Tải bản đầy đủ
2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM

2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM

Tải bản đầy đủ

16

hối…; Các yếu tố thể hiện sự ổn định của nền kinh tế như: Chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ
giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế…; Các yếu tố về độ mở cửa của nền kinh tế thể
hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp, kim ngạch xuất nhập khẩu;
Các yếu tố đo lường sức khỏe của các doanh nghiệp trong nước thể hiện qua tiềm lực tài
chính và hiệu quả hoạt động của họ, cùng với xu thế chuyển hướng hoạt động của các
doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước. Các yếu tố trên tác động lớn đến khả năng tích
lũy và đầu tư của người dân, khả năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển sản
phẩm của NHTM, khả năng mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của ngân hàng.
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của nước ngoài
vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp, lượng hàng hóa của
Việt Nam thông qua xuất khẩu. Những ảnh hưởng này sẽ tác động trực tiếp tới các hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, cũng như các NHTM khi
tham gia quan hệ mua bán, thanh toán.
Hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị.
Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM, chịu chi phối và ảnh
hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như: Luật dân sự, luật xây dựng, luật
đất đai, luật cạnh tranh, luật các TCTD…Bên cạnh đó, NHTM còn chịu sự quản lý chặt
chẽ từ NHNN và được xem là một trung gian để NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ
của mình. Do vậy kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách tiền tệ, tài chính của Chính phủ và NHNN.
Ngoài những hệ thống văn bản pháp luật trong nước, các NHTM còn phải chịu
những quy định, chuẩn mực chung của WTO trong việc quản trị hoạt động kinh doanh
của mình. Theo các cam kết quốc tế, các NHTM trong nước buộc phải thay đổi cho phù
hợp với việc thực thi các cam kết quốc tế, nhất là sự hiện diện của các NHTM nước
ngoài tại Việt Nam (Từ 1/4/2007 các NHNNg được thành lập ngân hàng 100% vốn nước
ngoài tại Việt Nam).
1.2.2.2 Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế.
Hội nhập quốc tế tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính, mà trong đó
kể đến là cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Các NHTM lúc này không thể chỉ dừng
lại ở những sản phẩm dịch vụ truyền thống như huy động và cho vay thông thường, mà
còn cạnh tranh mạnh mẽ ở các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ khác. Mảng dịch vụ hỗ trợ các

17

sản phẩm chính của ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong việc tạo nên uy tín
của ngân hàng và buộc phải đa dạng và hiện đại do một số lý do chính sau đây:
- Dân số ngày càng gia tăng đặc biệt là các khu vực đô thị, cùng với tốc độ đô thị
hóa, các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng tăng dẫn đến số lượng doanh nghiệp
và cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng cũng tăng theo.
- Thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí cũng như văn hóa tiêu dùng của
người dân Việt nam ngày càng tăng nên các loại hình dịch vụ hiện đại cũng tăng theo.
Tuy nhiên, số người sử dụng dịch vụ ngân hàng còn hạn chế theo thống kê khoảng 50%60% dân số (87 triệu người) có tài khoản tại ngân hàng cho nên có thể nhìn thấy trong
tương lai các loại hình dịch vụ ngân hàng sẽ còn gia tăng mạnh.
- Số lao động di cư giữa các quốc gia và nhu cầu du học ngày càng tăng dẫn đến
các nhu cầu chuyển tiền và thanh toán qua ngân hàng ngày càng gia tăng.
- Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu
thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính ngày càng phát triển cho nên khách hàng sẽ có
nhiều lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng ngày càng cao
hơn về chất lượng, giá cả, các tiện ích và phong cách phục vụ. Chính vì thế ngân hàng
phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm thu hút được mảng khách hàng
tiềm năng này góp phần tăng nguồn thu cho ngân hàng.
1.2.2.3 Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan đến ngành
ngân hàng.
Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng phát
triển và gia tăng cung vào một ngành có lợi nhuận, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh gia
tăng, thị phần bị chia sẻ dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, do
đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ và có
sự bổ trợ lẫn nhau như các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán với các ngân
hàng. Như vậy, tuy thị trường bảo hiểm và chứng khoán phát triển đã chia sẻ thị phần
với ngân hàng nhưng cũng đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngân hàng thông qua việc
cắt giảm chi phí và tạo điều kiện cho các ngân hàng đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng,
tận dụng được nhiều lợi thế trong kinh doanh.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát
triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác như tin

