Tải bản đầy đủ
4 NHTM Việt Nam và những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc về nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

4 NHTM Việt Nam và những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc về nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

Tải bản đầy đủ

28

vào năm 2004 và kiểm soát 56% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Trung Quốc do đó
cơ cấu lại nợ xấu lúc bấy giờ là nhiệm vụ cấp bách đối với Trung Quốc.
- Chính phủ Trung Quốc đã chọn CCB và BOC thực hiện cổ phần hóa đầu tiên do 2
ngân hàng này dường như làm ăn đỡ bê bết nhất. Ba quý đầu năm 2003 BOC và CCB
công bố lợi nhuận lần lượt là 2,4 tỷ USD và 1,08 tỷ USD. Tất cả lợi nhuận đều được bù
đắp vào các khoản nợ quá hạn. Tháng 6/2004, CCB và BOC đã xử lý 300 tỷ RMB
(tương đương 36,2 tỷ USD) nợ khó đòi, giảm tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74% và
chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng.
- Tháng 5/2006, ICBC cũng bán cổ phiếu ra công chúng và trở thành ngân hàng
Trung Quốc có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, chiếm 8,89% vốn điều lệ. CAR
tăng lên tới 10,26% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 4,43% gần tới mức 1-2% của ngân
hàng nước ngoài.
Sau khi xử lý và đưa tỷ lệ nợ xấu ở mức hợp lý, các NHTM tiến hành cổ phần hóa và
phát hành cổ phiếu ra công chúng và tìm cổ đông chiến lược nước ngoài. Đối tác chiến
lược nước ngoài là những tổ chức tài chính lớn từ các nước Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
nhằm cải thiện cơ cấu tổ chức cổ đông trong NHTM vốn chỉ có các cổ đông trong nước,
thông qua đó hút vốn, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quan hệ quốc tế, nâng cao khả
năng sinh lời. Tuy nhiên, tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong NHTM cũng bị
khống chế ở mức tối đa khoảng 30%. Tiếp đến, các NHTM tập trung vào hoàn thành cơ
chế quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế, đa dạng hóa các dịch vụ
ngân hàng tiện ích, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kế toán, hệ thống thông
tin quản lý khác theo tiêu chuẩn quốc tế.
Về sản phẩm dịch vụ: Nhận thức được việc sau khi gia nhập WTO, cạnh tranh trong
hệ thống ngân hàng đang là sức ép lớn với việc NHNNg tham gia càng nhiều vào thị
trường tài chính Trung Quốc thì các ngân hàng thương mại Trung Quốc sẽ gặp bất lợi
lớn do hạn chế về công nghệ dịch vụ ngân hàng. Điển hình, Trung Quốc đã đưa ra ngay
chiến lược dài và hiệu quả mang tên “chiến lược xi măng và con chuột” là việc kết hợp
giữa công việc mở rộng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng điện tử (nhanh, tiện lợi) với
khả năng bảo mật an toàn cao. ICBC là ngân hàng đầu tiên triển khai chiến lược này, họ
đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến lên gấp 2 lần và chỉ trong 2 năm từ tháng
12/2003, thu được giá trị giao dịch lên 4 tỷ RMB (482 triệu USD)/ngày. Chiến lược này

