Tải bản đầy đủ
3 Kênh truyền dẫn và môi trƣờng truyền dẫn tỷ giá hối đoái.

3 Kênh truyền dẫn và môi trƣờng truyền dẫn tỷ giá hối đoái.

Tải bản đầy đủ

11

Từ những năm 1970, các nhà kinh tế học đã nghiên cứu tác động của những
biến động tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước vì nó có ý nghĩa quan trọng trong
việc truyền dẫn những cú sốc tiền tệ quốc tế, quyết định tối ưu của chính sách tiền
tệ trong nước và giải pháp cho sự mất cân đối của thương mại toàn cầu. Biến động
tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các chỉ số giá trong nước thông qua kênh trực tiếp
hoặc gián tiếp. Kênh truyền dẫn trực tiếp (theo Hyder và Shah (2004), diễn ra khi
biến động tỷ giá ảnh hưởng đến giá trong nước thông qua thay đổi của giá hàng hoá
nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng hoặc hàng hoá nhập khẩu sử dụng làm đầu vào cho
sản xuất trong nước. Khi đó, một sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm giá nhập khẩu tăng,
ngược lại một sự nâng giá nội tệ sẽ làm giá nhập khẩu giảm. Trong trường hợp phá
giá, chi phí nhập khẩu nguyên liệu cao hơn sẽ làm tăng chi phí biên và dẫn tới chi
phí sản xuất hàng nội địa tăng. Mặt khác, các công ty nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng
cuối cùng có thể tăng giá bán để phản ứng lại việc tăng chi phí hàng nhập khẩu.
Như vậy, kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái đầu tiên là các thay đổi của tỷ giá hối
đoái làm tăng giá nhập khẩu ảnh hưởng đến mức giá sản xuất, và cuối cùng ảnh
hưởng đến mức giá tiêu dùng.
Kênh thứ hai là những thay đổi trong tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá nhập
khẩu hàng hoá cuối cùng và do đó tác động vào giá tiêu dùng trong nước. Trong
kênh truyền dẫn gián tiếp này, khi phá giá đồng tiền, hàng hóa nhập khẩu trở nên
đắt hơn nên người dân trong nước có xu hướng chuyển sang tiêu dùng sản phẩm sản
xuất trong nước. Đối với thị trường nước ngoài, cầu về hàng hóa của nước có đồng
tiền phá giá có xu hướng tăng lên.Cả hai yếu tố này đều tạo áp lực tăng giá hàng nội
địa.
2.3.2 Môi trường truyền dẫn.
Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau đã cho thấy truyền dẫn tỷ
giá hối đoái vào các chỉ số giá phụ thuộc bởi các yếu tố vĩ mô và một số yếu tố của
môi trường truyền dẫn cụ thể như sau:
2.3.2.1 Môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào chính sách áp dụng lạm phát.
Nó cho thấy rằng khi NHTW áp dụng lạm phát mục tiêu, nó sẽ ít phản ứng với

12

các biến động của tỷ giá, từ đó cho phép tăng biến động tỷ giá. Kết quả này đặc biệt
liên quan đến lý thuyết mệnh giá tiền tệ (denomination currency) của thương mại
quốc tế, nó dự báo rằng sự gia tăng trong tỷ giá làm giảm số công ty định giá bằng
ngoại tệ. Cuối cùng, bằng cách sử dụng một định nghĩa chính thức cho tác động
truyền tải, bài nghiên cứu chỉ ra rằng điều sau là phụ thuộc trực tiếp vào số công ty
này. Do đó, có thể kết luận rằng việc áp dụng lạm phát mục tiêu làm giảm tác động
truyền tải.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái là thấp đối
với các quốc gia có môi trường lạm phát thấp. Ngược lại ở các quốc gia có môi
trường lạm phát cao thì mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái sẽ lớn hơn; tiêu biểu là
nghiên cứu của Taylor (2000) đối với các nước phát triển, Michele Ca’ Zorzi (2007)
đối với các nước đang phát triển và Anderson (2005) đối với các nền kinh tế nhỏ và
có độ mở cao. Lí do để giải thích cho kết luận trên có thể được lập luận rằng tại các
nước có môi trường lạm phát cao, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được các NHTW công
bố chỉ mang tính chất tạm thời và dễ biến động, tỷ giá hối đoái được điều chỉnh
nhiều lần khiến các công ty có nhiều lí do để tăng giá bán sản phẩm; hơn thế trong
một môi trường lạm phát cao giá cả mọi mặt hàng đều tăng cao nên người tiêu dùng
cũng dễ chấp nhận việc tăng giá hơn là trong một môi trường lạm phát thấp.
2.3.2.2 Môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm và cam kết của
chính phủ.
Trong nghiên cứu thực nghiệm quan sát ở một số nước, Gagnon và Irhig (2004)
là những người đầu tiên cho thấy rằng: tác động truyền tải suy giảm có thể là do sự
cam kết và tín nhiệm của các NHTW tốt hơn trong việc duy trì mức lạm phát thấp và
ổ định. Mặc dù, họ không cho thấy mối quan hệ rõ ràng nào giữa các cam kết và độ
tín nhiệm của NHTW này với lạm phát mục tiêu, những đặc điểm này rõ ràng là nền
tảng để thực hiện cơ chế LPMT. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã ước
tính hiệu ứng truyền dẫn cho 20 nước (7 trong số đó đã thông qua LPMT) với hai
mẫu nhỏ: một với lạm phát cao và một với lạm phát thấp. Điều đáng nói đến là ngày
giới hạn ngăn cách cả hai mẫu con không trùng với ngày áp dụng lạm phát mục tiêu

