Tải bản đầy đủ
3 Trường phái thứ 3: Cho rằng có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

3 Trường phái thứ 3: Cho rằng có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Tải bản đầy đủ

9

Jung (1986) trong nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: bằng chứng
quốc tế” đã sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia với GNP thực tế bình quân đầu người
được sử dụng để đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và biến phát triển tài chính được
đại diện bởi 2 biến là tỷ lệ tiền tệ trên GNP, tỷ lệ của M2 trên GNP. Kết quả cho thấy
có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính.
Nhưng khi chia 56 quốc gia thành 2 nhóm nước phát triển và kém phát triển kết quả
cho thấy ở nhóm nước kém phát triển tồn tại mối quan hệ nhân quả 1 chiều do phát
triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
Spears (1992) với nghiên cứu “Vai trò của các trung gian tài chính trong tăng trưởng
kinh tế ở châu Phi” đã sử dụng dữ liệu ở 5 nước Châu Phi với biến tỷ lệ tài sản tài
chính so với GDP, tỷ lệ gần như tiền so với M2 (quasi money so với M2), tỷ lệ M2 so
với GDP làm đại diện cho phát triển tài chính. Nghiên cứu cho ra kết quả biến tỷ lệ M2
so với GDP đại diện cho phát triển tài chính là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh
tế xảy ra ở tất cả các nước, trong khi mối quan hệ nhân quả 2 chiều chỉ xảy ra ở 1 nước.
Arestis và Demetriades (1996) với nghiên cứu “ Tài chính và tăng trưởng: sự xem xét
thể chế và quan hệ nhân quả” sử dụng dữ liệu từ năm 1949 đến 1992 của 12 quốc gia
với 3 biến lần lượt đại diện cho phát triển tài chính là tỷ lệ M2 so với GDP, tỷ lệ tín
dụng cho khu vực tư nhân so với GDP, tỷ lệ M2 trừ tiền trong lưu thông so với GDP và
GDP thực tế bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế để chạy mô hình
VAR. Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển tài chính tuy nhiên mối quan hệ nhân quả này khá yếu.
Demetriades và Hussein (1996) trong nghiên cứu “Phát triển tài chính có phải là
nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế hay không? Bằng chứng từ dữ liệu thời gian
từ 16 quốc gia” trong cuốn Tạp chí kinh tế phát triển đã sử dụng dữ liệu của 16 quốc
gia và sử dụng biến tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP và tỷ lệ nợ tiền gửi
ngân hàng so với GDP như 2 nguồn dữ liệu lần lượt đại diện cho biến phát triển tài
chính. Kết quả cho thấy có 7 quốc gia có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa tăng

10

trưởng kinh tế và phát triển tài chính, trong khi đối với 6 quốc gia khác chỉ có mối
quan hệ nhân quả 1 chiều do tăng trường kinh tế dẫn đến phát triển tài chính.
Luintel và Khan (1999) với nghiên cứu “Một nghiên cứu đánh giá lại mối quan hệ giữa
phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: thực hiện bằng mô hình VAR” trong cuốn
Tạp chí kinh tế phát triển đã sử dụng dữ liệu cho 10 quốc gia để chạy mô hình VAR.
Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế.
Calderon và Liu (2002) với nghiên cứu “Phương hướng của mối quan hệ nhân quả giữa
phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế” đã chạy mô hình VAR bằng cách sử dụng
dữ liệu từ năm 1960 đến 1994 của 109 quốc gia phát triển và công nghiệp, đồng thời
các biến tỷ lệ M2 so với GDP, tỷ lệ tín dụng của khu vực tư nhân được cung cấp bởi
ngân hàng so với GDP lần lượt đại diện cho biến phát triển tài chính và biến GDP thực
tế bình quân đầu người đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy có mối
quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, đồng thời
đưa ra kết luận rằng phát triển tài chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở các nước
phát triển cao hơn ở các nước công nghiệp.
Yousif (2002) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế: Một cách
nhìn mới từ bằng chứng thực nghiệm của các nước đang phát triển” sử dụng dữ liệu
cho 30 nước đang phát triển cho giai đoạn 1970 đến 1999. Kết quả ủng hộ mạnh mẽ
quan điểm phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có quan hệ nhân quả với nhau và
là quan hệ nhân quả hai chiều. Ngoài ra còn có một số kết quả khác cho rằng phát triển
tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính,
giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không có mối quan hệ nào nhưng các
kết quả này không mạnh mẽ như mối quan hệ 2 chiều. Hơn nữa, kết quả của các nghiên
cứu gần đây với quan điểm của Ngân hàng Thế giới và các nghiên cứu thực nghiệm
khác thì mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không thể được