29

càng được ứng dụng lan rộng với các ngân hàng nội địa với qui mô và tính bảo mật luôn
được cải thiện và đến nay đã thu được kết quả rất tốt trong dịch vụ này.
 Đối với các NHNNg: Sau khi gia nhập WTO, những hạn chế đối với NHNNg
từng bước được nới lỏng và bãi bỏ như: Hạn chế về tài sản Nợ bằng RMB, giới hạn về tỷ
lệ tiền gửi ngoại tệ từ nguồn trong nước, hạn chế về đối tượng khách hàng đối với hoạt
động kinh doanh ngoại tệ… Ngoài ra, các NHNNg có thể tự lựa chọn hình thức hoạt
động phù hợp tại Trung Quốc theo chiến lược kinh doanh của mình, Trung Quốc còn
khuyến khích các NHNNg thành lập các ngân hàng con tại địa phương hoặc chuyển đổi
các chi nhánh hiện tại thành các ngân hàng con. Các pháp nhân thành lập tại địa phương
của các NHNNg được phép cung cấp tất cả các dịch vụ bằng ngoại tệ và nội tệ, được
hưởng qui chế đối xử như các ngân hàng Trung Quốc, đồng thời còn khuyến khích các
NHNNg áp dụng các hình thức hoạt động đa dạng phát triển ở Trung Quốc.
 Trung Quốc cũng nhận thức được rằng trong quá trình mở cửa sẽ phát sinh nhiều
rủi ro khác nhau cho nên đã chú trọng rất nhiều đến các phương pháp thanh tra hệ thống,
đa dạng và đặc thù để đảm bảo an toàn lành mạnh cho hệ thống ngân hàng, trong đó việc
yêu cầu tính minh bạch cao trong các ngân hàng được chú trọng nhiều. Trung Quốc
hướng tới việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy
ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra. Vào tháng 3/2003, Quốc vụ viện quyết định tách
bỏ chức năng điều tiết và giám sát các tổ chức ngân hàng, các công ty quản lý tài sản,
các công ty ủy thác và đầu tư, các tổ chức tài chính có nhận tiền gửi khác ra khỏi PBC.
Một ủy ban chuyên trách trực thuộc Quốc vụ Viện – “Ủy ban quản lý và giám sát ngân
hàng Trung quốc” (CBRC) đã chính thức được thành lập vào tháng 4/2003 để thực thi
nhiệm vụ này. Khi dư nợ các khoản vay mới trong năm 2009 của Trung Quốc lên tới con
số kỷ lục là 1,4 nghìn tỷ USD, con số này làm các nhà điều hành lo ngại về khả năng
chống đỡ các cuộc khủng hoảng của hệ thống tài chính Trung Quốc. CBRC đang đề
xuất dự thảo về mức an toàn vốn chung cho các ngân hàng nhỏ nhằm đối phó với biến
đổi kinh tế với tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu là 8% trên tổng tài sản Có rủi ro, CAR là 10%.
Dự thảo qui định dự phòng vốn lên đến 4% trên tổng tài sản Có rủi ro, nhưng đối với
ngân hàng được cho là quan trọng trong hệ thống thì phải duy trì thêm tỷ lệ 1% so với
NHTM khác. Hiện nay, tỷ lệ an toàn vốn tại các NHTM lớn của Trung Quốc đang thực
hiện mức an toàn vốn tối thiểu là 11,5% và các ngân hàng này có thể phải tăng lên 15%
vào năm 2012.

30

1.4.2 NHTM Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc.
1.4.2.1 Sơ lược về NHTM Việt Nam.
Số lượng các NHTM cho đến nay đã tăng nhanh gồm 36 NHNNg, 6 ngân hàng liên
doanh, 37 ngân hàng cổ phần, 6 NHTM Nhà nước (bao gồm Vietcombank và
Vietinbank), nâng tổng vốn đang ký đã tăng hơn 12 lần, tổng tài sản và tiền gửi tăng hơn
16 lần và các khoản vay tăng 14 lần tính đến cuối năm 2009 (Nguồn: Chiến lược tổng
thể phát triển ngành dịch vụ Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Thật
sự, khi nhìn vào con số báo cáo ta thấy các NHTM Việt Nam đã có những thay đổi lớn,
song so với các ngân hàng trong khu vực thì năng lực tài chính vẫn còn rất khiêm tốn, ta
có thể tham khảo bảng dưới đây:
Bảng 1.1: Tổng TS và vốn tự có của các NHTM Việt Nam và Trung Quốc năm 2009
Đơn vị: Tỷ USD; Tỷ giá: USD-RMB: 6,93, USD-VND: 19.500)
Chỉ
NHTM Việt nam
NHTM Trung quốc
tiêu
VCB
CTG
BIDV
ICBC
CCB
BOC
ABC
Tổng TS
13,00
12,50
15,00 1.700,00
1.388,60
1.253,16 1.281,81
VTC
0,86
0,65
0,72
388,14
649,35
366,29
488,27
(Nguồn:Trang web của các NHTM và theo tính toán của tác giả)
Để chuẩn bị cho hội nhập kinh tế, vào năm 2001, NHNN đã xây dựng đề án cơ cấu
lại hệ thống các NHTM Nhà nước thông qua cổ phần hóa nhằm xây dựng NHTM Nhà
nước thành tập đoàn tài chính có qui mô lớn, hoạt động đa năng, hiện đại và đóng vai trò
chủ đạo trong lĩnh vực ngân hàng chuẩn bị cho hội nhập. Tuy nhiên, tiến trình cổ phần
hóa diễn ra khá chậm chạp, cho tới nay mới có 2 NHTM Nhà nước hoàn tất việc cổ phần
hóa và niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đó là VCB và
CTG. Tuy nhiên tỷ lệ cổ phần hóa 2 ngân hàng này rất thấp, Nhà nước vẫn nắm giữ
phần lớn lượng cổ phiếu (trên 90%), như vậy về hình thức là cổ phần hóa nhưng thực
chất vẫn là NHTM Nhà nước cho nên nhiều yếu tố đã làm quá trình cải tổ các NHTM
này thành tập đoàn hùng mạnh sánh vai với các ngân hàng trong khu vực bị chậm lại.
Về thị phần các nghiệp vụ ngân hàng thì nhóm các NHTM Nhà nước vẫn chiếm
phần lớn các thị phần nghiệp vụ. Tuy nhiên, theo bảng dưới đây ta thấy thị phần hoạt
động kinh doanh của nhóm NHTM Nhà nước giảm, thị phần của khối NHTM cổ phần
tăng dần theo sát nhóm NHTM Nhà nước, còn thị phần nhóm NHLD, NHNNg đi ngang
hoặc tăng nhẹ.

