Tải bản đầy đủ
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ

6

riêng của họ (Jensen, 1986; Dittmar et al., 2003; Guney et al., 2007). Động cơ chi
phí giao dịch cho thấy rằng các công ty giữ tiền mặt vì chuyển đổi tài sản thành tiền
đòi hỏi chi phí giao dịch (Miller và Orr, 1966; Opler và cộng sự, 1999). Động cơ
phòng ngừa khẳng định rằng các công ty giữ tiền mặt để tránh tình trạng thiếu hụt
trong tương lai của tiền mặt cho chi tiêu đầu tư vì sử dụng nguồn tài chính bên
ngoài là tốn kém hơn sử dụng nguồn vốn nội bộ do sự hiện diện của thông tin bất
cân xứng (Myers và Majluf, 1984; Kim và cộng sự, 1998; . . Opler và cộng sự,
1999). Động cơ thuế cho rằng các doanh nghiệp có thể lo lắng về thuế cổ tức sẽ bị
tăng gấp đôi khi tiền được chuyển từ công ty cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức,
thu nhập bị đánh thuế hai lần: đầu tiên, vào cuối năm khi các công ty phải nộp thuế
thu nhập, và thứ hai, khi lợi nhuận sau thuế được phân phối cho cổ đông phải nộp
thuế thu nhập cổ tức. Để tránh thuế cổ tức, các doanh nghiệp có thể thích giữ tiền
mặt thay vì trả tiền cho các cổ đông.
Tiền mặt đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của một doanh
nghiệp vì nó là tài sản có tính thanh khoản cao nhất dùng để đo lường khả năng
thanh toán của công ty. Tuy nhiên việc nắm giữ tiền sẽ tạo ra chi phí bao gồm: chi
phí do không có khả năng sinh lời, chi phí lạm phát, chi phí cơ hội của khoản lợi
nhuận bị mất đi khi dùng tiền mặt để đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có
sẵn lượng tiền cần thiết cho hoạt động sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và có
thể dẫn đến nguy cơ phá sản. Vì vậy quản trị tiền mặt là nội dung quan trọng trong
quản trị tài chính và đã có rất nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về quản trị
tiền mặt. Lý thuyết quản trị tiền mặt được trình bày ở một số giáo trình như “Tài
chính doanh nghiệp hiện đại” (2007) của TS. Trần Ngọc Thơ (chương 28, 30);
“Quản trị tài chính doanh nghiệp” (2007) của tác giả Nguyễn Hải Sản (chương 15)
…. Ngoài ra, còn có rất nhiều giáo trình nước ngoài trình bày chuyên sâu, chi tiết
các vấn đề liên quan đến tiền mặt, dòng tiền mặt trong doanh nghiệp và quản trị tiền
mặt như: Cuốn Corporate Finance –Theory and Practice (second edition) (2001) của
Aswath Damodaran; cuốn Short-Term Financial Management (third edition) (2005)
của Terry S. Maness và John T.

7

2.1.2 Lý thuyết chi phí đại diện:
Chi phí đại diện là chi phí phát sinh do sự mâu thuẫn giữa mục đích của
người quản trị và người sở hữu trong một công ty. Người đại diện là người làm việc
thay mặt cho người sở hữu công ty. Xuất phát từ việc phân định giữa quyền sở hữu
và quyền quản lý, chính sự mâu thuẫn mục tiêu này sẽ làm cho các nhà quản lý
không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa tài sản công ty, từ đó các cổ đông sẽ
gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của
họ. Do cổ đông của công ty không hoặc có rất ít điều kiện giám sát thường xuyên
từng hành động của người quản trị, dẫn đến việc phát sinh tình trạng thông tin bất
cân xứng, từ đó gây ra các vấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch.
Việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp có liên quan đến xung đột lợi ích
giữa nhà quản lý và các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp từ quan điểm của
quản trị doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở của lý thuyết đại diện, Jensen (1986) cho thấy
các nhà quản lý có động cơ gia tăng tài sản thuộc quyền kiểm soát của họ, chứ
không phải là để trả tiền cổ tức cho các cổ đông bên ngoài.
Những công ty với cơ hội tăng trưởng cao thì sẽ có chi phí đại diện cao, do
đó, để chủ động trong nguồn vốn, họ sẽ có khuynh hướng dự trữ thêm tiền mặt. Nếu
có xung đột giữa ban quản trị và cổ đông, ban quản trị có khuynh hướng dự trữ càng
nhiều tiền mặt nếu có thể để theo đuổi mục tiêu của họ. Hơn nữa, ban quản trị cũng
có thể nắm giữ thêm tiền mặt bởi vì không ưa thích rủi ro. Những nhà quản trị tư lợi
sẽ có khuynh hướng nắm giữ nhiều hơn tiền mặt bởi vì họ có thể tránh quy luật thị
trường và giảm khả năng xảy ra mất việc.
2.1.3 Lý thuyết trật tự phân hạng - Thông tin bất cân xứng:
Lý thuyết trật tự phân hạng bắt đầu với thông tin bất cân xứng – khi các giám
đốc biết nhiều về tiềm năng, rủi ro và các giá trị của Công ty mình hơn là nhà đầu tư
bên ngoài. Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và
Majluf (1984) cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp.
Giả thuyết rằng ban quản trị biết nhiều về hoạt động tương lai của doanh nghiệp

