 2 giống nhau nhiều hơn so với trường hợp thứ 3.
Thứ 3 là kết quả kiểm định nhân quả Granger của trường hợp 1 và 2 cho kết quả
giống nhau là biến LNPCGDP có mối quan hệ nhân quả với biến LNPRIVCRE và
LNBANKDEP với mức ý nghĩa 1%, nghĩa là giữa biến phát triển tài chính và biến tăng
trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do biến tăng trưởng kinh tế dẫn đến
biến phát triển tài chính – kết quả này hỗ trợ cho quan điểm demand – following. Kết
quả kiểm định nhân quả Granger của trường hợp 3 cho thấy không tồn tại mối quan hệ
nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế với mức ý nghĩa 10%.
Thứ 4 là kết quả của mô hình VAR cho 3 trường hợp cho cùng một kết quả là
trong năm đầu tiên khi biến tăng trưởng kinh tế tăng sẽ làm cho biến phát triển tài
chính tăng nhưng đến năm thứ 2 khi biến tăng trưởng kinh tế tăng sẽ làm cho biến phát
triển tài chính giảm. Tóm lại kết quả của mô hình VAR cho thấy có mối quan hệ nhân
quả 1 chiều do biến tăng trưởng kinh tế dẫn đến biến phát triển tài chính.
Thứ 5 là kết quả phân tích hàm phản ứng xung ở 3 trường hợp đều cho cùng 1
kết quả là giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả 2
chiều. Kết quả hàm phản ứng xung ở trường hợp 1 và 2 là như nhau trước cú sốc của
biến LNPRIVCRE và LNBANKDEP làm cho biến LNPCGDP giảm xuống, trong khi
ở trường hợp 3 trước cú sốc của LNLIQLIAB làm cho biến tăng trưởng kinh tế tăng
trong 5 năm đầu và giảm trong những năm sau. Kết quả hàm phản ứng xung ở trường
hợp 1, 2, 3 là như nhau trước cú sốc của biến LNPCGDP làm cho biến LNPRIVCRE

72

và LNBANKDEP, LNLIQLIAB tăng trong khung thời gian nghiên cứu. Mặc dù có sự
khác nhau ở chiều nhân quả do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhưng
kết quả hàm phản ứng xung cho 3 trường hợp đều có chung kết luận là có mối quan hệ
nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Thứ 6 là kết quả phân tích phân rã phương sai của 3 trường hợp cho thấy biến
phát triển tài chính làm tăng trưởng kinh tế biến động với mức độ khá thấp dưới 4%
nhưng biến tăng trưởng kinh tế làm biến phát triển tài chính biến động với mức độ dưới
25% cho biến LNPRIVCRE và dưới 8% cho 2 biến LNBANKDEP và LNLIQLIAB.
Tóm lại kết quả phân tích phân rã phương sai cho biết mức độ tác động của biến phát
triển tài chính đối với biến tăng trưởng kinh tế khá thấp, mức độ tác động của tăng
trưởng kinh tế đối với LNPRIVCRE cao hơn mức độ tác động đối với biến
LNBANKDEP và LNLIQLIAB.
Mục đích chính của đề tài là nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa phát triển
tài chính và tăng trưởng kinh tế. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu bài nghiên cứu sẽ
tập trung phân tích để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu là: câu hỏi thứ 1 là phát triển tài
chính có phải là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế hay không? Và câu hỏi thứ 2
là tăng trưởng kinh tế có phải là nguyên nhân dẫn đến phát triển tài chính hay không?
Từ các kết luận được tóm tắt ở trên ta thấy kết luận thứ 3 và 4 là kết luận về
kiểm định nhân quả Granger và kết quả mô hình VAR cho thấy có mối quan hệ nhân
quả 1 chiều do biến tăng trưởng kinh tế dẫn đến biến phát triển tài chính. Kết quả này
trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ 2 là tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân dẫn đến
phát triển tài chính – kết quả này hỗ trợ cho quan điểm demand – following. Kết quả
này được ủng hộ bởi các nhà nghiên cứu Hurlin và Venet (2001), Odhiambo (2004),
Sindano (2009).
Kết luận thứ 6 của phân tích hàm phản ứng xung cho thấy có mối quan hệ nhân
quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế. Kết quả này trả lời cho câu
hỏi nghiên cứu thứ 1 và câu hỏi nghiên cứu thứ 2 là phát triển tài chính là nguyên nhân

