Tải bản đầy đủ
4 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ CÓ

4 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ CÓ

Tải bản đầy đủ

21

cho nhà cung cấp sẽ làm giảm khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động của
công ty thay vì làm gia tăng chúng.
Nhóm tác giả này cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự về mối quan hệ
giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty Nhật
Bản [7]. Họ đã tiến hành phân tích 2.123 công ty phi tài chính niêm yết trên
thị trường chứng khoán Tokyo trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004.
Nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của
công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, thời gian thu tiền
khách hàng và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Ngoài ra, các nhà quản
lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách kéo dài thời gian
trả tiền cho nhà cung cấp. Tuy nhiên, các nhà quản lý nên cẩn thận khi kéo
dài thời gian thanh toán này vì có thể gây tổn hại đến uy tín và khả năng
sinh lợi của công ty trong dài hạn. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả
đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt và ROI, kỳ thu tiền khách hàng và ROI, kỳ tồn kho
hàng hóa và ROI. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty kéo dài thời
gian thanh toán cho nhà cung cấp sẽ có vị thế dòng tiền tốt hơn và khả năng
sinh lợi cao. Tuy nhiên, kết quả này có thể chỉ đúng trong ngắn hạn. Nếu
công ty tiếp tục trì trệ trong thanh toán thì uy tín và lợi nhuận của công ty
sẽ bị tác động tiêu cực trong dài hạn.


Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả

năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens
[8], các tác giả Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis đã sử dụng một
mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens (ASE –
Athens Stock Exchange) trong giai đoạn 2001 – 2004. Mục đích của bài
nghiên cứu này là thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng
sinh lợi, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó đối với
những công ty niêm yết trên ASE. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan

22

hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi, được đo
lường bởi lợi nhuận hoạt động gộp và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, được sử
dụng để đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển. Do đó, dường như
khả năng sinh lợi cho thấy cách các nhà quản lý quản lý vốn luân chuyển
của công ty như thế nào. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy lợi nhuận hoạt
động gộp thấp hơn có liên quan đến sự kéo dài thời gian trả nợ. Như vậy,
có thể kết luận rằng những công ty có khả năng sinh lợi thấp hơn sẽ kéo dài
hơn thời gian thanh toán hóa đơn để chiếm dụng vốn của nhà cung cấp.
Ngoài ra, mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ phải thu khách hàng và khả
năng sinh lợi của công ty cho thấy những công ty có khả năng sinh lợi thấp
sẽ giảm thời gian thu tiền khách hàng nhằm rút ngắn khoảng cách tiền mặt
trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Tương tự, mối quan hệ nghịch biến giữa
kỳ tồn kho hàng hóa và khả năng sinh lợi của công ty cho thấy trong trường
hợp doanh thu sụt giảm đột ngột kèm theo một sự quản trị tồi hàng tồn kho
sẽ dẫn đến ứ đọng vốn hoạt động. Do đó, các nhà quản lý có thể tạo ra lợi
nhuận cho công ty bằng cách quản lý chu kỳ chuyển đổi tiền mặt một cách
phù hợp và duy trì mỗi thành phần (tài khoản phải thu khách hàng, phải trả
người bán và hàng tồn kho) ở mức tối ưu.


Trong bài nghiên cứu “Tác động của quản lý vốn luân chuyển lên

khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ” [10], nhóm tác giả
Pedro Juan Garcia-Teruel và Pedro Martinez-Solano đã tiến hành khảo sát
8.872 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha từ năm 1996 đến năm
2002. Mục tiêu của bài nghiên cứu được trình bày ở đây là nhằm cung cấp
bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả
năng sinh lợi của một mẫu các công ty có qui mô vừa và nhỏ ở Tây Ban
Nha. Kết quả nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho
công ty bằng cách giảm số ngày thu tiền khách hàng và giảm thời gian tồn
kho hàng hóa. Tương tự, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng
làm tăng khả năng sinh lợi của công ty. Quản trị vốn luân chuyển đặc biệt

23

quan trọng trong trường hợp các công ty có qui mô vừa và nhỏ. Hầu hết tài
sản của những công ty này ở hình thức tài sản lưu động. Tương tư, nợ ngắn
hạn là một trong những nguồn tài trợ từ bên ngoài chủ yếu của công ty.
Những nghiên cứu trước đây thường tập trung vào những công ty lớn còn
bài nghiên cứu này phân tích vai trò quan trọng của quản trị vốn luân
chuyển trong việc tạo ra giá trị ở các công ty có qui mô vừa và nhỏ. Kết
quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch biến và có ý nghĩa thống
kê giữa khả năng sinh lợi của các công ty có qui mô vừa và nhỏ với thời
gian thu tiền khách hàng và thời gian tồn kho hàng hóa. Tuy nhiên, nhóm
tác giả chưa thể khẳng định kỳ thanh toán cho người bán có tác động lên
ROA của các công ty có qui mô vừa và nhỏ vì mối quan hệ này không có ý
nghĩa thống kê khi kiểm soát những vấn đề nội sinh.

