Tải bản đầy đủ
3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

Tải bản đầy đủ

21

- Các nhà đầu tư cần thơng tin từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa
ra các quyết định đầu tư.
- Các đối tượng cho vay như ngân hàng, cơng ty tài chính… thơng qua các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, hạn
mức cho vay nhằm thu hồi được vốn, lãi.
1.3.2 Nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.2.1 Sơ lược về mơ hình CAMELS.
Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an tồn, khả năng
sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. Sáu chữ cái trong cái tên mơ hình CAMELS đã
thể hiện sáu chỉ tiêu cơ bản bằng tiếng Anh để đánh giá. Đó là:
- Capital adequacy (Mức độ an tồn vốn): Thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
- Asset quality (Chất lượng tài sản Có): Thể hiện hiệu quả và an tồn trong cho vay
và đầu tư.
- Manegement (Quản lý): Quản lý đóng vai trò quyết định đến thành cơng của hoạt
động ngân hàng. Quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố
sau: Mức độ tăng trưởng cũng như chất lượng tài sản Có, mức độ thu nhập…
- Earning (Lợi nhuận): Thể hiện kết quả của cơng tác điều hành quản lý tốt.
- Liquidity (Thanh khoản): Khả năng của ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản
của bất cứ lúc nào của khách hàng.
- Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Đo lường mức
độ ảnh hưởng của thay đổi lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ
phần. Khi phân tích chỉ tiêu này người ta quan tâm tới khả năng của ban lãnh đạo ngân
hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm sốt rủi ro thị trường, đồng thời đưa
ra dấu hiệu chỉ dẫn, định hướng rõ ràng và tập trung.
1.3.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thơng qua các chỉ tiêu
trong mơ hình CAMELS.
a) Mức độ an tồn vốn của NHTM.
 Đánh giá vốn tự có và sự an tồn của ngân hàng: Việc phân tích sự hình thành
vốn tự có của Ngân hàng một cách hợp lý và tính tốn các tỷ lệ đảm bảo an tồn trong
hoạt động ngân hàng theo qui định nhằm: Tạo điều kiện để bảo vệ quyền lợi, tài sản cho
những khách hàng đã ký thác tài sản tại ngân hàng; Tạo điều kiện để ổn định và tăng

22

trưởng vốn tự có phù hợp với qui mơ hoạt động của ngân hàng đồng thời nâng cao sức
chịu đựng của các ngân hàng trước các rủi ro và nguy cơ phá sản trong kinh doanh; Giúp
cho nhà quản trị quản lý hiệu quả vốn tự có và tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng.
 Đánh giá qui mơ và khả năng huy động vốn: Khả năng huy động vốn thể hiện
tính hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường. Khả năng huy động
vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm, dịch vụ hay cơng cụ huy
động vốn tốt, có hiệu quả và đặc biệt là thu hút được đơng đảo các khách hàng. Khả năng
huy động vốn từ nhiều nguồn và từ nhiều các hình thức khác nhau thơng qua sử dụng các
sản phẩm dịch vụ hữu hiệu và hiện đại sẽ tạo ra nguồn vốn với giá rẻ tăng hiệu quả kinh
doanh cho ngân hàng.
Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn chủ yếu dựa trên việc đánh giá quy mơ,
kết cấu nguồn vốn cũng như tốc độ tăng trưởng của các nguồn vốn. Đặc biệt là việc đánh
giá cơ cấu nguồn vốn huy động bởi nó ảnh hưởng đến khoản mục chi phí chính của
NHTM (chi phí lãi).
b) Chất lượng tài sản Có (Chất lượng hoạt động).
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn (cho vay): Đối với hầu hết các NHTM, khoản mục
cho vay chiếm q nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân
hàng. Đồng thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng tập trung chủ yếu vào danh mục
các khoản cho vay. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều ngân hàng khi mà chi
phí dự phòng rủi ro tín dụng ln là một khoản mục chi phí khơng nhỏ làm giảm lợi
nhuận của ngân hàng.
Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay chủ yếu tập trung vào quy mơ, cơ cấu tín dụng
của NHTM ảnh hưởng đến khoản mục thu từ lãi trên Báo cáo kết quả kinh doanh. Bên
cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng còn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế,
của các lĩnh vực kinh tế mà NHTM tham gia tài trợ. Hiệu quả hoạt động cho vay còn
được phản ánh thơng qua chất lượng tín dụng của NHTM (tỷ lệ nợ xấu, nợ bảo lãnh q
hạn).
c) Năng lực quản lý (Quản trị, kiểm sốt, điều hành).
Thơng thường để đánh giá năng lực quản trị, kiểm sốt của ngân hàng người ta xem
xét, đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà ngân hàng xây dựng cho hoạt động
của mình; Xem xét cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng;
Xem xét đến kết quả kinh doanh cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và có khả năng

23

vượt qua bất trắc; Xem xét các hệ số rủi ro nằm trong mức cho phép; Xem xét việc thực
hiện và chấp hành các qui định của Nhà nước và pháp luật; Xem xét sự phối hợp có khoa
học trong cơng việc giữa các phòng ban và các CBCNV…
d) Lợi nhuận (Khả năng sinh lời).
Đây là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khả năng sinh
lời được phân tích qua các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA: Return on asset): Tổng tài sản ở đây là tài sản Có
bình qn. ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cơng tác quản lý tài sản của ngân hàng, cho
thấy khả năng trong q trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROA =

Thu nhập sau thuế
Tổng tài sản

Nếu với một mức ROA thấp có thể là kết quả một chính sách đầu tư hay cho vay
khơng năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng q mức. Ngược lại với
mức ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp
lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của
nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu khả năng sinh lời q lớn thì cũng có thể ngân hàng phải đối
đầu với những rủi ro lớn do thực hiện đầu tư q mạo hiểm hoặc dự trữ giảm q mức.
Tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu (ROE: Return on equity): Tính bằng cách
lấy thu nhập sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu trong cơng thức được hiểu là vốn tự có cơ bản trung bình bao gồm
vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, các quỹ dự trữ và lợi nhuận khơng chia. Như vậy,
ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đơng của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà
các cổ đơng nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng.
ROE =

Thu nhập sau thuế
Vốn chủ sở hữu

Để đánh giá đầy đủ hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, người ta thường
dùng các đẳng thức thể hiện các mối liên hệ giữa các tỷ lệ sinh lời sau:
ROE =

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tổng tài sản
x
x
Doanh thu(Tổng TN từ hoạt động)
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu

ROE = ROA x

Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu

ROE=Tỷ lệ sinh lời hoạt động x Tỷ lệ hiệu quả sử dụng TS x Tỷ trọng vốn CSH.

24

Trong đó: Tỷ lệ sinh lời hoạt động phản ánh tính hiệu quả của việc quản lý chi phí
và các chính sách định giá dịch vụ; Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản phản ánh các chính
sách quản lý danh mục đầu tư, đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản; Còn tỷ trọng
vốn chủ sở hữu (CSH) thể hiện các chính sách đòn bẩy tài chính, các nguồn vốn để tài
trợ cho hoạt động ngân hàng (nợ hay vốn chủ sở hữu).
Khi một trong các tỷ số trên giảm, nhà quản lý cần tập trung, đánh giá những lý do
tạo ra sự thay đổi này. Đối với hầu hết các ngân hàng, trong 3 tỷ số nêu trên thì tỷ trọng
vốn CSH là lớn nhất, trung bình khoảng 15 lần, đối với một số ngân hàng lớn thì tỷ trọng
này ở mức 20 lần. Tỷ trọng vốn CSH là 1 phương pháp đo lường trực tiếp mức độ đòn
bẩy tài chính của ngân hàng, bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tạo ra trên cơ sở một
đồng vốn CSH và ngân hàng phải dựa vào nguồn vốn vay là bao nhiêu. Do vốn CSH có
chức năng bù đắp thua lỗ nên tỷ trọng này càng lớn thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng
cao.
Tỷ số ROA và ROE trong một cơng thức thể hiện sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi
nhuận. Từ cơng thức trên cho thấy thu nhập của ngân hàng rất nhạy cảm với phương
thức tài trợ tài sản từ nợ hay vốn chủ sở hữu. Cũng có một số ngân hàng có ROA thấp để
đạt được ROE cao thơng qua sử dụng đòn bẩy tài chính và sử dụng tối thiểu vốn CSH.
Tỷ lệ thu nhập cận biên: Đo lường tính hiệu quả và khả năng sinh lời . Bao gồm:
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM: Net interest margin): Là chênh lệch giữa thu
nhập lãi từ các khoản cho vay, đầu tư chứng khốn và chi phí trả lãi cho tiền gửi và nợ
khác, tất cả chia cho tổng tài sản Có sinh lời. Chỉ tiêu này giúp cho ngân hàng dự báo
trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thơng qua việc kiểm sốt chặt chẽ tài sản sinh lời
và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
NIM =

