Tải bản đầy đủ
Chương 4. Kết quả nghiên cứu.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ

39
Trong 169 hộ được khảo sát thì chỉ có 01 hộ không có đất lúa sản xuất, bình
quân 01 hộ có diện tích đất lúa sản xuất khoảng 1,7 ha (17 công ruộng). Có 12 hộ
trồng thêm các loại cây khác ngoài lúa.
Bảng 4.1: Bảng thống kê đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ
Số
Biến

Mô tả biến

quan sát
(hộ)

Trung
bình

Độ
lệch

Min

Max

chuẩn

age

Tuổi

169

44.66

13.55

23

83

educ

Số năm đi học

168

5.71

3.27

0

16

member

Thành viên gia đình

169

4.63

1.26

2

10

labor

Lao động trong hộ

169

2.61

1.13

1

5

socialnet

Tham gia tổ chức xã hội

169

1.09

1.28

0

6

landrice

Diện tích đất lúa (công)

169

17.19

21.32

0

200

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169

4.1.2. Sản xuất lúa và những rủi ro gặp phải trong quá khứ.
Nhìn chung, các hộ chủ yếu trồng lúa trong khu vực điều tra, đất lúa chiếm
khoảng 96,5% diện tích đất nông nghiệp. Theo sự phân loại của địa phương thì
những nông hộ có diện đất SXNNdưới 0,6 ha (6 công) là những hộ sản xuất nhỏ,
những hộ có diện tích đất từ 0,7 - 2,5 ha là những nông hộ sản xuất trung bình và
những nông hộ có trên 2,5 ha là những hộ sản xuất lớn. Theo số liệu khảo sát thì có
47 hộ (chiếm 27,8%) có dưới 6 công đất SXNN, có 84 hộ (chiếm 49,7%) hộ có đất
SXNN từ 6-25 công đất và có 38 hộ (chiếm 22,5%) có đất SXNN.

40
Hình 4.1:Tỷ lệ hộ sử dụng đất nông nghiệp theo hộ: nhỏ, trung bình và lớn

Hộ lớn > 2,5ha
38 hộ
(22%)

Hộ nhỏ < 0,6ha
47 hộ
(28%)

Hộ TB 0,6-2,5ha
84 hộ
(50%)

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169
Có 84% số hộ (142 hộ) sản xuất 3 vụ lúa trong năm, là một tỷ lệ khá cao
trong vùng ngập lụt của tỉnh An Giang chủ yếu là do những hộ này nằm trong vùng
đê bao khép kín hoặc bán khép kín của địa phương (chiếm 89,94% số hộ); trong khi
đó, những nông hộ chỉ sản xuất 02 vụ lúa trong năm chủ yếu là sản xuất ở khu vực
ngoài đê bao hoặc trong vùng đê bao bán khép kín, những hộ này đã quen với việc
thường phải đối mặt việc ngập lụt.
Theo ghi nhận từ những nông hộ được tiến hành khảo sát thì vụ lúa Đông
Xuân có năng suất cao nhất, có 167/169 hộ sản xuất vụ lúa Đông Xuân với năng
suất bình quân 7,11 tấn/ha, do thời tiết thuận lợi và không bị ngập lụt; vụ Hè Thu
thu hoạch thường trùng với những tháng chuyển mùa từ nắng nóng sang mùa mưa
nên sâu bệnh phát triển và có năng suất thu hoạch thấp nhất trong các mùa vụ, có
168 hộ sản xuất với năng suất bình quân 5,84 tấn/ha; trong khi đó, sản xuất vụ lúa
Thu Đông thường trùng với mùa mưa lớn và ngập lụt nhất của địa phương nên có số
hộ sản xuất lúa thấp nhất (143 hộ, chiếm 84,6% số hộ điều tra), chủ yếu những hộ

41
nằm trong vùng đê bao khép kín hoặc bán khép kín, với năng suất bình quân 6,36
tấn/ha.
Bảng 4.2: Năng suất trung bình của 3 vụ lúa trong năm
Năng suất lúa