24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản trị vốn luân chuyển có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra giá trị
cho công ty. Vốn luân chuyển bao gồm các tài sản ngắn hạn chủ yếu của
công ty chẳng hạn như các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tiền
mặt. Các công ty thường bán chịu hàng hóa, do đó, họ phải mất nhiều tuần
thậm chí nhiều tháng mới được khách hàng thanh toán. Các nhà quản lý
phải thiết lập các điều kiện bán chịu, quyết định sẽ cấp tín dụng cho khách
hàng nào và bảo đảm rằng họ sẽ thanh toán đúng hạn. Bên cạnh đó, để quá
trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, công ty phải dự trữ nguyên
vật liệu thô, bán thành phẩm và thành phẩm. Tuy nhiên, việc dự trữ các loại
hàng tồn kho này đòi hỏi một chi phí đáng kể đồng thời làm ứ đọng vốn.
Do đó, quản trị hàng tồn kho là sự cân đối giữa lợi ích và chi phí của việc
nắm giữ một lượng lớn hàng tồn kho. Ngoài ra, để đảm bảo cho nhu cầu
thanh toán, công ty phải duy trì một số dư tiền mặt hợp lý. Các quyết định
về tín dụng thương mại, sản xuất và tiền mặt có liên quan chặt chẽ với nhau
trong việc quản trị vốn luân chuyển nhằm tạo ra một tổng thể tốt cho công ty.

25

CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Dựa trên phương pháp luận đã trình bày ở chương trước, phần thiết kế
nghiên cứu bao gồm cách thức thu thập và xử lý dữ liệu để có được mẫu
hoàn chỉnh dùng cho nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các giả thiết
nghiên cứu, cách thức xây dựng mô hình kinh tế lượng và mô tả các biến
được sử dụng trong mô hình.
2.1

DỮ LIỆU

Nguồn dữ liệu sử dụng cho đề tài này được lấy từ trang web của các công
ty chứng khoán: Công ty cổ phần chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
(www.hsc.com.vn), Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn
Thương Tín (www.sbsc.com.vn), Công ty cổ phần chứng khoán FPT
(www.fpts.com.vn) và Công ty cổ phần Vinabull (www.vinabull.com).
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu được trích từ các báo cáo tài chính hàng năm
của các công ty niêm yết gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và
báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Cụ thể, dữ liệu bao gồm các chỉ tiêu tài chính
sau: tổng tài sản, tài sản lưu động, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, phải
trả người bán, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu, doanh thu, giá vốn
hàng bán, lợi nhuận ròng và dòng tiền hoạt động.
Dữ liệu này được sử dụng để tính toán thời gian thu tiền khách hàng, thời
gian chuyển đổi hàng tồn kho, thời gian thanh toán cho người bán, chu kỳ
tiền mặt, tỉ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, tỉ lệ dòng tiền hoạt động trên
doanh thu, tỉ số thanh toán nhanh, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng
doanh thu và quy mô công ty.

26

Các công ty thuộc nhóm ngành “Các dịch vụ và sản phẩm tài chính” hoạt
động trong lĩnh vực bảo hiểm, các dịch vụ tài chính cho thị trường vốn và
hoạt động kinh doanh bất động sản không nằm trong phạm vi nghiên cứu
của bài này. Ngoài ra, các quan sát thiếu số liệu hoặc có giá trị dị biệt,
không có tính đại diện bị loại ra khỏi mẫu.
Mẫu nghiên cứu cuối cùng bao gồm 365 công ty phi tài chính niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể gồm 178 công ty niêm yết trên Sở
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và 187 công ty
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2008 đến
năm 2010.
2.2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu này là một nghiên cứu định lượng dựa trên phương pháp
bình phương bé nhất thông thường (OLS – Ordinary Least Square). Bộ dữ
liệu nghiên cứu sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 để chạy ra mô
hình hồi quy ước lượng mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển với
dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của công ty. Sau đó, dựa trên kết
quả hồi quy nhận được, tác giả đưa ra một số đề xuất chính sách nhằm cải
thiện dòng tiền hoạt động và khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết.
2.3

GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu này dựa trên hai nhóm giả thiết sau:
Nhóm 1:
H1: Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) sẽ làm tăng dòng
tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của CCC có ý nghĩa thống kê và
mang dấu (-)

27

H2: Rút ngắn kỳ thu tiền khách hàng (RCP) sẽ làm tăng dòng tiền
hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của RCP có ý nghĩa thống kê và
mang dấu (-)
H3: Rút ngắn kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (ICP) sẽ làm tăng dòng
tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của ICP có ý nghĩa thống kê và
mang dấu (-)
H4: Rút ngắn kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (PDP) sẽ làm tăng
dòng tiền hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của PDP có ý nghĩa thống
kê và mang dấu (-)
Nhóm 2:
H5: Rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) sẽ làm tăng hiệu
quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của CCC có ý nghĩa thống kê và
mang dấu (-)
H6: Rút ngắn kỳ thu tiền khách hàng (RCP) sẽ làm tăng hiệu quả
hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của RCP có ý nghĩa thống kê và
mang dấu (-)
H7: Rút ngắn kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (ICP) sẽ làm tăng hiệu quả
hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của ICP có ý nghĩa thống kê và mang
dấu (-)
H8: Rút ngắn kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (PDP) sẽ làm tăng
hiệu quả hoạt động của công ty, nghĩa là hệ số của PDP có ý nghĩa thống
kê và mang dấu (-)
2.4

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mô hình 1:
Để phân tích tác động của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần
của nó lên dòng tiền hoạt động của công ty, tác giả sử dụng tỉ số dòng tiền
hoạt động trên doanh thu (OCFTS) làm biến phụ thuộc. Sau đó, tiến hành
hồi quy lần lượt các biến độc lập gồm: chu kỳ tiền mặt (CCC), kỳ phải thu