Tải bản đầy đủ
3 KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY

3 KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY

Tải bản đầy đủ

18

Nói chung, lợi nhuận biên phản ánh khả năng một công ty có thể sản xuất
ra một sản phẩm hoặc dịch vụ với chi phí thấp hoặc bán được với giá cao.
Lợi nhuận biên không phải là cách tính trực tiếp khả năng sinh lợi bởi vì
cách tính này dựa trên tổng doanh thu hoạt động chứ không phải dựa trên
các khoản đầu tư vào tài sản của công ty. Các công ty thương mại thường
có lợi nhuận biên thấp trong khi các công ty dịch vụ có lợi nhuận biên rất cao.
Tỉ suất sinh lợi trên tài sản (ROA – Return On Assets)
ROA là một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tư vào
công ty. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi
nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản trung bình. Cách
tính toán hiệu quả hoạt động này tương đối phổ biến.
Theo hệ thống kiểm soát tài chính Dupont thì:
ROA = Lợi nhuận biên x Vòng quay tài sản
Do đó, các công ty có thể tăng ROA bằng cách tăng lợi nhuận biên hoặc
tăng vòng quay tài sản.
ROA cho biết lợi nhuận sinh ra từ vốn đã đầu tư. ROA của các công ty
niêm yết có thể khác nhau một cách đáng kể và sẽ phụ thuộc nhiều vào
ngành. Khi sử dụng ROA như là một thước đo so sánh, tốt nhất là so sánh
nó với ROA của các năm trước hoặc ROA của một công ty tương tự.
Tài sản của công ty gồm có cả nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai loại này đều
được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Con số ROA cho
nhà đầu tư biết hiệu quả của việc chuyển đổi số tiền công ty đã đầu tư
thành thu nhập ròng. ROA càng cao càng tốt bởi vì điều đó chứng tỏ công
ty tạo ra nhiều lợi nhuận hơn trên số vốn đã đầu tư. Ví dụ, nếu một công ty
có thu nhập ròng là 1 triệu USD và tổng tài sản là 5 triệu USD thì ROA là
20%; tuy nhiên, nếu một công ty khác có lợi nhuận tương tự nhưng có tổng
tài sản là 10 triệu USD, nó có ROA là 10%. Vậy công ty đầu tiên đã làm tốt

19

hơn trong việc chuyển đổi vốn đầu tư thành lợi nhuận. Công việc quan
trọng nhất của nhà quản lý là đưa ra sự lựa chọn sáng suốt trong việc phân
bổ nguồn lực công ty. Người ta có thể tạo ra lợi nhuận khi đầu tư hàng
đống tiền nhưng rất ít nhà quản lý thành công trong việc tạo ra lợi nhuận
lớn với số tiền đầu tư nhỏ.
Tỉ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equity)
ROE là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện khả năng tạo ra
lợi nhuận của 1 đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty. ROE từ 15% đến
20% được xem là tốt. Lợi ích từ lợi nhuận được tái đầu tư trong công ty có
tỉ lệ ROE cao sẽ tạo ra một tốc độ tăng trưởng cao cho công ty.
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng (sau thuế và lãi vay)
chia cho vốn cổ đông thường. Lợi nhuận ròng được tính trước khi trả cổ tức
cho cổ đông thường nhưng sau khi trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi và vốn cổ
đông thường không bao gồm cổ phiếu ưu đãi. ROE còn được gọi là lợi
nhuận trên tài sản ròng (RONW – Return On Net Worth). So với nhiều tỉ số
tài chính, ROE rất hữu ích cho việc so sánh khả năng sinh lợi của một công
ty với các công ty khác trong cùng một ngành.
Nhà đầu tư có thể sử dụng nhiều cách biến đổi công thức tính như sau:
1.

Nếu họ muốn thấy lợi nhuận trên vốn cổ phần thường thì có thể thay

đổi công thức trên bằng cách trừ cổ tức ưu đãi khỏi thu nhập ròng và trừ
vốn cổ phần ưu đãi khỏi vốn cổ đông sẽ tính được lợi nhuận trên vốn cổ
phần thường (ROCE – Return On Common Equity) theo công thức sau:
ROCE = (Thu nhập ròng – Cổ tức ưu đãi)/ Vốn cổ phần thường
2.