Giá trị trung
bình

Sai số chuẩn

Số quan sát

- Vụ Đông Xuân

710.7

85.30

167

- Vụ Hè Thu

584.8

81.14

168

- Vụ Thu Đông

635.8

74.99

143

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169
Theo thông tin khảo sát từ 168 hộ có sản xuất lúa thì những nông hộ trả lời
có 25 hộ (chiếm 14,9%) cho rằng năng suất lúa của họ cao hơn trung bình của xã,
121 hộ (chiếm 72,0%) cho rằng năng suất bằng trung bình của xã và 22 hộ (chiếm
13,1%) cho rằng năng suất của họ thấp hơn trung bình của xã. Thực tế cho thấy, có
20 hộ có năng suất cao hơn trung bình của xã cả 3 mùa vụ và có 41 hộ có năng suất
thấp hơn mức trung bình của xã cả 3 mùa vụ.
Theo số liệu điều tra, trong tổng số 132 hộ cho rằng lũ lụt và sâu bệnh trong
nông nghiệp là 02 loại thảm họa thường xảy ra nhất ở địa phương họ; trong đó, sâu
bệnh trong nông nghiệp thường xảy ra nhất (chiếm 54,6% số họ chorằng nó thường
xảy ra nhất), kế tiếp là lũ lụt (chiếm 31,1% số hộ). Trong 150 hộ trả lời phỏng vấn,
họ cũng cho rằng 02 loại thảm họa này gây thiệt hại nặng nhất trong 10 năm qua, có
44,7% số hộ cho rằng dịch bệnh trong nông nghiệp gây thiệt hại nặng nhất, kế tiếp
là lũ lụt (có 42% số hộ).
Khi có thiệt hại xảy ra, những nông hộ thường sử dụng các biện pháp khắc
phục như sau: có 86 hộ họ cho rằng sẽ sử dụng tiền tiết kiệm, vay mượn để khắc
phục; có 79 hộ họ cho rằng sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè, hang xóm;
một số ít hộ cũng có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương (có 49 hộ)
hoặc bán bớt tài sản để khắc phục thảm họa (có 35 hộ); những điều này khá phù hợp
so với khảo sát nhóm ban đầu là đa số cho rằng họ sẽ khắc phục những thảm họa

42
gặp phải bằng việc sử dụng tiền tiết kiệm, vay mượn hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ
người thân, bạn bè, hang xóm.Những hộ gia đình thường mất trung bình khoảng 8-9
tháng để khắc phục hậu quả gặp phải và khi thiệt hại nặng họ có thể mất đến 60
tháng để khắc phục.Số tiền thiệt hại trung bình khoảng 16,7 triệu đồng và số tiền
thiệt hại cao nhất là 100 triệu đồng.
Theo bảng câu hỏi phỏng vấn thì những nông hộ cho rằng trung bình trong
vòng 5 năm qua có 2-3 đợt lũ xảy ra, kể cả những trận lũ không gây thiệt hại; và có
123 hộ (chiếm 72,8% số hộ) cho rằng ruộng của họ bị ngập trong 5 năm qua. Khi
được hỏi về mức độ tổn thương so với nông hộ khác trong xã, thì có 65 hộ (38,5%
số hộ) cho rằng ít bị tổn thương hơn so nông hộ khác, có 70 hộ (chiếm 41,4% số hộ)
cho rằng mức độ tổn thương của gia đình họ cũng ngang bằng so các gia đình khác
và có 34 hộ (20,1% số hộ) cho rằng sẽ dễ bị tổn thương hơn so các gia đình khác
trong xã.
Hình 4.2: Tỷ lệ hộ bị tổn thương so các hộ khác trong xã

Hộ bị tổn
thương hơn
34 hộ
(20%)

Hộ ít tổn
thương
65 hộ
(39%)

Hộ trung hòa
70 hộ
(41%)