73

dẫn đến tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân dẫn đến phát triển
tài chính. Tóm lại giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân
quả 2 chiều – kết quả này hỗ trợ cho quan điểm bi – directional. Kết luận này được ủng
hộ bởi các nhà nghiên cứu Patrick (1966), Jung (1986), Spears (1992), Arestis và
Demetriades (1996), Demetriades và Hussein (1996), Luintel và Khan (1999),
Calderon và Liu (2002), Yousif (2002), Ghirmay (2004), Odhiambo (2005), Odhiambo
(2008), Anthony và Tajudeen (2010).
Tóm lại kết quả của bài nghiên cứu cho các nước ở khu vực Đông Nam Á về
mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế cho 2 kết luận là
có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do biến tăng trưởng kinh tế dẫn đến biến phát triển tài
chính và có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh
tế. Hai kết quả này đều được ủng hộ bởi phần lớn các nhà nghiên cứu nhưng kết luận
thứ 2 về việc có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng
kinh tế được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ hơn.
Thông qua bài nghiên cứu này, các nước trong khu vực Đông Nam Á có thể xác
định rõ hơn về mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là
mối quan hệ nhân quả 2 chiều. Đầu tiên xét chiều nhân quả do phát triển tài chính là
nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế, đối với kết quả phân tích hàm phản ứng xung
cho thấy trước cú sốc của biến LNPRIVCRE và LNBANKDEP làm cho biến tăng
trưởng kinh tế giảm trong khi cú sốc của biến LNLIQLIAB làm cho biến tăng trưởng
kinh tế tăng trong 5 năm đầu và giảm trong những năm sau. Đối với kết quả phân tích
phân rã phương sai cho thấy biến phát triển tài chính làm biến tăng trưởng kinh tế biến
động khá thấp dưới 4%, khi biến phát triển tài chính được đại diện bởi LNPRIVCRE
và LNBANKDEP làm biến tăng trưởng kinh tế biến động nhiều hơn khi biến phát triển
tài chính được đại diện bởi LNLIQLIAB. Dựa vào các kết quả này có thể biết được nên
tác động vào biến nào, trong khoảng thời gian bao lâu để các biến này tác động đến
tăng trưởng kinh tế từ đó điều chỉnh tăng trưởng kinh tế về mức độ mong muốn.

74

Tiếp theo xét chiều nhân quả do tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân dẫn đến
phát triển tài chính, đối với kết quả của mô hình VAR cho thấy khi biến tăng trưởng
kinh tế tăng sẽ làm phát triển tài chính tăng nhưng đến năm thứ 2 lại làm cho phát triển
tài chính giảm. Đối với kết quả phân tích hàm phản ứng xung cho thấy cú sốc của tăng
trưởng kinh tế làm cho biến phát triển tài chính tăng. Đối với kết quả phân tích phân rã
phương sai cho thấy biến tăng trưởng kinh tế làm LNPRIVCRE biến động dưới 25%
và làm LNBANKDEP, LNLIQLIAB biến động dưới 8%. Dựa vào các kết quả này có
thể lựa chọn ra các chính sách áp dụng trong những thời điểm thích hợp để tác động
vào tăng trưởng kinh tế từ đó thúc đẩy phát triển tài chính tăng đến mức độ mong
muốn.
5.2 Hạn chế của đề tài.
Bằng những phân tích thực nghiệm bài nghiên cứu đã cho thấy chỉ có mối quan hệ
nhân quả 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính. Trong kết quả thực
nghiệm cho thấy 3 nguồn dữ liệu lần lượt đại diện cho biến phát triển tài chính là tỷ lệ
tín dụng được cung cấp bởi các ngân hàng cho khu vực tư nhân so với GDP, tỷ lệ nợ
tiền gửi của ngân hàng so với GDP và tỷ lệ nợ thanh khoản so với GDP có mức độ
nhân quả khác nhau với tăng trưởng kinh tế, đề tài vẫn chưa giải thích được nguyên
nhân của nó.
Bài nghiên cứu chỉ mới xét đến tác động của từng biến đại diện cho biến phát triển tài
chính với tăng trưởng kinh tế bằng cách chia làm 3 trường hợp riêng lẻ mà chưa xét
đến tác động đồng thời của 3 biến đại diện cho phát triển tài chính đối với tăng trưởng
kinh tế.
Đề tài chỉ mới nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả này với 1 biến GDP thực tế bình
quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế mà chưa đề cập đến các nguồn dữ liệu
khác có thể đại diện cho tăng trưởng kinh tế để nghiên cứu.

75

5.3 Gợi mở nghiên cứu.
Trong kết quả thực nghiệm cho thấy 3 nguồn dữ liệu lần lượt đại diện cho biến
phát triển tài chính là tỷ lệ tín dụng được cung cấp bởi các ngân hàng cho khu vực tư
nhân so với GDP, tỷ lệ nợ tiền gửi của ngân hàng so với GDP và tỷ lệ nợ thanh khoản
so với GDP có mức độ nhân quả khác nhau với tăng trưởng kinh tế, việc giải thích
nguyên nhân vì sao có sự khác nhau giữa các mức độ nhân quả này có thế mở ra một
hướng nghiên cứu mới.
Tiếp nối nghiên cứu này với việc xét đến tác động đồng thời của 3 biến đại diện
cho phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế cũng là một hướng nghiên cứu mới.
Một số nghiên cứu sử dụng nhiều biến để đo lường biến tăng trưởng kinh tế như
biến GDP thực tế bình quân đầu người, biến GDP bình quân đầu người ngang giá sức
mua, biến sản lượng đầu ra thực tế, GDP thực tế, thu nhập bình quân đầu người, tổng
sản lượng trong nước, GNP thực tế bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế…. Trong
khi đó bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất một biến GDP thực tế bình quân đầu người
đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế nên việc thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ
nhân quả này nhưng sử dụng thêm biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế cũng là một
hướng đi rộng hơn cho nghiên cứu mới.