Thu nhập từ lãi - Chi phí lãi
Tài sản Có sinh lời

- Tỷ lệ thu nhập ngồi lãi cận biên (NM: Noninterest margin): Là chênh lệch giữa
nguồn thu ngồi lãi (thu phí dịch vụ thanh tốn, bảo lãnh, ngân quỹ, thẻ…) và chi phí
ngồi lãi (tiền lương, sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí tổn thất tín dụng…). Đối với
hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngồi lãi thường là âm. Mặc dù trong những năm gần
đây tỷ lệ thu từ phí dịch vụ của các ngân hàng đã tăng khá cao so với tổng nguồn thu,
song nhìn chung thì chi phí ngồi lãi vẫn vượt thu từ phí.
NM =

Thu nhập ngoài lãi - Chi phí ngoài lãi
Tài sản Có sinh lời

25

Thu nhập trên cổ phiếu (EPS: Earning per share): Chỉ tiêu này đo lường trực tiếp thu
nhập của các cổ đơng tính trên mỗi cổ phiếu hiện đang lưu hành.
EPS =

Thu nhập sau thuế
Tổng số cổ phiếu thường phát hành

Chênh lệch lãi suất bình qn (Chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra): Chênh lệch lãi
suất bình qn đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong q
trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trong
thị trường của ngân hàng. Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi
suất bình qn. Nếu các nhân tố khác khơng đổi, chênh lệch lãi suất bình qn của ngân
hàng sẽ giảm khi sự cạnh tranh tăng lên, buộc các ngân hàng phải tìm các biện pháp tăng
các nguồn thu khác ngồi lãi để bù đắp phần thiếu hụt.
Chênh lệnh LSbq =

Thu từ lãi
Tổng chi phí trả lãi
Tổng tài sản sinh lời Tổng nguồn vốn phải trả lãi

đ ) Khả năng thanh khoản.
Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh khoản của ngân hàng thể hiện qua các tỷ
lệ: Tỷ lệ giữa tài sản Có có thể thanh tốn ngay và tài sản Nợ phải thanh tốn ngay. Chỉ
tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người
người gửi tiền. Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn, thì uy tín của
ngân hàng đó giảm một cách đáng kể, kết quả có thể dẫn đến ngân hàng bị phá sản. Tài
sản Có có thể thanh tốn ngay bao gồm: Tiền mặt và tiền gửi khơng kỳ hạn tại NHNN
và các TCTD; Vàng và các tài sản khác có khả năng bán ngay; Các chứng khốn có thể
bán ngay trên thị trường hoặc thế chấp để vay và các cam kết được vay. Tài sản Nợ phải
thanh tốn ngay là nhóm tài sản ln ln có thể rút khỏi ngân hàng ở bất kỳ thời điểm
nào, đặc biệt trong thời kỳ ngân hàng gặp khó khăn về tài chính. Nó bao gồm: Các khoản
tiền gửi khơng kỳ và có kỳ hạn đến hạn thanh tốn của dân cư, của TCKT và của các
TCTD khác; Các khoản vay ngắn hạn và các cam kết cho vay của TCTD khác.
Hệ số khả năng chi trả trên bằng hoặc lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng có khả năng
thanh tốn tốt. Tuy nhiên nếu hệ số q lớn cũng là điều khơng tốt thể hiện ngân hàng
thừa khả năng thanh tốn (dự trữ q mức), làm giảm khả năng sinh lời. Bởi vậy, duy trì
khả năng thanh tốn phù hợp sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của ngân
hàng và cho tồn xã hội.