13

(trong trường hợp của các nước đó áp dụng cùng cơ chế). Các nghiên cứu của
Gagnon và Irhig (2004), được rút ra từ một mô hình phương trình tuyến tính đơn,
cho thấy tác động truyền tải giảm ở hầu hết các quốc gia. Hơn nữa, mặc dù lạm phát
mục tiêu trung bình của các quốc gia lớn hơn so với tác động truyền tải trong mẫu
các quốc gia lạm phát cao nhưng kết quả ngược lại trong kịch bản lạm phát thấp.
Cuối cùng, bằng các phương tiện các biến công cụ, nhóm tác giả ước tính theo qui
tắc Taylor cho tất cả các nước xem xét và ghi nhận tác động truyền tải giảm được
liên kết với một phản ứng mạnh mẽ hơn của các NHTW đối với áp lực lạm phát.
2.3.2.3 Môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ.
Không giống như Gagnon và Irhig (2004), nhưng tương tự như các bài nghiên
cứu sử dụng khuôn khổ VAR của Miller (2003), Mishkin và Schmidt-Hebbel (2007),
Winkelried (2003), phương pháp được đề xuất có lợi thế là có thể dự đoán và đánh
giá xu hướng của tác động truyền tải sau cú sốc tỷ giá. Cũng như Winkelried (2003),
bài nghiên cứu này đã chọn mô hình STAR phi tuyến qua đặc điểm tuyến tính với
một đặc trưng kỹ thuật, trên cơ sở tác động truyền tải được công nhận là một hiện
tượng phụ thuộc vào chính phủ. Tuy nhiên, bài viết này mở rộng theo nghiên cứu
của Winkelried (2003) bằng cách mô hình hóa tính phụ thuộc của tác động truyền tải
khi có biến bổ sung, trong trường hợp này là biến chính sách tiền tệ. Và nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy tốc độ truyền tải bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ của
NHTW tại quốc gia nguyên cứu và từng thời kỳ áp dụng lạm phát mục tiêu.
2.4 Truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát mục tiêu.
Theo Sherwin (2000), về kinh nghiệm với lạm phát mục tiêu đã được 10 năm
và trải qua với các quốc gia và các tình huống khác nhau. Nó đã chứng tỏ rằng lạm
phát mục tiêu là một khuôn khổ hiệu quả của chính sách tiền tệ và khuôn khổ này
đặc biệt thích hợp với những nền kinh tế nhỏ, mở cửa có tỷ giá hối đoái linh hoạt.
Những đặc tính cốt lõi của lạm phát mục tiêu liên quan đến việc công bố ra công
chúng về mục tiêu của lạm phát, thừa nhận lạm phát thấp và ổn định là mục tiêu dài
hạn quan trọng của chính sách tiền tệ, tính minh bạch về mục tiêu của chính sách và
tính hợp lý cho những quyết định chính sách tiền tệ và trách nhiệm giải trình cho

14

việc đạt được mục tiêu của chính sách. Động cơ áp dụng lạm phát mục tiêu của các
quốc gia được tổng kết qua Bảng 2.1.
Bảng 2.1: Động cơ áp dụng lạm phát mục tiêu.
Nhằm ứng
Các nƣớc IT

phó với hoạt

Sự bất ổn của

Gia nhập

động kinh tế

tỷ giá hối đoái

EMU

nghèo nàn
Brazil
Chile

Neo các kỳ
vọng lạm
phát

x

x

x

Cộng hòa Séc

x
x

x

Israel

x

Ba Lan

x

Nam Phi

x

Australia

x
x

x

x

Canada

x

Phần Lan
New Zealand

x

x

x

x

Tây Ban Nha

x

Thụy Điển

x

x

Vương Quốc
Anh

x

(Nguồn: Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam, 2012).
2.5 Tổng quan các khung lý thuyết trƣớc đây.
2.5.1 Truyễn dẫn tỷ giá hối đoái với mô hình tuyến tính.
2.5.1.1 Các nghiên cứu sử dụng mô hình VAR.
*Một số nghiên cứu trên thế giới sử dụng mô hình VAR.
Autoregressions vector (VAR), như giới thiệu của Sims (1980), được coi là
tiêu chuẩn trong mô hình kinh tế trong việc đo lường và phân tích các chính sách
tiền tệ. Nó đã được lập luận rằng lớp các mô hình cung cấp một kết hợp nhất định