11

khái quát chung giữa các quốc gia vì mỗi quốc gia có chính sách kinh tế cụ thể khác
nhau và nhiều mặt khác nhau.
Ghirmay (2004) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các nước
Châu Phi vùng Sahara: Bằng chứng thực nghiệm từ việc phân tích chuỗi thời gian” đã
sử dụng dữ liệu của 13 nước ở Châu Phi vùng Sahara với biến tín dụng cho khu vực tư
nhân đại diện cho biến phát triển tài chính để chạy mô hình VAR. Kết quả cho thấy có
6 quốc gia tồn tại mối quan hệ nhân quả 2 chiều, các nước còn lại một số có mối quan
hệ nhân quả 1 chiều do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế và một số có
mối quan hệ nhân quả 1 chiều do tăng trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính.
Odhiambo (2005) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở
Tanzania: Một nghiên cứu thực nghiệm” sử dụng GDP thực tế bình quân đầu người đại
diện cho tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính được đại diện bởi 3 biến là tỷ lệ M2
so với GDP, tỷ lệ tiền tệ so với M1, tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân được cung cấp bởi
ngân hàng so với GDP để chạy mô hình VECM. Kết quả cho thấy khi biến tỷ lệ M2 so
với GDP đại diện cho phát triển tài chính thì có mối quan hệ nhân quả 1 chiều do phát
triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế, khi 2 biến còn lại đại diện cho phát triển tài
chính thì tồn tại mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát triển tài chính và tăng trưởng
kinh tế.
Odhiambo (2008) với nghiên cứu “Phát triển tài chính ở Kenya: một kiểm định về giả
thuyết phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế” để phục vụ cho việc kiểm định
đồng liên kết và chạy mô hình VECM tác giả sử dụng dữ liệu ở Kenya từ năm 1968
đến 2002 với biến thu nhập bình quân đầu người đại diện cho tăng trưởng kinh tế và
biến phát triển tài chính được đại diện lần lượt bởi 3 biến là tỷ lệ M2 so với GDP, tỷ lệ
tiền tệ trong lưu thông so với M1, tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân được cung cấp
bởi ngân hàng so với GDP. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy khi biến tỷ lệ M2 so
với GDP đại diện cho phát triển tài chính thì có mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa
phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, nhưng khi 2 biến còn lại đại diện cho phát

12

triển tài chính thì lại thấy mối quan hệ nhân quả 1 chiều do tăng trưởng kinh tế dẫn đến
phát triển tài chính.
Anthony và Tajudeen (2010) với nghiên cứu “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh
tế: Nghiên cứu ở 10 nước Châu Phi vùng Sahara” sử dụng dữ liệu từ năm 1980 đến
2005 của 10 nước Châu Phi thuộc vùng Sahara với GDP thực tế bình quân đầu người
đại diện cho biến tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ M2 so với GDP đo lường cho biến phát
triển tài chính để chạy mô hình VECM. Kết quả cho thấy mối quan hệ nhân quả 1
chiều do phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế xảy ra ở các nước Cộng hòa
Trung Phi, Cộng hòa Congo, Gabon và Nigeria, trong khi đó tăng trưởng kinh tế dẫn
đến phát triển tài chính xảy ra ở Zambia và mối quan hệ nhân quả 2 chiều giữa phát
triển tài chính và tăng trưởng kinh tế xảy ra ở các nước Kenya, Chad, Nam Phi, Sierra
Leone và Swaziland.
Từ các bài nghiên cứu được trình bày trong 3 trường phái ta thấy đa phần các nghiên
cứu ủng hộ cho trường phái thứ 3 đó là giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
có mối quan hệ nhân quả 2 chiều, tuy nhiên các nghiên cứu được trình bày ở trường
phái thứ 3 phần lớn cho ra nhiều kết quả như vừa ủng hộ trường phái thứ 1 với trường
phái thứ 3 hoặc ủng hộ trường phái thứ 2 với trường phái thứ 3, có khi cho ra kết quả
của cả 3 trường phái. Các bài nghiên cứu cho kết quả khác nhau như vậy là vì tình hình
ở mỗi quốc gia khác nhau, mối quốc gia có chính sách kinh tế khác nhau.Vì vậy kết
quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế không
thể được khái quát chung giữa các quốc gia - đây cũng là quan điểm của Ngân hàng
Thế giới và các nghiên cứu thực nghiệm khác.