26

Ngồi ra, ta còn xem xét đến tỷ lệ: Tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn trên nguồn
vốn dùng để cho vay trung, dài hạn. Hoặc tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
1.3.2.3 Các tài liệu để đánh giá.
 Bảng cân đối kế tốn: Còn được gọi là báo cáo về trạng thái các tài sản, khoản nợ
và vốn chủ sở hữu trên ngun tắc: Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu.
Tài sản trong Bảng cân đối kế tốn của ngân hàng được chia thành tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn. Thứ tự các loại tài sản trên Bảng cân đối cũng được sắp xếp theo trật
tự thanh khoản cao tới thấp. Bao gồm: Tiền mặt, vàng bạc, đá q; Tiền gửi tại NHNN;
Tiền gửi tại các ngân hàng và cho vay các TCTD khác; Chứng khốn kinh doanh; Cho
vay khách hàng; Chứng khốn đầu tư; Góp vốn, đầu tư dài hạn; Tài sản cố định; Tài sản
khác.
Nợ phải trả của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi của khách hàng, gồm những khoản
mục sau: Các khoản nợ Chính phủ và NHNN; Tiền gửi và vay các TCTD khác; Tiền gửi
của khách hàng; Vốn tài trợ, uỷ thác đầu tư, cho vay các TCTD chịu rủi ro; Phát hành
giấy tờ có giá; Các khoản nợ khác.
Vốn chủ sở hữu (Vốn tự có).
 Báo cáo kết quả kinh doanh: Phản ánh thu nhập, chi phí và lợi nhuận của ngân
hàng trong một thời kỳ nhất định. Thực chất, tài sản trên Bảng cân đối kế tốn tạo ra
phần lớn các khoản thu từ hoạt động, trong khi các khoản nợ tạo ra hầu hết các chi phí
hoạt động của một ngân hàng.
Thu nhập của một NHTM bao gồm các khoản sau: Thu nhập lãi và các khoản thu
nhập tương tự; Thu từ lãi tiền gửi tại các TCTD khác và tại NHNN; Thu từ hoạt động
dịch vụ; Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; Thu từ mua bán chứng khốn; Thu từ
góp vốn liên doanh, liên kết; Thu từ hoạt động kinh doanh khác.
Chi phí của NHTM bao gồm các khoản như sau: Chi trả lãi tiền gửi; Chi trả lãi tiền
vay; Chi trả lãi phát hành trái phiếu; Chi về kinh doanh ngoại hối; Chi về mua bán chứng
khốn; Khấu hao tài sản cố định; Lương CBCNV; Các chi phí khác; Chi phí dự phòng
rủi ro tín dụng; Chi nộp thuế theo quy định của pháp luật.
1.4 NHTM Việt Nam và những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc về nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.4.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc.

27

Cũng giống như Việt Nam, hệ thống NHTM Nhà nước tại Trung Quốc trong giai
đoạn trước khi hội nhập cũng là những ngân hàng trụ cột tại Trung Quốc với qui mơ hoạt
động, thị phần cho vay và huy động lớn. Dư nợ cho vay đối với các DNNN chiếm tỷ lệ
khá cao và hầu như các khoản vay đều khơng có tài sản thế chấp, hoặc tài sản thế chấp
khơng đủ tính pháp lý. Thậm chí các khoản vay này do sự can thiệp sâu từ phía chính
quyền. Các DNNN kinh doanh khơng hiệu quả, tham nhũng nhiều dẫn đến nợ khơng trả
được và các NHTM Nhà nước lúc này cũng phải gánh theo hậu quả là nợ q hạn tăng
cao, tỷ lệ an tồn vốn thấp…
Sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001 (trong đó có 5
năm ân hạn), lộ trình thực hiện các cam kết ngày càng đến gần, Chính phủ Trung Quốc
tập trung cải cách ngành ngân hàng mà trước mắt là tập trung vào 4 NHTM Nhà nước
lớn tại Trung Quốc. Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc đã tơn trọng các cam kết và mở
cửa thêm các lĩnh vực kinh doanh cho các ngân hàng có vốn nước ngồi tham gia.
Những nỗ lực mở cửa và điều chỉnh hợp lý, nhanh chóng về mặt chính sách đã tạo điều
kiện cho NHNNg mở rộng hoạt động, số lượng tổ chức kinh doanh do các NHNNg
thành lập đã tăng từ 190 lên 320 ngay sau đó.
Sau 5 năm gia nhập WTO, ngành ngân hàng Trung Quốc bắt đầu bước vào giai đoạn
mới. Trung Quốc thúc đẩy q trình mở cửa, tăng cường năng lực quản lý rủi ro của khu
vực ngân hàng, bảo vệ sự ổn định chung của hệ thống ngân hàng, qua đó thúc đẩy phát
triển ổn định và lành mạnh nền kinh tế. Trong thời gian này, ngành ngân hàng Trung
Quốc phải tn thủ 4 ngun tắc sau: a) Đáp ứng các u cầu phát triển kinh tế trong
khn khổ tối ưu hóa; b) Có khả năng thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường
cơng bằng, hai bên cùng có lợi và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng
Trung Quốc; c) Tn thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội
địa; d) Q trình mở cửa phải có qui định về thận trọng đi kèm để có thể duy trì sự ổn
định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.
Cụ thể chiến lược phát triển hệ thống NHTM của Chính phủ Trung Quốc như sau:
 Đối với NHTM trong nước: Thực hiện cổ phần hóa 4 ngân hàng lớn nhất Trung
Quốc đó là: Ngân hàng cơng thương (International Comercial Bank of China-ICBC),
ngân hàng xây dựng (China Contructin Bank-CCB), ngân hàng Trung Quốc (Bank of
China-BOC) và ngân hàng nơng nghiệp (Agricultural Bank of China-ABC). Bốn ngân
hàng quốc doanh này có tổng nợ xấu lên đến 2.000 tỷ RMB (tương đương 240 tỷ USD)

28

vào năm 2004 và kiểm sốt 56% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Trung Quốc do đó
cơ cấu lại nợ xấu lúc bấy giờ là nhiệm vụ cấp bách đối với Trung Quốc.
- Chính phủ Trung Quốc đã chọn CCB và BOC thực hiện cổ phần hóa đầu tiên do 2
ngân hàng này dường như làm ăn đỡ bê bết nhất. Ba q đầu năm 2003 BOC và CCB
cơng bố lợi nhuận lần lượt là 2,4 tỷ USD và 1,08 tỷ USD. Tất cả lợi nhuận đều được bù
đắp vào các khoản nợ q hạn. Tháng 6/2004, CCB và BOC đã xử lý 300 tỷ RMB
(tương đương 36,2 tỷ USD) nợ khó đòi, giảm tỷ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74% và
chuẩn bị cho lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra cơng chúng.
- Tháng 5/2006, ICBC cũng bán cổ phiếu ra cơng chúng và trở thành ngân hàng
Trung Quốc có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngồi cao nhất, chiếm 8,89% vốn điều lệ. CAR
tăng lên tới 10,26% và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 4,43% gần tới mức 1-2% của ngân
hàng nước ngồi.
Sau khi xử lý và đưa tỷ lệ nợ xấu ở mức hợp lý, các NHTM tiến hành cổ phần hóa và
phát hành cổ phiếu ra cơng chúng và tìm cổ đơng chiến lược nước ngồi. Đối tác chiến
lược nước ngồi là những tổ chức tài chính lớn từ các nước Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
nhằm cải thiện cơ cấu tổ chức cổ đơng trong NHTM vốn chỉ có các cổ đơng trong nước,
thơng qua đó hút vốn, chuyển giao cơng nghệ, thúc đẩy quan hệ quốc tế, nâng cao khả
năng sinh lời. Tuy nhiên, tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngồi trong NHTM cũng bị
khống chế ở mức tối đa khoảng 30%. Tiếp đến, các NHTM tập trung vào hồn thành cơ
chế quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế, đa dạng hóa các dịch vụ
ngân hàng tiện ích, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kế tốn, hệ thống thơng
tin quản lý khác theo tiêu chuẩn quốc tế.
Về sản phẩm dịch vụ: Nhận thức được việc sau khi gia nhập WTO, cạnh tranh trong
hệ thống ngân hàng đang là sức ép lớn với việc NHNNg tham gia càng nhiều vào thị
trường tài chính Trung Quốc thì các ngân hàng thương mại Trung Quốc sẽ gặp bất lợi
lớn do hạn chế về cơng nghệ dịch vụ ngân hàng. Điển hình, Trung Quốc đã đưa ra ngay
chiến lược dài và hiệu quả mang tên “chiến lược xi măng và con chuột” là việc kết hợp
giữa cơng việc mở rộng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng điện tử (nhanh, tiện lợi) với
khả năng bảo mật an tồn cao. ICBC là ngân hàng đầu tiên triển khai chiến lược này, họ
đã nâng cấp hệ thống ngân hàng trực tuyến lên gấp 2 lần và chỉ trong 2 năm từ tháng
12/2003, thu được giá trị giao dịch lên 4 tỷ RMB (482 triệu USD)/ngày. Chiến lược này