Tải bản đầy đủ
5 Tổng quan các khung lý thuyết trƣớc đây

5 Tổng quan các khung lý thuyết trƣớc đây

Tải bản đầy đủ

15

giữa một " hướng dữ liệu " và một cách tiếp cận mạch lạc dựa trên lý thuyết kinh tế.
Các phương pháp VAR đã được phát triển hơn nữa trong các nghiên cứu khác như
Gerlach và SMETS (1995); Leeper, Sims, và Zha (1998); và Christiano,
Eichenbaum, và Evans (1999). Tương tự như vậy, đã có nghiên cứu sâu rộng thực
hiện ở châu Âu để nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của truyền dẫn tiền tệ ở các
nước khu vực đồng euro (xem Angeloni, Kashyap, và Mojon, 2003). Các nghiên
cứu về truyền dẫn tiền tệ trong khu vực đồng Euro, hoặc tập trung phân tích vào khu
vực đồng euro (Peersman và Smets, 2001) hoặc nghiên cứu quốc gia cụ thể chi tiết
(Mojon và Peersman, 2001).
Ito và Sato (2006) nghiên cứu sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái ở các nước Đông
Á sau khủng hoảng bằng việc sử dụng mô hình VAR 5 biến và mô hình VAR có 7
biến bao gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá
sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng và các biến kinh tế vĩ mô (chính sách tiền tệ, cú sốc
cung (giá dầu) và cú sốc cầu (chênh lệch sản lượng)). Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ
chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào giá sản xuất là khá cao trong nền kinh tế khủng hoảng.
Các nghiên cứu đối với các nước phát triển, McCarthy, J. (2000) là người tiên
phong trong việc sử dụng mô hình VAR để thực hiện nghiên cứu về truyền dẫn tỷ
giá hối đoái. Mô hình VAR đệ qui (recursive VAR) được sử dụng để nghiên cứu
mức tác động của tỷ giá hối đoái và chỉ số giá nhập khẩu đến chỉ số giá sản xuất và
chỉ số giá tiêu dùng tại một số nền kinh tế phát triển giai đoạn 1976 – 1998. Kết quả
nghiên cứu cho thấy:
1) Việc nâng giá đồng nội tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài
với thời gian ít nhất là 1 năm ở hầu hết các nước khảo sát.
2) Phản ứng của chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng đối với chỉ số giá
nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước được khảo sát.
Hahn (2003) nghiên cứu về tác động của các cú sốc bên ngoài (cú sốc giá dầu,
cú sốc tỷ giá và cú sốc chỉ số giá nhập khẩu ngoại trừ giá dầu) đến chuỗi các chỉ số
giá (chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng) của khu vực
sử dụng đồng tiền chung châu Âu. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng mô

16

hình VAR đệ qui như McCarthy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự truyền dẫn lớn
nhất và nhanh nhất là do cú sốc của chỉ số giá nhập khẩu ngoại trừ giá dầu (non-oil
import price shock), tiếp đó là cú sốc tỷ giá và cú sốc giá dầu. Mức độ ảnh hưởng
của các cú sốc này sẽ giảm dần theo chuỗi chỉ số giá, tức là mức truyền dẫn đến chỉ
số giá nhập khẩu là lớn nhất, tiếp đến là chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng.
Các nghiên cứu đối với các nước đang phát triển Daniel Leigh và Marco Rossi
thuộc IMF năm 2002 đã sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu sự truyền dẫn của tỷ
giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Trong nghiên cứu tác giả đã sử
dụng dữ liệu thống kê hàng tháng từ tháng 1 năm 1994 đến tháng 4 năm 2002 để
thực hiện nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của cú sốc tỷ giá hối
đoái đến các chỉ số giá tại Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài trên 1 năm và có mức tác động mạnh
nhất sau 4 tháng, sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá bán sỉ có mức độ mạnh hơn
giá cả tiêu dùng và sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là hoàn toàn trong một thời gian
ngắn và với mức độ lớn hơn so với các ước lượng được thực hiện tại các nước đang
phát triển khác trong nghiên cứu.
Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez (2007) sử dụng mô hình
VAR để nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đối với 12 nước đang phát triển
thuộc châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đối
với các nước đang phát triển có lạm phát chỉ ở mức một con số thì mức truyền dẫn
đến chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là thấp. Kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy một mối quan hệ cùng chiều rõ rệt giữa độ lớn của sự truyền dẫn tỷ giá hối
đoái và lạm phát, điều này phù hợp với nghiên cứu của Taylor (2000). Trong khi
mối tương quan cùng chiều giữa độ mở của một quốc gia và độ lớn của sự truyền
dẫn tỷ giá hối đoái chỉ được hỗ trợ ở mức yếu.
Ito và Sato (2007) dùng mô hình VAR để nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối
đoái với các nước thuộc khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng
hoảng tiền tệ năm 1997 – 1998 gồm: Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippine và
Malaysia. Dữ liệu nghiên cứu từ tháng 1 năm 1994 đến tháng 12 năm 2006. Kết quả
của nghiên cứu cho thấy: độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá

17

nhập khẩu là cao nhất, sau đó đến chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng; mức
truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu là khá cao ở các nước bị ảnh
hưởng bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ; mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá
tiêu dùng nhìn chung tương đối thấp ở các nước được khảo sát ngoại trừ Indonesia;
phản ứng của lãi suất đối với cú sốc tỷ giá hối đoái là dương ở các nước được khảo
sát và đạt mức lớn nhất tại Indonesia; điều này cho thấy NHTW các nước đặc biệt là
NHTW Indonesia đã áp dụng chặt chẽ chính sách thắt chặt tiền tệ để hạn chế lạm
phát và hạn chế mức phá giá mạnh hơn đồng nội tệ trong tương lai. Tuy nhiên
Indonesia do phải đối diện với vấn đề thanh khoản kém và thiếu vốn của hệ thống
ngân hàng thương mại khiến NHTW Indonesia phải nới rộng cung tiền; mâu thuẫn
trong việc thi hành chính sách tiền tệ khiến nước này là nước phải chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng năm 1997 – 1998.
* Một số nghiên cứu ở Việt Nam về truyền dẫn tỷ giá hối đoái sử dụng mô hình
Var.
Võ Văn Minh (2009) sử dụng mô hình VAR và phân tích phản ứng đẩy để đo
lường mức độ chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào giá cả trong nước từ tháng 1 năm
2001 đến tháng 2 năm 2007. Khung phân tích bao gồm các biến: giá dầu, tỷ giá hối
đoái danh nghĩa hiệu lực đa phương (NEER), chênh lệch sản lượng (GAP), chỉ số
giá nhập khẩu (IMP) – được tính toán từ chỉ số giá xuất khẩu của các đối tác thương
mại với Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và cung tiền (M2). Kết quả cho thấy
sự chuyển dịch bình quân trong năm đầu tiên là 61%. Tác động lớn nhất vào giá
nhập khẩu vào khoảng 5 đến 7 tháng sau cú sốc tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, tác động
của tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng thậm chí kéo dài khoảng 10 tháng sau cú sốc.
Sau 15 tháng, tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu và giá tiêu dùng
bị loại bỏ hoàn toàn.
Bạch Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái
và các cú sốc kinh tế vĩ mô đến chuỗi chỉ số giá trong nước ở Việt Nam từ quý 1
năm 2001 đến quý 2 năm 2011 sử dụng mô hình VAR, phân tích phản ứng đẩy và
phân tách phương sai. Các biến nghiên cứu bao gồm: chỉ số giá nhập khẩu (IMP),

18

chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu
lực đa phương (NEER), GDP thực, cung tiền (M2) và giá dầu (OIL). Nghiên cứu
cho thấy tác động lớn nhất của cú sốc tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu là sau
khoảng gần 14 tháng kể từ khi có cú sốc tỷ giá hối đoái với độ lớn khoảng 77%.
Mức tác động lớn nhất của cú sốc tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá sản xuất cũng sau
khoảng gần 14 tháng với độ lớn khoảng 73%. Cú sốc tỷ giá hối đoái tác động đến
chỉ số giá tiêu dùng là thấp nhất với mức cao nhất sau gần 15 tháng là 39,64%.
Nghiên cứu cũng cho thấy chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng đều chịu ảnh
hưởng từ cú sốc tỷ giá hối đoái với thời gian kéo dài khoảng 24 tháng, nhiều hơn so
với 15 tháng trong nghiên cứu của Võ Văn Minh (2009).
Nguyễn Hoàng Anh, Trịnh Quang Vũ (2011) sử dụng phân tích định lượng tác
động của các kênh truyền dẫn tiền tệ lên tổng sản lượng và mức giá tại Việt Nam sử
dụng mô hình tự hồi quy vector var, "Với độ mở ngày càng lớn, Việt Nam dễ dàng
hấp thụ các cú sốc giá từ thị trường thế giới thông qua kênh tỷ giá. Tỷ trọng lớn của
ngành công nghiệp làm cho sự biến động giá thế giới của các nguyên liệu chính như
dầu, phôi thép…ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng và lạm phát chung của nền
kinh tế Việt Nam. Thêm vào đó, khi nền kinh tế rơi vào bất ổn với tỷ lệ lạm phát cao
như năm 2009, việc chuyển ưu tiên từ tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát
đã cho thấy tầm quan trọng của kênh lãi suất và cung tiền trong việc điều hành
chính sách tiền tệ của chính phủ.
Nhóm tác giả cho rằng tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam trong thời gian
qua đã thực sự gắn liền với những bước đi trong chính sách tiền tệ của Chính phủ
bằng việc sử dụng các kênh truyền dẫn tiền tệ như cung tiền, lãi suất và tỷ giá. Khi
đánh giá kênh truyền dẫn tỷ giá, kết quả phân tích của bài nghiên cứu cũng phù hợp
kết quả của nhiều bài nghiên cứu trước đó khi cho rằng, một cú sốc về tỷ giá danh
nghĩa là nhân tố quan trọng dẫn đến lạm phát ở Việt Nam. Thêm vào đó, bài nghiên
cứu cũng tìm thấy bằng chứng về tác động nhân quả của tăng trưởng trong tổng sản
lượng công nghiệp và mức lạm phát cao của Việt Nam. Về kênh truyền dẫn còn lại
là lãi suất, kết quả phân tích định lượng cũng chỉ ra rằng tại Việt Nam, lãi suất và

19

mức giá CPI tác động qua lại lẫn nhau. Một cú sốc tăng lãi suất có thể làm chỉ số
giá CPI tăng mạnh nhất vào quý 2 nhưng sau đó lại giảm cho đến giữa năm thứ 2.
Tương tự như vậy, một cú sốc trong việc gia tăng mức giá cũng có thể dẫn đến lãi
suất tăng mạnh sau 2 quý và lãi suất sau đó sẽ giảm mạnh nhất vào thời điểm giữa
năm thứ 2 từ khi phát sinh cú sốc.
Ba kênh truyền dẫn nêu trên cũng là ba kênh truyền dẫn chủ yếu ở Việt Nam
hiện nay. Trong đó, kênh tỷ giá vẫn là kênh truyền dẫn quan trọng nhất đối với chỉ
số giá, trong khi cung tiền là kênh quan trọng nhất tác động lên tổng sản lượng. Vai
trò của kênh truyền dẫn lãi suất vẫn còn tương đối mờ nhạt. Bằng việc lựa chọn độ
trễ cho các kênh truyền dẫn theo nhiều tiêu chuẩn thống kê khác nhau, bài phân tích
chỉ ra rằng, tác động của kênh cung tiền và lãi suất phát huy hiệu quả mạnh nhất sau
4 quý. Kênh tỷ giá phải mất 5 quý mới phát huy hiệu quả nhất tính truyền dẫn của
mình.
Như vậy, có thể thấy hầu hết các nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái đều
sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu mặc dù có các mục tiêu nghiên cứu khác nhau.
2.5.1.2 Các nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR.
Mala Raghavan và Param Silvapulle (2007) sử dụng mô hình SVAR để nghiên
cứu các khuôn khổ chính sách tiền tệ của một nền kinh tế mới nổi nhỏ mở Malaysia. Nghiên cứu quan tâm đến phản ứng của nền kinh tế năng động đối với
cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các cú sốc nước ngoài. Sau cuộc khủng hoảng
tài chính vào tháng 7 năm 1997, Malaysia đã áp dụng chế độ tỷ giá cố định vào
tháng 9 năm 1998. Tác giả tìm hiểu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Malaysia
đã thay đổi trong thời kỳ hậu khủng hoảng bằng cách phân tích cường độ các phản
ứng của các biến trong nước đối với những cú sốc tiền tệ khác nhau. Các kết quả
thực nghiệm cho thấy sự khác biệt đáng chú ý: (1) Trong kỳ trước khủng hoảng cú
sốc chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng, giá cả, lãi
suất, và tỷ giá hối đoái; và (2) Trong thời kỳ hậu khủng hoảng chỉ có những cú sốc
tiền tệ có ảnh hưởng mạnh hơn đến sản lượng. Hơn nữa, chính sách tiền tệ trong
nước dễ bị tổn thương hơn trước đối với những cú sốc nước ngoài đặc biệt là các cú

20

sốc giá hàng hóa thế giới và cú sốc sản lượng trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Kết
quả nghiên cứu đã chỉ ra cuộc khủng hoảng đã thay đổi vai trò của các kênh truyền
dẫn chính sách tiền tệ ở Malaysia.
Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2012) nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái
vào các chỉ số giá ở Việt Nam đồng thời xem xét các yếu tố tác động đến độ lớn của
truyền dẫn tỷ giá hối đoái như: (1) quy mô nền kinh tế, (2) độ mở nền kinh tế, (3)
mức độ bất ổn tỷ giá hối đoái, (4) cú sốc dai dẳng của tỷ giá hối đoái, (5) mức độ
bất ổn tổng cầu, (6) lạm phát lâu dài và (7) môi trường chính sách tiền tệ. Giai đoạn
nghiên cứu bắt đầu từ quý 1 năm 2001 đến quý 4 năm 2011. Kết quả cho thấy mức
truyền dẫn đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó là mức truyền dẫn đến chỉ số
giá sản xuất và thấp nhất là mức truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng. Mức truyền
dẫn đến chỉ số giá nhập khẩu là hoàn toàn kể từ quý thứ 5 trở đi và mức truyền dẫn
đến chỉ số giá sản xuất là hoàn toàn trong thời gian từ quý thứ 5 đến quý thứ 6.
2.5.1.3 Truyễn dẫn tỷ giá hối đoái với mô hình phi tuyến.
Trong nghiên cứu sự hồi quy bội trong đó biến phụ thuộc (Y) quan hệ với
nhiều biến độc lập (Xs). Sự lựa chọn các biến độc lập sẽ dựa theo lý thuyết kinh tế,
trực giác, kinh nghiệm quá khứ, và những nghiên cứu khác. Để tránh sự thiên lệch
của biến bị loại bỏ nhà nghiên cứu thường thêm vài biến giải thích mà ngờ rằng có
ảnh hưởng đến biến phụ thuộc. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Y và các biến X
nghiên cứu cho đến giờ vẫn giả sử là tuyến tính. Đây hiển nhiên là ràng buộc
nghiêm ngặt và không thực tế trên một mô hình. Trong một số trường hợp, một số
nghiên cứu thấy rằng giả thiết tuyến tính đã cho dự đoán xấu trong một thời kỳ. Bên
cạnh các sự việc quan sát thực nghiệm của dạng này, thường còn có những lý thuyết
tốt cho việc xem xét các dạng hàm tổng quát của mối quan hệ giữa các biến phụ
thuộc và độc lập. Ví dụ, lý thuyết kinh tế cho chúng ta biết rằng đường cong chi phí
trung bình có dạng chữ U, và do vậy giả thiết tuyến tính là đáng ngờ nếu ta muốn
ước lượng đường cong chi phí trung bình.
Winkelried (2003) chỉ ra rằng việc thừa nhận tác động truyền tải của tỷ giá hối
đoái vào giá là một tham số ổn định – đây là một sai lầm phổ biến, trên thực tế, nó

21

phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. “Mặc dù nó là một hiện tượng kinh tế vi
mô, nhưng các thiết lập kinh tế vĩ mô vẫn có thể làm thay đổi tác động của tỷ giá
đối với lạm phát thông qua chuỗi phân phối (distributional chain). Các công ty có
thể phải đối mặt với cú sốc kinh tế vĩ mô nghiêm trọng hoặc bình thường, điều này
có thể gây ra một thay đổi thường xuyên trong khối lượng mậu dịch và chênh lệch
giá - chi phí; từ đó, đáng chú ý là mức độ và sự dai dẵng của tác động truyền tải”.
Đặc biệt, ông phân tích 5 biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng quan trọng đến tác động
truyền tải là: tính linh hoạt của tỷ giá, chu kỳ kinh doanh, sự mất cân bằng tỷ giá hối
đoái thực, cơ chế lạm phát và tình trạng đô la hóa.
Paul Castillo (2011) phân tích xem liệu tác động truyền tải của tỷ giá hối đoái
vào giá có thay đổi không khi chương trình lạm phát mục tiêu được áp dụng ở Peru.
Cũng như Winkelried (2003), bài nghiên cứu này đã chọn mô hình VSTAR phi tuyến
qua đặc điểm tuyến tính với một kỹ thuật đặc trưng, trên cơ sở tác động truyền tải
được công nhận là một hiện tượng phụ thuộc vào chính phủ. Tuy nhiên, bài viết này
mở rộng theo nghiên cứu của Winkelried (2003) bằng cách mô hình hóa tính phụ
thuộc của tác động truyền tải khi có biến bổ sung, trong trường hợp này là biến chính
sách tiền tệ. Cuối cùng, khác với các nghiên cứu chia nhỏ mẫu, phương pháp được
đề xuất cho phép ước lượng tác động truyền tải ở các nước có ít quan sát ở thời kỳ
trước và sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu. Thứ nhất, mô hình tổng thể cân bằng
động ngẫu nhiên (Dynamic Stochastic General Equilibrium Model- DSGE Model),
cho thấy việc áp dụng chương trình lạm phát mục tiêu cho phép một sự gia tăng
trong biến động tỷ giá. Hơn nữa, việc tỷ giá hối đoái tăng làm giảm số lượng công ty
định giá bằng ngoại tệ (USD) đã được chứng minh thông qua các lý thuyết tiền tệ
thương mại quốc tế. Tác động truyền tải có quan hệ trực tiếp tới điều này, nó cho
thấy rằng việc áp dụng lạm phát mục tiêu làm giảm hiệu ứng truyền dẫn. Thứ hai,
khi tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về việc NHTW Peru quyết định áp
dụng lạm phát mục tiêu từ tháng 1/2002 liệu có thực sự ảnh hưởng đến tác động
truyền tải, nghiên cứu ước lượng bằng mô hình tự hồi quy vector thay đổi theo thời
gian (a time-varying vector autoregressive model – VSTAR model), mô hình cho

22

phép ước lượng bất đối xứng về tác động truyền tải. Bài nghiên cứu còn cung cấp
các thông số trước và sau khi thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu dựa trên giả định
rằng chuyển đổi từ cơ chế này sang cơ chế khác diễn ra dễ dàng. Một phân tích về
hàm phản ứng đẩy tổng quát cho thấy rằng quyết định áp dụng lạm phát mục tiêu
làm giảm đáng kể tác động truyền tải của tỷ giá vào giá nhập khẩu, giá sản xuất và
giá tiêu dùng. Những kết quả này phù hợp với lý thuyết kinh tế và đặc tính các thông
số của mô hình.
(Winkelried, 2003) phân tích 5 biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng quan trọng đến
tác động truyền tải là: tính linh hoạt của tỷ giá, chu kỳ kinh doanh, sự mất cân bằng
tỷ giá hối đoái thực, cơ chế lạm phát và tình trạng đô la hóa. Tuy nhiên, nó có thể
được chứng minh rằng hiệu ứng truyền dẫn cũng là một hiện tượng phi tuyến trong
các cơ chế chính sách tiền tệ. Đặt PT là tác động truyền tải tại thời điểm :

Trong đó, πCPI là phần trăm thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và ue là cú
sốc về tỷ giá (an exchange rate shock). Từ phương trình trên có thể viết lại như sau:

Với, I là tỷ lệ hàng hóa nhập khẩu trong rổ hàng hóa tiêu dùng và  là số công
ty xuất khẩu nước ngoài định giá bằng ngoại tệ. Phương trình cho thấy rằng, nếu 
không phải là một tham số ổn định, tác động truyền tải sẽ không tuyến tính. Hơn nữa,
không có bằng chứng lý thuyết hỗ trợ sự ổn định của , trái lại, nó phụ thuộc vào độ
co dãn của cầu hàng nhập khẩu theo giá, đáng chú ý, phương sai của tỷ giá hối
đoái,và hiệp phương sai của nó với các chi phí cận biên,việc áp dụng lạm phát mục
tiêu thúc đẩy nhiều công ty theo LCP hoặc giảm  tương ứng, từ đó chuyển thành tác
động giảm trong truyền dẫn. Điều này giải thích cho hiện tượng giảm tác động
truyền tải.
2.6 Kết luận từ những mô hình nghiên cứu trƣớc đây.
Kết luận chung từ các nghiên cứu trước đây có không nhiều để đạt được từ