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169

43
4.1.3. Thái độ với rủi ro và kinh nghiệm về bảo hiểm.
a) Về thái độ với rủi ro.
Khi phỏng vấn viên đưa ra 02 kịch bản trò chơi về rủi ro nhận được và rủi ro
mất mát, thì đa số người dân không thích tham gia.Nhưng khi được giải thích chỉ là
trò chơi trên mặt lý thuyết thì họ miễn cưỡng tham gia.
Trong kịch bản trò chơi thứ nhất về đo lường thái độ đối với rủi ronhận được
của nông hộ, có 6 mức độ đo lường sự yêu thích rủi ro với 3 trường hợp: trường hợp
từ 1-2 thể hiện sự yêu thích rủi ro, trường hợp 3 là bàng quan hay trung lập với rủi
ro, trường hợp 4-6 là ghét rủi ro. Kết quả cho thấy, phần lớn nông dân ghét rủi ro,
điều này giải thích cho 67,46% hộ có câu trả lời từ 4-6, khá tương đồng so với kết
quả thực hiện ở 02 huyện Tân Hồng, Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp) của Trang
(2013).
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ hộ yêu thích rủi ro có được của nông hộ
80.0%

67.5%

70.0%
60.0%
50.0%
40.0%
30.0%

23.7%

20.0%
8.9%

10.0%
0.0%
Yêu thích rủi ro

Bàng quan với rủi ro

Ghét rủi ro

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169

44
Trong kịch bản trò chơi thứ hai về thái độ đối với rủi ro mất mát, cũng có 6
mức độ đo lường mức độ như trò chơi thứ nhất nhưng ngược lại và cũng chia ra 3
trường hợp: trường hợp có câu trả lời 1-2 là thể hiện thái độ ghét rủi ro mất mát,
trường hợp có câu trả lời thứ 3 là bàng quan với rủi ro và trường hợp có câu trả lời
rơi vào các câu từ 4-6 là thể hiện thái độ thích rủi ro. Kết quả cũng cho thấy là đa số
nông hộ rất ghét rủi ro mất mát, điều này giải thích có đến 97 hộ (chiếm 57,4% số
hộ) có câu trả lời rơi vào trường hợp 1-2 và chỉ có 34,9% số hộ (59 hộ) có câu trả
lời rơi vào trường hợp 4-6 (yêu thích rủi ro).
Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ hộ yêu thích rủi ro mất mát của nông hộ
70.0%
60.0%

57.4%

50.0%
40.0%

34.9%

30.0%
20.0%
7.7%

10.0%

0.0%
Ghét rủi ro mất mát

Bàng quan với rủi ro

Yêu thích rủi ro mất
mát

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169
Từ những kết quả trên cho thấy đa số nông dân trong vùng khảo sát đều
không thích rủi ro, dù đó là rủi ro mất mát hay rủi ro nhận được.
b) Kinh nghiệm về bảo hiểm.
Trong 169 hộ được hỏi, thì có 4 hộ không mua bất kỳ 1 loại bảo hiểm nào.
Trong 165 hộ có mua BH thì có đến 127 hộ (chiếm 75,15% tổng số hộ được hỏi)
mua từ 2-3 loại BH, chủ yếu là các loại BH bắt buộc như BH xe máy, BH y tế.

45

4.1.4. Sẵn sàng tham gia (WTJ) và giá sẵn lòng trả (WTP).
Hình 4.2.Mô tả tóm tắt kết quả thống kê mô tả về các câu trả lời của nông hộ
về bảng câu hỏi double-bounded dichotomous choice. Kết quả chỉ ra rằng trong
tổng số 169 hộ được phỏng vấn thì có 134 hộ (chiếm 79,29% tổng số hộ) đồng ý
tham gia chương trình bảo hiểm cây lúa và có 35 người (chiếm 20,71%) không
muốn tham gia.
Trong 134 hộ đồng ý sẵn sàng tham gia mua bảo hiểm cây lúa thì có 109 hộ
(chiếm 64,5% tổng số hộ khảo sát) đồng ý với mức giá ban đầu (B1); khi tiếp tục
được hỏi ở mức giá cao hơn (B2) so mức giá ban đầu (B1) thì có 62 người (chiếm
36,69% tổng số hộ khảo sát) đồng ý mức giá B2 và có 47 người (chiếm 27,81%)
không đồng ý mức giá đó; có 25 hộ (chiếm 14,79% số hộ được khảo sát) đồng ý
tham gia nhưng không chấp nhận mức giá ban đầu (B1), nhưng khi được hỏi ở mức
giá thấp hơn (B2) thì có 22 hộ (chiếm 13,02%) chấp nhận và có 3 hộ (chiếm 1,76%
tổng số hộ điều tra) sẵn sàng tham gia nếu nó được cung cấp miễn phí 100%.
Hình 4.5: Kết quả đánh giá ngẫu nhiên
Giá thứ hai (B2)