ROE cũng có thể được tính bằng cách chia thu nhập ròng cho vốn cổ

đông bình quân. Vốn cổ đông bình quân được tính bằng cách cộng vốn cổ
đông ở thời điểm đầu kỳ với vốn cổ đông ở thời điểm cuối kỳ rồi chia 2.

20

3.

Nhà đầu tư cũng có thể tính sự thay đổi của ROE trong một kỳ bằng

cách sử dụng số liệu vốn cổ đông ở đầu kỳ làm mẫu số để xác định ROE
đầu kỳ. Sau đó, vốn cổ đông cuối kỳ sẽ được sử dụng làm mẫu số để xác
định ROE cuối kỳ. Tính toán cả ROE đầu kỳ và cuối kỳ sẽ cho phép nhà
đầu tư xác định sự thay đổi về khả năng sinh lợi trong kỳ.
Sự khác nhau giữa ROA và ROE tùy thuộc vào việc công ty có sử dụng
vốn vay hay không vì đòn bẩy tài chính làm khuếch đại ROE. Nếu công ty
không có vốn vay thì hai tỉ số này sẽ bằng nhau.
1.4

NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÃ CÓ

Các quyết định về lượng hàng hóa tồn kho và kỳ hạn thu nợ khách hàng
cũng như kỳ hạn trả nợ cho người bán được phản ánh trong chu kỳ chuyển
đổi tiền mặt của công ty. Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng chỉ tiêu này
để phân tích xem liệu rằng việc rút ngắn chu kỳ tiền mặt có tác động tiêu
cực hay tích cực lên khả năng sinh lợi của công ty. Nội dung chính của
những bài nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:


Trong bài “Quản lý vốn luân chuyển, dòng tiền hoạt động và hiệu

quả hoạt động của công ty”[6], hai tác giả Haitham Nobanee và Maryam
AlHajjar đã tiến hành phân tích 5.802 công ty phi tài chính niêm yết trên
thị trường chứng khoán New York, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, thị
trường chứng khoán NASDAQ và thị trường OTC trong giai đoạn từ năm
1990 đến năm 2004 (87.030 quan sát). Mối quan hệ giữa quản lý vốn luân
chuyển, dòng tiền hoạt động và hiệu quả hoạt động của công ty được kiểm
định bằng cách sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng năng động.
Kết quả nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng khả năng sinh
lợi và dòng tiền hoạt động của công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển
đổi tiền mặt và kỳ thu tiền khách hàng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy
việc rút ngắn thời gian tồn kho hàng hóa và kéo dài thời gian thanh toán

21

cho nhà cung cấp sẽ làm giảm khả năng sinh lợi và dòng tiền hoạt động của
công ty thay vì làm gia tăng chúng.
Nhóm tác giả này cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự về mối quan hệ
giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty Nhật
Bản [7]. Họ đã tiến hành phân tích 2.123 công ty phi tài chính niêm yết trên
thị trường chứng khoán Tokyo trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004.
Nghiên cứu cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của
công ty bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, thời gian thu tiền
khách hàng và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Ngoài ra, các nhà quản
lý có thể gia tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách kéo dài thời gian
trả tiền cho nhà cung cấp. Tuy nhiên, các nhà quản lý nên cẩn thận khi kéo
dài thời gian thanh toán này vì có thể gây tổn hại đến uy tín và khả năng
sinh lợi của công ty trong dài hạn. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả
đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt và ROI, kỳ thu tiền khách hàng và ROI, kỳ tồn kho
hàng hóa và ROI. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty kéo dài thời
gian thanh toán cho nhà cung cấp sẽ có vị thế dòng tiền tốt hơn và khả năng
sinh lợi cao. Tuy nhiên, kết quả này có thể chỉ đúng trong ngắn hạn. Nếu
công ty tiếp tục trì trệ trong thanh toán thì uy tín và lợi nhuận của công ty
sẽ bị tác động tiêu cực trong dài hạn.


Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả

năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens
[8], các tác giả Ioannis Lazaridis và Dimitrios Tryfonidis đã sử dụng một
mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens (ASE –
Athens Stock Exchange) trong giai đoạn 2001 – 2004. Mục đích của bài
nghiên cứu này là thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng
sinh lợi, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó đối với
những công ty niêm yết trên ASE. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan