Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠINHTM.

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠINHTM.

Tải bản đầy đủ

11

định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó mà nó được kiểm
soát rất chặt chẽ.
- NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác – là vốn huy động từ bên
ngoài. Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh,
nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với những rủi ro mà ngân hàng buộc phải
chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng
ngày của mình, NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như bất
kỳ loại hình doanh nghiệp nào khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của
khách hàng.
- Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ
yếu là tài sản vô hình. Nó tồn tại chính dưới hình thức như: các loại kỳ phiếu, trái phiếu,
thương phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy tờ có giá
khác.
- Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ
của NHNN (Ngân hàng Trung ương). Một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh
doanh khi NHNN đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược
lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải
chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của NHNN.
1.1.3 Các nghiệp vụ NHTM.
1.1.3.1 Nghiệp vụ tài sản Nợ (Nghiệp vụ tạo nguồn vốn).
Nghiệp vụ này là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như
đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng những công cụ và biện
pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội
làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm: Vốn tự có; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn
tiếp nhận; Vốn khác.
a) Vốn tự có của NHTM: Được chia làm 2 cấp đó là: i) Vốn cấp 1: còn gọi là vốn
nòng cốt, về cơ bản gồm: Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp), Quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận
không chia. Vốn này dùng để xác định giới hạn mua, đầu tư vào tài sản cố định của
TCTD; ii) Vốn cấp 2: Về cơ bản bao gồm phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản
của TCTD; Nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển

12

đổi, cổ phiếu ưu đãi và 1 số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và dự phòng chung cho rủi ro
tín dụng.
Trong hoạt động ngân hàng nguồn vốn này thường rất nhỏ so với tổng nguồn vốn do
đó chúng chủ yếu tham gia vào tài sản cố định, cơ sở vất chất kỹ thuật phục vụ kinh
doanh. Vốn tự có là nguồn lực cơ bản chứng minh sức mạnh tài chính của NHTM. Với
vốn tự có lớn sẽ làm tăng sự tín nhiệm của công chúng, tăng sức chịu đựng của ngân
hàng khi tình hình kinh tế, tình hình hoạt động của ngân hàng lâm vào tình trạng khó
khăn. Tuy nhiên, xem xét tỷ lệ, qui mô vốn tự có lớn hợp lý cho ngân hàng cần xem đến
các yếu tố rủi ro ngân hàng, nghĩa là luôn đánh giá vốn tự có trong khả năng chịu đựng
rủi ro kinh doanh của ngân hàng đó. Để đo lường mức vốn tự có hợp lý thì người ta
thường xem xét với nhiều khoản mục khác nhau trong bảng tổng kết tài sản như: Tổng
tiền gửi, tổng tài sản, tổng tài sản Có rủi ro.
b) Vốn huy động: Ðây là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM, thực chất là tài sản
bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có
nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Bao gồm: Tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân; Tiền gửi tiết kiệm; Tiền phát hành
chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác.
Hiệu quả của hoạt động huy động vốn thể hiện ở: Qui mô, tốc độ tăng trưởng của
nguồn vốn huy động; Cơ cấu nguồn vốn huy động; Chất lượng nguồn vốn huy động
thông qua tính ổn định và chi phí phải trả cho nguồn vốn huy động.
c) Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của
NHTM. Bao gồm: Vốn vay NHNN thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu các
chứng từ có giá hợp lệ; Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng và vốn
vay NHNNg.
d) Vốn tiếp nhận: từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài
trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh theo mục
tiêu của Nhà nước.
e) Vốn khác: Ðó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng
như đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng…
1.1.3.2 Nghiệp tài sản Có (nghiệp vụ sử dụng vốn).
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định
đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Ðây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận

13

chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng và nguồn thu từ hoạt động này luôn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Tài sản Có của ngân hàng bao
gồm:
a) Dự trữ: Để bảo đảm khả năng thanh toán (đáp ứng được nhu cầu rút tiền của
khách hàng). Bao gồm: Dự trữ sơ cấp (tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tại các ngân hàng
khác) và dự trữ thứ cấp như chứng khoán ngắn hạn (Tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã
chấp nhận và các giấy nợ ngắn hạn khác) có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận
lợi.
b) Cấp tín dụng: Bao gồm các nghiệp vụ sau:
 Cho vay: Là nghiệp vụ mà theo đó NHTM với vai trò là người cho vay sẽ giao
hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Nghiệp vụ này, ngân hàng phải kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình
sử dụng vốn.
 Chiết khấu và tái chiết khấu: Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo
lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng
trước khi đến hạn thanh toán. Còn tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển
nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Các đối
tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá
khác.
 Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty
cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản,
thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất
định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi
kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê
hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê.
 Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với
bên nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết,
khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận.
 Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại các bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản

14

phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
c) Ðầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó
mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho NHTM. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ
dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:
Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; Mua trái phiếu Chính phủ, chính quyền
địa phương, trái phiếu công ty…
d) Tài sản Có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài
sản lưu động nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang
thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ.
1.1.3.3 Các nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ.
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho
nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho
ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn
phát triển hiện nay của NHTM. Các hoạt động này gồm:
a) Mua bán ngoại tệ: Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là
trao đổi (mua bán) ngoại tệ: mua, bán một loại tiền này, lấy một loại tiền khác và hưởng
phí dịch vụ và chênh lệch tỷ giá.
b) Bảo quản hộ tài sản: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các giấy tờ có
giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két (còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân
hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan
trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Dịch vụ này phát
triển cùng với nhiều dịch vụ khác như: Mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách, thanh
toán hộ các khoản lãi hoặc cổ tức …
c) Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi khách hàng gửi
tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả
theo yêu cầu của khách hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh
các hình thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, ngày nay đã phát triển các
hình thức thanh toán mới bằng thẻ, qua mạng internet, thanh toán điện tử…
d) Hoạt động ngân quỹ: Ngân quỹ của ngân hàng là những tài sản có độ thanh khoản
lớn nhất như tiền mặt nội và ngoại tệ, vàng, chứng từ có giá trị ngoại tệ. Ngân hàng

15

thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng thông các nghiệp vụ thu, chi tiền
mặt, nhận biết tiền giả…
e) Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn: Bao gồm các dịch vụ uỷ thác vay hộ, uỷ thác
cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư…Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các
dịch vụ tư vấn như tư vấn tài chính, về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua
bán, sáp nhập doanh nghiệp.
1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.1 Khái niệm chung về hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả
cao nhất.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt và mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận cao cho
nên các NHTM cũng luôn luôn tìm mọi cách để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
thông qua việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao, đa dạng và với mức
giá và chi phí tốt nhất nhằm tạo ra lợi thế kinh doanh, tăng uy tín, tạo ra vị thế và thương
hiệu trên thương trường, cũng như thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Như vậy,
có thể tóm lược hiệu quả kinh doanh của NHTM chính là việc đạt lợi nhuận cao trong
mối quan hệ giữa tổng thu nhập là tối đa và tổng chi phí là tối thiểu.
Để đạt được hiệu quả kinh doanh như mục tiêu đề ra, ngân hàng phải đạt được sự
thống nhất vế lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế. Bởi vì hoạt động kinh
doanh của ngân hàng luôn gắn với thực hiện lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của ngân hàng
và lợi ích của khách hàng. Khi nền kinh tế phát triển, khách hàng có mạnh thì hiệu quả
kinh doanh của NHTM mới đạt kết quả tốt.
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.2.1 Môi trường kinh doanh.
Tình hình kinh tế trong và ngoài nước.
Các yếu tố kinh tế trong nước và ngoài nước có tác động rất lớn tới hiệu quả họat
động kinh doanh của ngân hàng vì ngân hàng liên quan tới tất cả các lĩnh vực, các ngành
nghề kinh tế của một nước, đồng thời còn là cầu nối giữa các tổ chức kinh tế nước ngoài
với các tổ chức kinh tế trong nước.
Các yếu tố chính phản ánh tình hình kinh tế trong nước như: Các yếu tố về nội lực
của nền kinh tế trong nước như: quy mô và mức độ tăng trưởng GDP, dự trữ ngoại

16

hối…; Các yếu tố thể hiện sự ổn định của nền kinh tế như: Chỉ số lạm phát, lãi suất, tỷ
giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế…; Các yếu tố về độ mở cửa của nền kinh tế thể
hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp, kim ngạch xuất nhập khẩu;
Các yếu tố đo lường sức khỏe của các doanh nghiệp trong nước thể hiện qua tiềm lực tài
chính và hiệu quả hoạt động của họ, cùng với xu thế chuyển hướng hoạt động của các
doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước. Các yếu tố trên tác động lớn đến khả năng tích
lũy và đầu tư của người dân, khả năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển sản
phẩm của NHTM, khả năng mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của ngân hàng.
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của nước ngoài
vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp, lượng hàng hóa của
Việt Nam thông qua xuất khẩu. Những ảnh hưởng này sẽ tác động trực tiếp tới các hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, cũng như các NHTM khi
tham gia quan hệ mua bán, thanh toán.
Hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị.
Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM, chịu chi phối và ảnh
hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như: Luật dân sự, luật xây dựng, luật
đất đai, luật cạnh tranh, luật các TCTD…Bên cạnh đó, NHTM còn chịu sự quản lý chặt
chẽ từ NHNN và được xem là một trung gian để NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ
của mình. Do vậy kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách tiền tệ, tài chính của Chính phủ và NHNN.
Ngoài những hệ thống văn bản pháp luật trong nước, các NHTM còn phải chịu
những quy định, chuẩn mực chung của WTO trong việc quản trị hoạt động kinh doanh
của mình. Theo các cam kết quốc tế, các NHTM trong nước buộc phải thay đổi cho phù
hợp với việc thực thi các cam kết quốc tế, nhất là sự hiện diện của các NHTM nước
ngoài tại Việt Nam (Từ 1/4/2007 các NHNNg được thành lập ngân hàng 100% vốn nước
ngoài tại Việt Nam).
1.2.2.2 Sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế.
Hội nhập quốc tế tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính, mà trong đó
kể đến là cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Các NHTM lúc này không thể chỉ dừng
lại ở những sản phẩm dịch vụ truyền thống như huy động và cho vay thông thường, mà
còn cạnh tranh mạnh mẽ ở các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ khác. Mảng dịch vụ hỗ trợ các

17

sản phẩm chính của ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong việc tạo nên uy tín
của ngân hàng và buộc phải đa dạng và hiện đại do một số lý do chính sau đây:
- Dân số ngày càng gia tăng đặc biệt là các khu vực đô thị, cùng với tốc độ đô thị
hóa, các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng tăng dẫn đến số lượng doanh nghiệp
và cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng cũng tăng theo.
- Thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí cũng như văn hóa tiêu dùng của
người dân Việt nam ngày càng tăng nên các loại hình dịch vụ hiện đại cũng tăng theo.
Tuy nhiên, số người sử dụng dịch vụ ngân hàng còn hạn chế theo thống kê khoảng 50%60% dân số (87 triệu người) có tài khoản tại ngân hàng cho nên có thể nhìn thấy trong
tương lai các loại hình dịch vụ ngân hàng sẽ còn gia tăng mạnh.
- Số lao động di cư giữa các quốc gia và nhu cầu du học ngày càng tăng dẫn đến
các nhu cầu chuyển tiền và thanh toán qua ngân hàng ngày càng gia tăng.
- Các hoạt động giao thương quốc tế ngày càng phát triển làm gia tăng nhu cầu
thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính ngày càng phát triển cho nên khách hàng sẽ có
nhiều lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng ngày càng cao
hơn về chất lượng, giá cả, các tiện ích và phong cách phục vụ. Chính vì thế ngân hàng
phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện mình hơn nhằm thu hút được mảng khách hàng
tiềm năng này góp phần tăng nguồn thu cho ngân hàng.
1.2.2.3 Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan đến ngành
ngân hàng.
Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các ngân hàng phát
triển và gia tăng cung vào một ngành có lợi nhuận, từ đó dẫn đến mức độ cạnh tranh gia
tăng, thị phần bị chia sẻ dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, do
đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có mối liên hệ rất chặt chẽ và có
sự bổ trợ lẫn nhau như các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán với các ngân
hàng. Như vậy, tuy thị trường bảo hiểm và chứng khoán phát triển đã chia sẻ thị phần
với ngân hàng nhưng cũng đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngân hàng thông qua việc
cắt giảm chi phí và tạo điều kiện cho các ngân hàng đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng,
tận dụng được nhiều lợi thế trong kinh doanh.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát
triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác như tin

18

học, viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán. Đây là những ngành phụ trợ mà sự phát
triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng đa dạng hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu
và uy tín, thu hút nguồn nhân lực cũng như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một
thị trường tài chính vững mạnh.
1.2.2.4 Các nhân tố thuộc về NHTM.
Chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Chiến lược phát triển sản phẩm là nhiệm vụ rất quan trọng đối với mỗi NHTM, nó là
sự cần thiết với sự tồn tại và phát triển của NHTM nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai
đoạn có sự cạnh tranh gay gắt. Chiến lược phát triển các sản phẩm giúp các NHTM nắm
bắt được các cơ hội thị trường và tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong khả
năng nguồn lực của mình để đạt được kết quả cao trong các mục tiêu kinh doanh đã đề
ra. NHTM phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ chăm sóc khách
hàng, xây dựng mạng lưới rộng rãi để sản phẩm tới người tiêu dùng.
Nguồn nhân lực.
Con người là nhân tố quan trọng nhất cho quá trình cải cách và phát triển của
NHTM. Nhân lực tốt không những làm chủ mạng lưới, công nghệ mà còn là nhân tố
quyết định cải tiến mạng lưới, công nghệ, qui trình…và điều quan trọng hơn là tạo ra và
duy trì các mối quan hệ bền vững với khách hàng. Một NHTM chỉ có thể phát triển bền
vững nếu có một nền tảng khách hàng bền vững, điều này máy móc, công nghệ, thiết bị
không thể làm thay được cho con người.
Nguồn nhân lực thể hiện trên hai khía cạnh đó số lượng và chất lượng nhân lực:
Về số lượng: Khi mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt khách hàng, các
NHTM cần phải có số lượng lao động nhất định. Tuy nhiên, phải đánh giá chỉ tiêu này
với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để thấy được năng suất lao động của
người lao động trong ngân hàng
Về chất lượng: Nói đến chất lượng lao động thì trước tiên phải xét đến trình độ văn hóa
của đội ngũ lao động bao gồm trình độ học vấn và kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học,
khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề…Tiêu chí này rất quan
trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học
hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ, chất lượng lao động còn thể
hiện ở đạo đức của từng người lao động trong tác nghiệp, đạo đức tốt sẽ hạn chế được rất
nhiều những rủi ro cho ngân hàng.

19

Trình độ quản lý điều hành.
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, các ngân hàng Việt Nam đang đứng trước
nhiều vận hội lẫn thách thức. Làm thế nào để tạo ra ưu thế cạnh tranh, tồn tại và phát
triển trong khi tất cả các đối thủ đều tận dụng triệt để các cơ hội của thị trường từ các
khâu sản phẩm, lãi suất, phí, mạng lưới phân phối và quảng cáo tiếp thị. Như vậy, chỉ có
năng lực quản lý của con người mới quyết định được sự thành công của công việc. Đội
ngũ lãnh đạo, ngoài yêu cầu phải có trình độ chuyên môn, khả năng giao tiếp cũng như
khả năng ngoại ngữ tốt còn phải có tầm và tâm mới đem đến hiệu quả hoạt động tốt cho
ngân hàng, đưa ra những kế hoạnh phát triển chính xác, hiệu quả cao và an toàn trong
hoạt động ngân hàng cũng như tạo ra môi trường làm việc nghiêm túc và có văn hóa.
Hoạt động ngân hàng không thể không gặp rủi ro. Các nhà quản trị giỏi là những nhà
quản trị đối phó được những rủi ro mà ngân hàng mình gặp phải, đồng thời phải có
những cách để giảm thiểu các rủi ro đó.
Công nghệ.
Công nghệ chính là một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM với
nhau trong kinh doanh. Công nghệ tạo nên sự chuyển biến mang tính độc đáo và tính tiện
ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Các NHTM ngày nay rất chú ý tới việc nâng
cao công nghệ cho sản phẩm của mình cung cấp .
1.2.2.5 Các nhân tố rủi ro.
- Rủi ro tín dụng: Xuất phát từ các hoạt động tín dụng khi khách hàng vay vi phạm
các điều kiện của hợp đồng tín dụng làm giảm hay mất giá trị của tài sản Có. Tức là một
bộ phận vốn bỏ ra không thu được hiệu quả, trong khi đó nguồn vốn này vẫn phải trả lãi.
Rủi ro này do nhiều nguyên nhân như: Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội không ổn
định; Chính sách pháp luật thay đổi bất lợi cho người đi vay; Do người đi vay yếu kém
trong kinh doanh; Do đạo đức và trình độ của người cho vay yếu.... Với rủi ro này đòi
hỏi khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả của người cho vay. Bất cứ
khách hàng nào đều phải xếp hạng trong quá trình thẩm định. Sau khi thẩm định, phân
tích và định lượng rủi ro, các hạn mức tín dụng hoặc các khoản vay độc lập sẽ được cấp
cho từng khách hàng.
- Rủi ro thanh khoản: Tình trạng thiếu tiền mặt và không có khả năng đáp ứng yếu
cầu rút tiền, vay tiền của khách hàng. Trong tình hình này, ngân hàng phải bỏ ra chi phí
lớn để vay tiền đáp ứng nhu cầu của khách hàng do đó làm giảm lợi nhuận. Ngân hàng

20

phải tuân thu các qui định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của NHNN, đồng thời xây dựng
kế hoạch ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản theo từng giai đoạn hợp lý ( 6 tháng).
- Rủi ro lãi suất: Chính sách lãi suất do Chính phủ và NHNN điều hành dựa trên
chỉ số lạm phát biến động nhằm thắt chặt hay nới lỏng chính sách tiền tệ. Rủi ro lãi suất
phát sinh khi có chênh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa tài sản Nợ và Có của ngân hàng.
Ngân hàng phải có Hội đồng quản trị tài sản Nợ và tài sản Có, luôn giám sát và quản lý
rủi ro lãi suất thông qua các báo cáo thời lượng của tài sản Nợ - Có, biểu đồ lệch kỳ hạn
và hệ số nhạy cảm…thông qua đó để có nhận định chính xác về diễn biến, xu hướng lãi
suất trên thị trường nhằm có quyết định đúng cho các hoạt động của ngân hàng.
- Rủi ro ngoại hối: Hoạt động chủ yếu phục vụ thanh toán quốc tế của khách hàng,
các hoạt động mua bán ngoại tệ quốc tế chiếm tỷ trọng không lớn. Quản lý rủi ro ngoại
hối tập trung vào quản lý trạng thái ngoại hối ròng ở mức hợp lý theo đúng qui định.
- Rủi ro tác nghiệp: Do hệ thống và yếu tố con người. Để phòng chống rủi ro này,
ngân hàng phải chuẩn hoác các qui trình nghiệp vụ, chuẩn hoá việc tuyển dụng và đào
tạo con người. Ngoài ra, hệ thống thông tin của của ngân hàng thường được cải tiến để
nâng cao tính ổn định, an toàn và bảo mật của hệ thống.
1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.1 Vai trò việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM nhằm:
- Làm rõ thực trạng hoạt động của ngân hàng, những nhân tố tác động đến thực
trạng đó; so sánh với các TCTD khác nhằm thúc đẩy cạnh tranh.
- Làm rõ mục tiêu kết quả mà ngân hàng cần đạt đến.
- Làm rõ các nguyên nhân gây nên sự hoạt động kém hiệu quả để khắc phục, cải
tiến và thay đổi.
- Tính toán, dự trù các yếu tố hình thành nên kết quả, từ đó quyết định phương
hướng hoạt động cụ thể phù hợp với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội.
- Thông tin từ việc đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cung cấp
cho mọi đối tượng quan tâm đến nhằm làm cơ sở để đưa ra các quyết định hữu ích cho
các đối tượng khác nhau.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp cần thông tin để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản,
nguồn vốn, chi phí từ đó phát huy các mặt tích cực và đưa ra các biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố.

21

- Các nhà đầu tư cần thông tin từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa
ra các quyết định đầu tư.
- Các đối tượng cho vay như ngân hàng, công ty tài chính… thông qua các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh doanh để đưa ra các quyết định cho vay ngắn hạn, dài hạn, hạn
mức cho vay nhằm thu hồi được vốn, lãi.
1.3.2 Nội dung đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.3.2.1 Sơ lược về mô hình CAMELS.
Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng
sinh lời và thanh khoản của ngân hàng. Sáu chữ cái trong cái tên mô hình CAMELS đã
thể hiện sáu chỉ tiêu cơ bản bằng tiếng Anh để đánh giá. Đó là:
- Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn): Thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
- Asset quality (Chất lượng tài sản Có): Thể hiện hiệu quả và an toàn trong cho vay
và đầu tư.
- Manegement (Quản lý): Quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công của hoạt
động ngân hàng. Quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố
sau: Mức độ tăng trưởng cũng như chất lượng tài sản Có, mức độ thu nhập…
- Earning (Lợi nhuận): Thể hiện kết quả của công tác điều hành quản lý tốt.
- Liquidity (Thanh khoản): Khả năng của ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản
của bất cứ lúc nào của khách hàng.
- Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Đo lường mức
độ ảnh hưởng của thay đổi lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ
phần. Khi phân tích chỉ tiêu này người ta quan tâm tới khả năng của ban lãnh đạo ngân
hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa
ra dấu hiệu chỉ dẫn, định hướng rõ ràng và tập trung.
1.3.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua các chỉ tiêu
trong mô hình CAMELS.
a) Mức độ an toàn vốn của NHTM.
 Đánh giá vốn tự có và sự an toàn của ngân hàng: Việc phân tích sự hình thành
vốn tự có của Ngân hàng một cách hợp lý và tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong
hoạt động ngân hàng theo qui định nhằm: Tạo điều kiện để bảo vệ quyền lợi, tài sản cho
những khách hàng đã ký thác tài sản tại ngân hàng; Tạo điều kiện để ổn định và tăng