31

Bảng 1.2: Thị phần chỉ tiêu cơ bản về HĐKD của nhóm các NHTM.
Chi tiêu/Nhóm NHTM

Số tuyệt đối
2009
2010

1. Thị phần tổng tài sản.
NHTM Nhà nước
1.381.068
NHTM CP
1.161.149
NHLD, Chi nhánh NHNNg
314.586
2.Thị phần huy động vốn
NHTM Nhà nước
943.433
NHTM CP
741.217
NHLD, Chi nhánh NHNNg
148.930
3.Thị phần tín dụng
NHTM Nhà nước
949.629
NHTM CP
560.563
NHLD, Chi nhánh NHNNg
161.290
4.Thị phần nợ xấu
NHTM Nhà nước
19.808
NHTM CP
7.458
NHLD, Chi nhánh NHNNg
1.640
5.Thị phần lợi nhuận
NHTM Nhà nước
15.751
NHTM CP
16.292
NHLD, Chi nhánh NHNNg
4.200
(Nguồn: NHNN và thu thập của tác giả)

Thị phần
2009
2010

Tăng trưởng

1.654.519 45,85% 42,20%
1.653.595 38,55% 42,17%
438.308 10,44% 11,18%

19,80%
42,41%
39,33%

1.127.105 49,90% 45,50%
1.091.756 39,20% 44,10%
179.390 7,90% 7,20%

19,47%
47,29%
20,45%

1.158.548 54,70% 52,30%
784.789 32,30% 34,80%
209.630 9,30% 9,30%

22,00%
40,00%
29,97%

29.592 56,80% 52,30%
14.839 21,40% 26,20%
2.827 4,70% 5,00%

49,39%
98,97%
72,38%

22.150 49,00% 51,10%
20.958 50,70% 48,30%
5.600 13,10% 12,90%

40,63%
28,64%
33,33%

Đến 1/1/2011 thị trường tài chính Việt Nam là một sân chơi bình đẳng giữa các
NHTM trong nước và NHNNg, thì đây là một cơ hội nhưng rất nhiều thách thức đối với
các NHTM Việt Nam.
1.4.2.2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc.
Về phía Chính phủ.
- Thực hiện cải cách mạnh khu vực tài chính ngân hàng: Thực hiện cổ phần hóa
nhanh các NHTM Nhà nước lớn, tạo điều kiện để các ngân hàng này tăng vốn phù hợp
với sự phát triển và phù hợp với thông lệ quốc tế; Thiết lập khuôn khổ pháp lý và cơ
chế giám sát hữu hiệu hỗ trợ hệ thống ngân hàng nội địa.
- Tách bộ phận thanh tra ngân hàng ra khỏi NHNN và bộ phận này phải hoạt động
theo đúng chức năng giám sát ngân hàng theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế mà Ủy ban
Basel về GSNH đề cập đến, chứ không phải hoạt động theo tính thanh tra của thủ
trưởng-thanh tra tuân thủ, thanh tra vụ việc, xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống
tham nhũng…như hiện nay. Hoạt động GSNH sẽ tập trung chủ yếu vào việc: Hoạch