18

học, viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán. Đây là những ngành phụ trợ mà sự phát
triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạng hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu
và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một
thị trường tài chính vững mạnh.
1.2.2.4 Các nhân tố thuộc về NHTM.
Chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Chiến lược phát triển sản phẩm là nhiệm vụ rất quan trọng đối với mỗi NHTM, nó là
sự cần thiết với sự tồn tại và phát triển của NHTM nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai
đoạn có sự cạnh tranh gay gắt. Chiến lược phát triển các sản phẩm giúp các NHTM nắm
bắt được các cơ hội thị trường và tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong khả
năng nguồn lực của mình để đạt được kết quả cao trong các mục tiêu kinh doanh đã đề
ra. NHTM phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ chăm sóc khách
hàng, xây dựng mạng lưới rộng rãi để sản phẩm tới người tiêu dùng.
Nguồn nhân lực.
Con người là nhân tố quan trọng nhất cho quá trình cải cách và phát triển của
NHTM. Nhân lực tốt không những làm chủ mạng lưới, công nghệ mà còn là nhân tố
quyết định cải tiến mạng lưới, công nghệ, qui trình…và điều quan trọng hơn là tạo ra và
duy trì các mối quan hệ bền vững với khách hàng. Một NHTM chỉ có thể phát triển bền
vững nếu có một nền tảng khách hàng bền vững, điều này máy móc, công nghệ, thiết bị
không thể làm thay được cho con người.
Nguồn nhân lực thể hiện trên hai khía cạnh đó số lượng và chất lượng nhân lực:
Về số lượng: Khi mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt khách hàng, các
NHTM cần phải có số lượng lao động nhất định. Tuy nhiên, phải đánh giá chỉ tiêu này
với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để thấy được năng suất lao động của
người lao động trong ngân hàng
Về chất lượng: Nói đến chất lượng lao động thì trước tiên phải xét đến trình độ văn hóa
của đội ngũ lao động bao gồm trình độ học vấn và kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học,
khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề…Tiêu chí này rất quan
trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học
hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ, chất lượng lao động còn thể
hiện ở đạo đức của từng người lao động trong tác nghiệp, đạo đức tốt sẽ hạn chế được rất
nhiều những rủi ro cho ngân hàng.

19

Trình độ quản lý điều hành.
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, các ngân hàng Việt Nam đang đứng trước
nhiều vận hội lẫn thách thức. Làm thế nào để tạo ra ưu thế cạnh tranh, tồn tại và phát
triển trong khi tất cả các đối thủ đều tận dụng triệt để các cơ hội của thị trường từ các
khâu sản phẩm, lãi suất, phí, mạng lưới phân phối và quảng cáo tiếp thị. Như vậy, chỉ có
năng lực quản lý của con người mới quyết định được sự thành công của công việc. Đội
ngũ lãnh đạo, ngoài yêu cầu phải có trình độ chuyên môn, khả năng giao tiếp cũng như
khả năng ngoại ngữ tốt còn phải có tầm và tâm mới đem đến hiệu quả hoạt động tốt cho
ngân hàng, đưa ra những kế hoạnh phát triển chính xác, hiệu quả cao và an toàn trong
hoạt động ngân hàng cũng như tạo ra môi trường làm việc nghiêm túc và có văn hóa.
Hoạt động ngân hàng không thể không gặp rủi ro. Các nhà quản trị giỏi là những nhà
quản trị đối phó được những rủi ro mà ngân hàng mình gặp phải, đồng thời phải có
những cách để giảm thiểu các rủi ro đó.
Công nghệ.
Công nghệ chính là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM với
nhau trong kinh doanh. Công nghệ tạo nên sự chuyển biến mang tính độc đáo và tính tiện
ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Các NHTM ngày nay rất chú ý tới việc nâng
cao công nghệ cho sản phẩm của mình cung cấp .
1.2.2.5 Các nhân tố rủi ro.
- Rủi ro tín dụng: Xuất phát từ các hoạt động tín dụng khi khách hàng vay vi phạm
các điều kiện của hợp đồng tín dụng làm giảm hay mất giá trị của tài sản Có. Tức là một
bộ phận vốn bỏ ra không thu được hiệu quả, trong khi đó nguồn vốn này vẫn phải trả lãi.
Rủi ro này do nhiều nguyên nhân như: Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội không ổn
định; Chính sách pháp luật thay đổi bất lợi cho người đi vay; Do người đi vay yếu kém
trong kinh doanh; Do đạo đức và trình độ của người cho vay yếu.... Với rủi ro này đòi
hỏi khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả của người cho vay. Bất cứ
khách hàng nào đều phải xếp hạng trong quá trình thẩm định. Sau khi thẩm định, phân
tích và định lượng rủi ro, các hạn mức tín dụng hoặc các khoản vay độc lập sẽ được cấp
cho từng khách hàng.
- Rủi ro thanh khoản: Tình trạng thiếu tiền mặt và không có khả năng đáp ứng yếu
cầu rút tiền, vay tiền của khách hàng. Trong tình hình này, ngân hàng phải bỏ ra chi phí
lớn để vay tiền đáp ứng nhu cầu của khách hàng do đó làm giảm lợi nhuận. Ngân hàng

20

phải tuân thu các qui định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của NHNN, đồng thời xây dựng
kế hoạch ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản theo từng giai đoạn hợp lý ( 6 tháng).
- Rủi ro lãi suất: Chính sách lãi suất do Chính phủ và NHNN điều hành dựa trên
chỉ số lạm phát biến động nhằm thắt chặt hay nới lỏng chính sách tiền tệ. Rủi ro lãi suất
phát sinh khi có chênh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa tài sản Nợ và Có của ngân hàng.
Ngân hàng phải có Hội đồng quản trị tài sản Nợ và tài sản Có, luôn giám sát và quản lý
rủi ro lãi suất thông qua các báo cáo thời lượng của tài sản Nợ - Có, biểu đồ lệch kỳ hạn
và hệ số nhạy cảm…thông qua đó để có nhận định chính xác về diễn biến, xu hướng lãi
suất trên thị trường nhằm có quyết định đúng cho các hoạt động của ngân hàng.
- Rủi ro ngoại hối: Hoạt động chủ yếu phục vụ thanh toán quốc tế của khách hàng,
các hoạt động mua bán ngoại tệ quốc tế chiếm tỷ trọng không lớn. Quản lý rủi ro ngoại
hối tập trung vào quản lý trạng thái ngoại hối ròng ở mức hợp lý theo đúng qui định.
- Rủi ro tác nghiệp: Do hệ thống và yếu tố con người. Để phòng chống rủi ro này,
ngân hàng phải chuẩn hoác các qui trình nghiệp vụ, chuẩn hoá việc tuyển dụng và đào
tạo con người. Ngoài ra, hệ thống thông tin của của ngân hàng thường được cải tiến để
nâng cao tính ổn định, an toàn và bảo mật của hệ thống.
1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.1 Vai trò việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM nhằm:
- Làm rõ thực trạng hoạt động của ngân hàng, những nhân tố tác động đến thực
trạng đó; so sánh với các TCTD khác nhằm thúc đẩy cạnh tranh.
- Làm rõ mục tiêu kết quả mà ngân hàng cần đạt đến.
- Làm rõ các nguyên nhân gây nên sự hoạt động kém hiệu quả để khắc phục, cải
tiến và thay đổi.
- Tính toán, dự trù các yếu tố hình thành nên kết quả, từ đó quyết định phương
hướng hoạt động cụ thể phù hợp với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội.
- Thông tin từ việc đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cung cấp
cho mọi đối tượng quan tâm đến nhằm làm cơ sở để đưa ra các quyết định hữu ích cho
các đối tượng khác nhau.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp cần thông tin để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản,
nguồn vốn, chi phí từ đó phát huy các mặt tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố.

21

- Các nhà đầu tư cần thông tin từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa
ra các quyết định đầu tư.
- Các đối tượng cho vay như ngân hàng, công ty tài chính… thông qua các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, hạn
mức cho vay nhằm thu hồi được vốn, lãi.
1.3.2 Nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.2.1 Sơ lược về mô hình CAMELS.
Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng
sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. Sáu chữ cái trong cái tên mô hình CAMELS đã
thể hiện sáu chỉ tiêu cơ bản bằng tiếng Anh để đánh giá. Đó là:
- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn): Thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
- Asset quality (Chất lượng tài sản Có): Thể hiện hiệu quả và an toàn trong cho vay
và đầu tư.
- Manegement (Quản lý): Quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công của hoạt
động ngân hàng. Quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố
sau: Mức độ tăng trưởng cũng như chất lượng tài sản Có, mức độ thu nhập…
- Earning (Lợi nhuận): Thể hiện kết quả của công tác điều hành quản lý tốt.
- Liquidity (Thanh khoản): Khả năng của ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản
của bất cứ lúc nào của khách hàng.
- Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Đo lường mức
độ ảnh hưởng của thay đổi lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ
phần. Khi phân tích chỉ tiêu này người ta quan tâm tới khả năng của ban lãnh đạo ngân
hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa
ra dấu hiệu chỉ dẫn, định hướng rõ ràng và tập trung.
1.3.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua các chỉ tiêu
trong mô hình CAMELS.
a) Mức độ an toàn vốn của NHTM.
 Đánh giá vốn tự có và sự an toàn của ngân hàng: Việc phân tích sự hình thành
vốn tự có của Ngân hàng một cách hợp lý và tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong
hoạt động ngân hàng theo qui định nhằm: Tạo điều kiện để bảo vệ quyền lợi, tài sản cho
những khách hàng đã ký thác tài sản tại ngân hàng; Tạo điều kiện để ổn định và tăng