Giá thứ nhất (B1)



Có: 134 người
(79,29%)

WTJ



Không
Không
Không: 35 người
(20,71%)



Có: 109 người
(64,5%)

Có: 62 người
(36,69%)

Không
Không: 47
người (27,81%)

Không: 25
người (14,79%)



Không

Có: 22 người
(13,02%)

Không: 3 người
(1,76%)

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n =169

46

Trong tổng số 35 hộ (chiếm 20,71% tổng số hộ khảo sát) không muốn tham
gia mua BH cây lúa thì có hộ có nhiều lý do không mua BH; trong đó: có 14 hộ cho
rằng không biết thông tin về BH cây lúa, 12 hộ nghĩ rằng là thiên tai dịch bệnh sẽ
không ảnh hưởng đến họ, chỉ có 4 hộ cho rằng mức phí BH cao, 4 hộ cho rằng thủ
tục rườm rà, 3 hộ cho rằng chưa có ai bán BH, 3 hộ cho rằng không tin vào các
công ty BH, chỉ có 2 hộ cho rằng không biết gì về BH.
Trong tổng số 168 hộ có câu trả lời về việc mua BH cây lúa, thì chỉ có 58 hộ
(chiếm 34,5% số hộ) mua BH cây lúa; trong đó, chỉ có 2 hộ mua BH vụ Đông
Xuân, 10 hộ mua BH vụ Hè Thu và 49 hộ mua BH vụ Thu Đông; những hộ mua
BH này đa số họ cho rằng rủi ro về lũ lụt, hạn hán có thể tăng (có 52 hộ). Khi được
hỏi về việc chương trình thí điểm BH cây lúa sẽ kết thúc vào năm 2014 thì họ có
tiếp tục dự định mua BH cây lúa nữa không, thì đa số trả lời là sẽ tiếp tục mua BH
cây lúa (có 52/58 hộ trả lời có).
Trong việc đánh giá ngẫu nhiên (CV) tính hợp lý của các cá nhân đối với
mức giá ban đầu (B1) được hỏi, tôi kỳ vọng là khi mức giá B1 tăng lên sẽ làm cho
xác suất đồng ý giảm xuống.
Bảng 4.3: Tỷ lệ chấp nhận mức giá B1
Mức
giá ban
đầu
Trả lời
lần 1
Mức
giá lần
2

Trả lời
lần 2

15000 (n=39)

20000 (n=40)

30000 (n=31)

45000(n=24)

Có = 35 Không=4 Có = 35 Không=5 Có = 23 Không=8 Có = 16 Không=8
(89,74%) (10,26%) (87,50%) (12,50%) (74,19%) (25,81%) (66,67%) (33,33%)
20000

10000

30000

15000

Có = 25
(71,43%)

Có = 4
(100%)

Có = 22
(62,86%)

Có = 5
(100%)

45000

20000

65000

30000

Có = 10
Có = 7
Có = 5
Có = 6
(43,48%) (87,50%) (31,25%) (75,00%)

Không=10 Không=0 Không=13 Không=0 Không=13 Không=1 Không=11 Không=2
(28,57%)
(0%)
(37,14%)
(0%)
(56,52%) (12,50%) (68,75%) (25,25%)

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n = 169

47

Hình 4.6: Tỷ lệ % chấp nhận mức giá Bid1

Tỷ lệ % chấp nhận mức giá Bid1
100.0%
90.0%
80.0%
70.0%
60.0%
50.0%
40.0%
30.0%
20.0%
10.0%
0.0%

89.7%

87.5%
74.2%
66.7%

15000

20000

30000

45000

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n = 169
Từ trên ta nhận thấy: khi mức giá ban đầu (B1) tăng lên thì xác suất cho câu
trả lời giảm xuống. Xem xét sự ảnh hưởng của mức giá ban đầu (B1)lên xác suất
chấp nhận B1 có ý nghĩa không dựa vào mô hình probit để ước lượng.
Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa mức giá ban đầu B1 và câu trả lời 1
Hồi quy Probit

số quan sát
LR chi2(1) =
Prob > chi2 =
Pseudo R2 =

Log likelihood = -61.200232
Câu trả lời 1

Hệ số ước

Sai số

lượng

chuẩn

Mức giá ban đầu -0.0000293 0.0000115
Hằng số

z

P>

[95% Conf.