23

việc sử dụng một mô hình phi tuyến (gồm 2 nhánh tuyến tính: AR và phi tuyến: NN)
thay vì mô hình tự hồi quy tuyến tính đơn giản. Marcellino (2002) là một ngoại lệ
cho quy tắc này. Các dữ liệu thiết lập trong nghiên cứu của ông bao gồm 480 dòng
kinh tế vĩ mô hàng tháng từ 11 quốc gia mà ban đầu được hình thành Liên minh tiền
tệ châu Âu. Trong khi một mô hình AR tuyến tính tổng thể là sự lựa chọn tốt nhất
về dự báo thời điểm chính xác, có một cách hợp lý số lượng lớn các chuỗi thời gian
đã được dự đoán chính xác nhất của mô hình AR-NN khi tiêu chí để so sánh là gốc
có nghĩa là bình phương sai số dự báo. Số lượng các nghiên cứu kiểm tra việc thực
hiện dự báo của các mô hình STAR liên quan đến tuyến tính hoặc mô hình phi
tuyến khác còn nhỏ hơn. Terasvirta và Anderson (1992) xem dự báo khối lượng sản
xuất công nghiệp với các mô hình STAR. Ngay cả ở đây, các kết quả đã được pha
trộn khi gốc có nghĩa là bình phương sai số dự báo được sử dụng như một tiêu
chuẩn để so sánh với các mô hình tuyến tính. Sarantis (1999) dự báo tỷ giá hối đoái
thực tế sử dụng tuyến tính và mô hình STAR và thấy rằng không có nhiều tiêu
chuẩn để lựa chọn giữa chúng. Mô hình STAR đã được sử dụng, tuy nhiên, việc dự
báo vẫn chưa chính xác hơn so với các mô hình Markov-chuyển đổi. Tương tự như
vậy, Boero và Marrocu (2002) nhận thấy rằng các mô hình STAR đã không thực
hiện tốt hơn so với mô hình AR tuyến tính trong dự báo tỷ giá hối đoái danh nghĩa,
mặc dù Kilian và Taylor (2003) đã cố gắng cải thiện để dự báo chính xác từ việc sử
dụng mô hình STAR. Các kết quả cá nhân trong SW không cho rằng dự báo từ mô
hình LSTAR chính xác hơn dự báo từ các mô hình tuyến tính. Những phát hiện của
Marcellino (2002) cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của ông liên quan đến mô
hình AR-NN: một phần tương đối lớn của chuỗi dữ liệu đã dự báo chính xác nhất
bởi các mô hình LSTAR, nhưng đối với nhiều chuỗi dữ liệu khác khác mô hình này
rõ ràng yếu hơn.
Kết luận chƣơng 2
Khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái được đề cập trong luận văn được hiểu
theo nghĩa “truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong

24

nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm”. Các chỉ số giá trong
nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng.
Theo các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trước đây, độ lớn của mức
truyền dẫn tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào các yếu: môi trường truyền dẫn phụ thuộc
vào chính sách áp dụng lạm phát mục tiêu; môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào
mức độ tín nhiệm và cam kết của chính phủ; môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ.
Lạm phát mục tiêu là một khuôn khổ hiệu quả của chính sách tiền tệ và
khuôn khổ này đặc biệt thích hợp với những nền kinh tế nhỏ, mở có tỷ giá hối đoái
linh hoạt. Những đặc tính cốt lõi của lạm phát mục tiêu liên quan đến việc công bố
ra công chúng về mục tiêu của lạm phát, thừa nhận lạm phát thấp và ổn định là mục
tiêu dài hạn quan trọng của chính sách tiền tệ, tính minh bạch về mục tiêu của chính
sách và tính hợp lý cho những quyết định chính sách tiền tệ và trách nhiệm giải
trình cho việc đạt được mục tiêu của chính sách.
Việc có nên áp dụng lạm phát mục tiêu hay không còn là câu hỏi bỏ ngỏ cho
Việt Nam và trong bài nghiên cứu này cũng chưa đề cập đến việc trả lời cho câu hỏi
này. Nhưng rõ ràng với các nghiên cứu truyền dẫn thực nghiệm không chỉ trên thế
giới mà còn ở Việt Nam thì nghiên cứu về lạm phát, truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào
giá là cần thiết và quan trọng.