32

định chiến lược phát triển hệ thống các TCTD; Thiết kế các qui chế mẫu về tổ chức và
hoạt động cho từng TCTD và thiết lập các tiêu chuẩn, điều kiện cho việc cấp phép ban
đầu và phê chuẩn các thay đổi, bổ sung; Xây dựng các qui chế an toàn cho hệ thống
ngân hàng như yêu cầu về mức vốn tối thiểu, các giới hạn qui định về mức độ rủi ro,
chuẩn mực quản lý rủi ro, tiêu chuẩn hạch toán kế toán và thông tin báo cáo.
Về phía NHNN.
- Cần mạnh dạn giảm bớt can thiệp mang tính hành chính, nâng cao hơn tính chỉ
đạo và kiểm soát vĩ mô của NHNN trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực
ngân hàng, nhất là thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ, thị trường mở, lãi suất,
dự trữ bắt buộc và các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát từ xa để điều tiết thị
trường;
- Tạo sự đồng bộ cho các chính sách, đặc biệt là chính sách lãi suất, tỷ giá và quản
lý ngoại tệ làm sao hỗ trợ tốt cho hoạt động ngân hàng trên cơ sở hài hòa các lợi ích giữa
việc quản lý vĩ mô Nhà nước với lợi ích kinh doanh của NHTM và giữa lợi ích các
NHTM với khách hàng; Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối
với các NHTM, đặc biệt là trong các giai đoạn nhạy cảm liên quan đến các chương trình
hỗ trợ và các chương trình khác về lãi suất, tỷ giá nhằm điều hòa nền kinh tế vĩ mô.
Về phía NHTM.
Tăng cường năng lực cạnh tranh qua việc cải cách toàn bộ hoạt động ngân hàng từ
khâu tổ chức nhân sự tới qui trình nghiệp vụ, tăng vốn để tập trung đầu tư công nghệ
hiện đại để phát triển các sản phẩm dịch vụ. Tăng tính đa dạng và tiện ích của các sản
phẩm dịch vụ, đây là chiến lược cần phải chú trọng khi Việt Nam hội nhập bởi vì chúng
ta biết hiện nay các NHNNg đã thực hiện khoảng 1.000 sản phẩm dịch vụ, trong khi đó
các ngân hàng Việt Nam cũng chỉ đưa ra khoảng 100 sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Bên
cạnh đó, các NHTM đặc biệt chú trọng việc đào tạo đội ngũ nhân viên bán các các sản
phẩm dịch vụ một cách chuyên nghiệp, thành thạo và có tâm huyết để tạo lòng tin cho
khách hàng. Trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới không loại trừ sản phẩm là
thế mạnh của NHNNg tại nước họ, nhưng NHTM Việt Nam có thể tận dụng lợi thế đi
trước và am hiểu truyền thống, tập quán văn hóa xã hội của quốc gia để phát triển các
dịch vụ này như một thế mạnh cạnh tranh.

33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nêu một cách khái quát về đặc điểm, các nghiệp vụ của NHTM Việt
Nam, khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM và những nhân tố ảnh hưởng
tới hiệu quả hoạt động kinh doanh, đồng thời đưa ra nội dung đánh giá hiệu quả hoạt
động kinh doanh của NHTM thông qua các chỉ tiêu trong mô hình CAMELS.
Bên cạnh đó, chương một cũng khái quát được tình hình hoạt động kinh doanh
chung của các nhóm NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và cũng chỉ ra một số
điểm giống nhau của NHTM Việt nam với các NHTM Trung quốc ngay trong thời kỳ đầu
hội nhập. Với lợi thế đi sau, việc tham khảo về hoạt động và chiến lược kinh doanh của
NHTM Trung Quốc trong quá trình hội nhập để Việt Nam có thể xem xét như bài học
kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình trong bối cảnh
nền kinh tế vĩ mô biến động xấu và cạnh tranh giữa các TCTD ngày càng gay gắt.
Việc khái quát những cơ sở lý luận nêu trên là tiền đề để phân tích các chương
tiếp theo.