8

hơn là các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng). Dựa trên thông tin bất
cân xứng, Myers và Majluf (1984) cho rằng các công ty nên theo một trật tự tài
chính để giảm thiểu chi phí liên quan đến thông tin bất cân xứng. Trật tự bắt đầu với
các nguồn nội bộ và các công ty sẽ sử dụng các nguồn bên ngoài sau khi các nguồn
nội bộ đã cạn kiệt. Myers (1984) đề xuất rằng các công ty nên tài trợ bên ngoài bằng
nợ hơn là phát hành cổ phiếu, vì nợ có chi phí thấp hơn so với vốn tài chính. Theo
Myers và Majluf (1984) cho rằng khi bất cân xứng thông tin, việc công ty huy động
nguồn tài chính ở bên ngoài sẽ tốn kém hơn nên khuyến khích họ giữ tiền mặt để
đầu tư và duy trì cân đối hoạt động.
2.2 Chất lƣợng thu nhập và đo lƣờng chất lƣợng thu nhập:
2.2.1 Chất lƣợng thu nhập
Chất lượng thu nhâp là một khía cạnh quan trọng đánh giá sức khỏe tài chính
của một công ty. Chất lượng thu nhập đề cập đến khả năng báo cáo thu nhập phản
ánh thu nhập thực sự của công ty, cũng như tính hữu ích của báo cáo thu nhập để dự
đoán thu nhập trong tương lai. Chất lượng thu nhập cũng đề cập đến sự ổn định, bền
vững, và không thay đổi trong thu nhập được báo cáo. Việc đánh giá thu nhập là rất
khó, bởi vì các công ty có rất nhiều con số thu nhập như: doanh thu, lợi nhuận hoạt
động, thu nhập ròng… Các nhà phân tích cần có một cơ sở phù hợp để đánh giá.
Chất lượng thu nhập thể hiện một khía cạnh quan trọng của lợi nhuận kế toán
bởi vì chất lượng thu nhập kém có thể dẫn đến cung cấp không chính xác các khoản
tín dụng từ các chủ nợ và phân bổ nguồn lực không tối ưu đến kế hoạch với lợi
nhuận không có thật và do đó sẽ làm giảm sự tăng trưởng kinh tế. Vì vậy chất lượng
thu nhập có ý nghĩa quan trọng và cần được nghiên cứu.
Thu nhập và dòng tiền có sự khác nhau cơ bản như sau:
Thu nhập ròng (Lợi nhuận ròng) = Doanh thu – Chi phí
Dòng tiền ròng = Dòng tiền thu vào – Dòng tiền chi ra
Như vậy, sẽ có những trường hợp doanh nghiệp có lợi nhuận nhưng dòng

9

tiền lại bị âm và ngược lại. Nguyên nhân là do các trường hợp như sau: doanh
nghiệp bán hàng tăng lợi nhuận nhưng chưa thu được tiền, mua hàng làm tăng chi
phí nhưng chưa thanh toán... Tuy nhiên, thu nhập sẽ cung cấp thông tin về dòng
tiền; Từ thu nhập hiện hành có thể xác định dòng tiền trong tương lai, việc ước
lượng dòng tiền dựa trên tính toán thời gian dự kiến thu được tiền. Vì vậy chất
lượng thu nhập là yếu tố quan trọng, chứa đựng nhiều thông tin cho các nhà quản lý
bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.
Nếu có mối quan hệ trực tiếp giữa sự bất cân xứng thông tin và mức độ nắm
giữ tiền mặt, và chất lượng thu nhập xác định thông tin bất cân xứng được chấp
thuận, có thể kết luận rằng có thể chuyển đổi mối quan hệ ngược giữa chất lượng
thu nhập và mức độ nắm giữ tiền trong các công ty. Các công ty với chất lượng thu
nhập tốt có xu hướng giữ ít tiền mặt so với các công ty có chất lượng thu nhập kém.
Chất lượng thu nhập kém chứa đựng nhiều thông tin rủi ro về dòng tiền trong tương
lai, thiếu thông tin đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư bên ngoài nên các công ty
giữ lượng tiền nhiều hơn mức độ thông thường vì động cơ phòng ngừa. Chất lượng
thu nhập có liên quan đến Bất cân xứng thông tin.
Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng thu nhập. Teets (2002) nói rằng một số
xem xét chất lượng của các khoản thu nhập qua các hoạt động kinh tế cơ bản của
một công ty, cũng như các chuẩn mực kế toán mà báo cáo về hiện tượng cơ bản;
một số khác xem xét chất lượng thu nhập chỉ đề cập đến làm thế nào để hạch toán
thu nhập chuyển tải thông tin về hiện tượng cơ bản. Pratt (2003) định nghĩa chất
lượng thu nhập là mức độ mà thu nhập ròng trên báo cáo kết quả kinh doanh khác
với lợi nhuận thực sự của nó. Penman (2003) cho rằng chất lượng của các khoản thu
nhập được dựa trên chất lượng của các khoản thu nhập trước cũng như báo cáo thu
nhập hiện tại. Schipper và Vincent (2003) xác định chất lượng thu nhập là mức độ
báo cáo thu nhập thể hiện đầy đủ thu nhập bao gồm sự thay đổi giá trị tài sản ròng
khác hơn là từ các giao dịch với chủ sở hữu.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các biện pháp khác nhau để chỉ ra '' chất