13

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu.
3.1 Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu này tiến hành kiểm chứng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế cho các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nếu kết quả cho thấy nguyên
nhân bắt đầu từ phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế thì kết quả này hỗ trợ
cho quan điểm supply – leading. Nếu kết quả cho thấy nguyên nhân bắt đầu từ tăng
trưởng kinh tế dẫn đến phát triển tài chính thì kết quả này hỗ trợ cho quan điểm
demand – following. Nếu kết quả cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát
triển tài chính và tăng trưởng kinh tế thì kết quả hỗ trợ cho quan điểm bi – directional.
3.1.1 Kiểm định nghiệm đơn vị.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng để kiểm
định tính dừng của các biến nghiên cứu. Kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng được đề
xuất bởi Maddala và Wu (1999), Choi (2001), Levin và cộng sự (2002) và Im và cộng
sự (2003). Với phương trình:
y it = µ i + τ it + ρ i y it −1 + ε it (7)

Trong phương trình (7) t = 1.....T là thời gian, i = 1.....N là số lượng các quốc gia, τ i =
giá trị ρ ước lượng/sai số của hệ số ρ , µ i là ảnh hưởng cố định của mỗi quốc gia, ρ i là
hệ số tự hồi quy, ε it là sai số. Nếu hệ số ρ i của y it −1 trong thực tế bằng 1 tức là tình
huống không dừng hay chúng ta có thể nói rằng biến ngẫu nhiên y it có nghiệm đơn vị.
Kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng được phân thành 2 loại dựa trên 2 giả định là
tham số ρ i thay đổi hoặc không đổi. Các kiểm định giả định rằng các tham số tự hồi
quy là không đổi giữa các quốc gia ( ρ i = ρ ) theo Levin và cộng sự (2002). Và theo
Maddala và Wu (1999), Choi (2001), Im và cộng sự (2003) giả định rằng các tham số
hồi quy ρ i là thay đổi giữa các quốc gia. Giả định của 2 loại kiểm định nghiệm đơn vị
là như nhau. Giải thuyết thay đổi tùy thuộc việc giả định tham số ρ i thay đổi hoặc
không đổi.

14

Đối với các kiểm định giả định ρ i là không đổi – giả thuyết H O là ρ i = 0 nghĩa là y it
là chuỗi không dừng cho tất cả chuỗi thời gian; H a là ρ i = ρ < 0 nghĩa là y it là chuỗi
dừng. Đối với các kiểm định giả định ρ i là thay đổi – giả thuyết H O là ρ i = 0 nghĩa là
y it là chuỗi không dừng cho một vài chuỗi thời gian (không nhất thiết là tất cả); H a là

ρ i < 0 nghĩa là y it là chuỗi dừng.

3.1.2 Kiểm định đồng liên kết.
Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liên kết dạng bảng theo Pedroni (1999) .
Phương trình kiểm định đồng liên kết có dạng:
y it = γ i + k it + λi x it + ε it (8)

t = 1.....T là thời gian, i = 1.....N là số lượng các quốc gia. Cố định γ i và độ dốc hệ
số λi thay đổi theo từng quốc gia.
ε it = ψ i ε it −1 + v it (9), với ψ i là hệ số tự hồi quy của phần dư ε it từ phương trình (8).

Pedroni (1999) đã phát triển bảy kiểm định đồng liên kết. Bốn kiểm định đầu tiên là
giới hạn kích thước thống kê và bốn kiểm định này được tổng hợp từ hệ số hồi quy của
các quốc gia khác nhau để kiểm định nghiệm đơn vị các phần dư ước tính. Ba kiểm
định tiếp theo là giữa kích thước thống kê và dựa trên hệ số trung bình ước tính riêng
cho từng quốc gia. Kiểm định giới hạn kích thước thống kê hay bốn kiểm định đầu tiên
với giả thuyết không có mối quan hệ đồng liên kết H O : ψ i = 1 cho tất cả chuỗi thời
gian, ngược lại với giả thuyết có mối quan hệ đồng liên kết thì H A : ψ i = ψ < 1 cho tất
cả chuỗi thời gian. Kiểm định kích thước thống kê hay ba kiểm định sau cùng với giả
thuyết không có mối quan hệ đồng liên kết H O : ψ i = 1 cho tất cả chuỗi thời gian,
ngược lại với giả thuyết có mối quan hệ đồng liên kết thì ψ i < 1 cho tất cả chuỗi thời
gian. Bài nghiên cứu sử dụng tất cả 7 thống kê được đề xuất để kiểm định đồng liên kết
theo Pedroni.