134
6.56
0.0104
0.0509
Interval]

-2.6 0.011

-0.0000518 -6.83E-06

1.675949 0.3405876 4.92 0.000

1.00841 2.343489

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n = 169

48
Từ hình trên, ta nhận thấy biến bid1 có ý nghĩa thống kê và khi mức giá B1
tăng lên thì xác suất chấp nhận giảm xuống.

4.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH WTJ.

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các biến độc lập tới WTJ
Biến

Mô tả biến

WTJ

inufarm2

=1 nếu ruộng bị ngập lớn như năm 2000,
=0 ngược lại

natural20

Biến liên tục: Khả năng xảy ra thiên
tai/dịch bệnh làm mất mùa

Rineutral

=1 bàng quan với rủi ro nhưng ghét mất
mát, =0 ngược lại

4.050**
(2.060)
-0.991*
(0.564)
-5.379*
(2.944)

buyagri51

=1 đã từng ứng phó rủi ro bằng mua
BHNN, =0 ngược lại

riceinsurance

=1 có mua BH cây lúa, =0 ngược lại

socialnet

Biến liên tục: Tham gia các tổ chức xã
hội

higherpro

=1 nghĩ năng suất cao hơn các hộ khác,
=0 ngược lại

income
mitigation1

Biến liên tục: Thu nhập của nông hộ
Hộ có biện pháp đối phó lũ lớn không

Hằng số
Số quan sát

-3.328*
(1.799)
5.757***
(2.223)
1.734*
(0.962)
-4.489**
(1.967)
-0.00577
(0.0118)
9.518***
(3.448)
-17.20**
(7.446)
169

Chú thích: * hệ số có ý nghĩa ở mức 10%; ** hệ số có ý nghĩa ở mức 5%;
*** hệ số có ý nghĩa ở mức 1%
Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n = 169.

49
Bảng 4.6: Tác động biên của các biến độc lập đến WTJ
Biến

Mô tả biến

WTJ

inufarm2

=1 nếu ruộng bị ngập lớn như năm 2000,
=0 ngược lại

natural20

Biến liên tục: Khả năng xảy ra thiên
tai/dịch bệnh làm mất mùa

1.013**
(2.060)
-0.248*
(0.564)

Rineutral

=1 bàng quan với rủi ro nhưng ghét mất
mát, =0 ngược lại

buyagri51

=1 đã từng ứng phó rủi ro bằng mua
BHNN, =0 ngược lại

riceinsurance

=1 có mua BH cây lúa, =0 ngược lại

socialnet

Biến liên tục: Tham gia các tổ chức xã
hội

higherpro

=1 nghĩ năng suất cao hơn các hộ khác,
=0 ngược lại

income
mitigation1

Biến liên tục: Thu nhập của nông hộ
Hộ có biện pháp đối phó lũ lớn không

-1.345*
(2.944)
-0.832*
(1.799)
1.439***
(2.223)
0.434*
(0.962)
-1.122**
(1.967)
-0.001
(0.0118)
2.380***
(3.448)
-17.20**
(7.446)
169

Hằng số
Số quan sát

Nguồn: kết quả phân tích bộ số liệu khảo sát n = 169

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy:
Đa số nông hộ ở huyện Châu Phú chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa, do đó,
những nông hộ nào có ruộng đã từng bị ngập lớn vào năm 2000 hoặc 2011
(inufarm2) thì sẽ có khuynh hướng tích cực trong việc sẵn sàng tham gia chương
trình mua bảo hiểm cây lúa hơn, bởi vì họ e ngại sợ gặp những tổn thất lớn tương tự
như trong quá khứ ảnh hưởng lớn đến thu nhập của họ;tác động biên của việc ruộng
từng bị ngập lụt như năm 2000 hoặc 2011 sẽ làm gia tăng 1,01%xác suất tham gia