34

CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM

2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam.
2.1.1 Lịch sử ra đời.
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam chính thức được
thành lập theo quyết định số 115/CP do Hội đồng chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10
năm 1962 trên cơ sở tách từ Cục quản lý ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương
(nay là Ngân hàng Nhà nước). Theo quyết định trên, Ngân hàng ngoại thương đóng vai
trò là một Ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam tại thời điểm đó
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm: tài trợ cho vay xuất nhập khẩu và
các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm …), thanh toán quốc tế, kinh doanh
ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính
phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)….
Ngoài ra, Ngân hàng ngoại thương còn tham mưu cho Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà
nước về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và
về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập Ngân hàng
ngoại thương theo mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐTTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch quốc tế là
Bank for foreign trade of Vietnam, viết tắt là Vietcombank.
Theo quyết định 230/250/QĐ-TTg ngày 21 tháng 09 năm 2005 của Thủ tướng Chính
phủ về việc thí điểm cổ phần hóa Vietcombank và Quyết định số 1289/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt phương án cổ phần hóa Vietcombank ký ngày
26/09/2007, Ngân hàng TMCP ngoại thương (Vietcombank) đã được thành lập thông
qua việc bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26 tháng 12 năm 2007 tại Sở
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, từ một ngân hàng chuyên doanh
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Vietcombank đã phát triển lớn mạnh theo quy mô ngân
hàng đa năng có mạng lưới chi nhánh vươn rộng ra khắp các tỉnh thành lớn trên cả nước

35

đáp ứng đẩy đủ nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng. Tính đến hết năm 2010, hệ thống
Vietcombank có bao gồm 1 Hội sở chính, 1 sở giao dịch, 72 chi nhánh và 285 phòng
giao dịch trên toàn quốc, 1 trung tâm đào tạo, 2 công ty con tại Việt Nam, 1 công ty con
tại Hồng Kông, 4 công ty liên doanh, 3 công ty liên kết và 1 văn phòng đại diện tại
Singapore.
Ngoài ra, mạng lưới phục vụ khách hàng còn được đa dạng hóa với 1.637 máy ATM
và trên 10.000 điểm chấp nhận thẻ của Vietcombank trên toàn quốc. Hoạt động của
Ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý trên gần 100 quốc
gia và vùng lãnh thổ.
Năm 2008 là năm đánh dấu bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của Ngân
hàng với việc chính thức chuyển mình trở thành NHTM cổ phần có vốn điều lệ và tổng
tích sản lớn nhất Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đứng trước
thách thức quan trọng là phải vừa chuyển đổi cơ cấu hoạt động, vừa đảm bảo hiệu quả
kinh doanh, với hơn 10.000 cán bộ nhân viên, Vietcombank luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn
thành xuất sắc kế hoạch đề ra. Từ năm 2008 đến nay tổng tích sản năm sau cao hơn năm
trước từ 15% đến 20%.
2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chính.
2.1.2.1 Hoạt động NHTM.
a. Huy động vốn: Huy động vốn dài hạn, trung hạn, ngắn hạn bằng đồng Việt Nam
và ngoại tệ từ mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước dưới các hình
thức chủ yếu sau: Nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán,
tiền gửi tiết kiệm của tất cả các tổ chức, dân cư; Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín
phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác dưới tên Vietcombank; Vay vốn
của các tổ chức tài chính trên thị trường.
b. Hoạt động tín dụng: Ngân hàng cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước dưới các hình thức sau: Cho vay; Bảo lãnh; Cho thuê tài chính; Chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá và các hình thức khác theo qui định của pháp
luật.
c. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Ngân hàng mở tài khoản, cung ứng dịch vụ
thanh toán và ngân quỹ cho khách hàng trong nước và ngoài nước theo qui định của
pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng còn tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