Tải bản đầy đủ
2 Các lý thuyết cơ bản tiếp cận giải thích sự hình thành và biến động tỷ giá.

2 Các lý thuyết cơ bản tiếp cận giải thích sự hình thành và biến động tỷ giá.

Tải bản đầy đủ

8

trong thị trường hàng hoá và tiền tệ. Trong ngắn hạn giá cả hàng hoá có thể có
những đột biến, mức lương được xác định bởi hợp đồng lao động và có hiệu lực
trong một khoảng thời gian xác định. Do vậy lương được xem là ít co giãn trong
ngắn hạn. Ngoài ra, dòng chu chuyển vốn còn chịu sự tác động bởi sự phân kỳ trong
chính sách tài khoá và tiền tệ. Vì vậy, trong một vài trường hợp PPP có độ lệch lớn.
2.2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất (The Interest Rate Parity – IRP).
Lý thuyết ngang giá lãi suất được xây dựng dựa trên phương pháp tài sản
(Stock Approach hoặc Asset model approach), đây là một phương pháp tập trung
vào tiền tệ - một loại tài sản bền vững, có thể hoán chuyển nhưng không bị hư hỏng
như các tài sản khác. Chẳng hạn, nếu cầu ngoại tệ không đổi, cung ngoại tệ tăng lên
do thu nhập của các nhà đầu tư hoặc lợi nhuận kỳ vọng tăng lên sẽ làm cho ngoại tệ
tăng giá tương đối so với nội tệ. IRP giả định sự chu chuyển vốn là tự do (bỏ qua
chi phí giao dịch, thuế) và sự chu chuyển vốn là hoàn hảo, rủi ro quốc gia là như
nhau. Ngay khi các áp lực thị trường làm cho lãi suất và tỷ giá thay đổi thì hoạt
động kinh doanh chêch lệch lãi suất phòng ngừa không còn khả thi, thì thị trường sẽ
ở trạng thái cân bằng gọi là ngang giá lãi suất (IRP). Trong thế cân bằng này, sự
khác nhau giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay giữa hai đồng tiền được bù đắp
đúng bằng chênh lệch lãi suất giữa hai nước đó.
2.2.3 Nguyên tắc Taylor.
Năm 1993, nhà nghiên cứu John B. Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ) đã
tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn 19801990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một
nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ
quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc
điều hành lãi suất của NHTW gọi là “nguyên tắc Taylor” (the Taylor Rule - TR).
Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh
lệch sản lượng (output gap - chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong
một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức

9

lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế. TR được biểu hiện bằng hàm phản ứng chính
sách (reaction function) sau:
it =  t + rt* + a (  t -  t* ) + a y ( yt - yt* )

Trong đó:
it là lãi suất điều hành của NHTW theo TR;

 t là tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số GDP deflator (Chỉ số giảm phát GDP, phản ánh

mức độ thay đổi của giá cả dựa trên việc so sánh giữa GDP tính theo giá cả hiện
hành và GDP tính theo giá cả của năm được so sánh);
 t* là tỷ lệ lạm phát mục tiêu;
rt* lãi suất thực cân bằng giả định;

a và a y là các tham số phản ứng chính sách (reaction parameters) hay trọng số đối

với tăng trưởng và lạm phát;
yt tăng trưởng GDP;
yt* tăng trưởng GDP tiềm năng.

Theo Nguyễn Đức Phong, Lê Quang Long trong Tạp chí Ngân hàng số 23
(2012), nguyên tắc Taylor trong điều hành kinh tế tiền tệ, đề cập tới từ nghiên cứu
lý thuyết và thực tiễn có thể thấy TR là một nguyên tắc tương đối đơn giản để đánh
giá CSTT thông qua các phản ứng chính sách có hệ thống đối với các thông tin về
thực trạng kinh tế trong tương lai. Nó nhấn mạnh CSTT cần được xem xét, điều
chỉnh thường xuyên liên tục. Tại các nước, TR được áp dụng ở mức độ khác nhau
với vai trò bổ trợ cho các mô hình đánh giá CSTT tổng quan, nhất là tại các nước
mới nổi với đặc trưng CSTT đặt mục tiêu tỷ giá. Về mặt học thuật, TR đã và đang
được sử dụng tương đối hiệu quả trong việc kiểm nghiệm việc điều hành CSTT tại
nhiều quốc gia phát triển, theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu. Từ thực tiễn điều hành
tại các NHTW cũng như quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể thấy TR là một
công cụ tốt để phân tích CSTT, có khả năng đóng góp tích cực vào việc nâng cao
tính minh bạch, khả năng giải trình của NHTW.

10

2.2.4 Lý thuyết mệnh giá tiền tệ (denomination currency)
Trong khi tỷ giá hối đoái đơn giản là giá của một đồng tiền (currency) so với
đồng tiền khác. Nếu chi phí 100 yên mua được 1 đôla, thì tỷ lệ trao đổi yên-đôla là
100. Ngược lại, tỷ lệ trao đổi đôla-yên là 0,01. Nếu tỷ lệ trao đổi yên-đôla sau đó
giảm xuống còn 90, điều này có nghĩa là đôla đã giảm giá (và yên lên giá), vì bây
giờ cần phải có nhiều đôla hơn để mua một yên (và ít yên hơn để mua mộ
Khi tỷ giá hối đoái của một quốc gia giảm giá, người nước ngoài sẽ thấy rẻ hơn khi
mua đồng tiền của nước đó, và có thể dẫn đến việc họ cũng có thể mua được nhiều
hơn hàng hoá của nước này.Vì lý do này mà một tỷ giá giảm giá (ở đây có thể hiểu
là đồng tiền nước này giảm giá) thường được xem như mang lại thuận lợi cho xuất
khẩu của một quốc gia. Tuy nhiên, không có gì là miễn phí. Tỷ giá giảm giá (đồng
tiền nước này mất giá) cũng có nghĩa là các đồng tiền nước ngoài (và do vậy mà
hàng hoá nước ngoài) trở nên đắt đỏ hơn đối với công dân nước này, tiếp theo làm
giảm sức mua tổng quát của họ.
2.3 Kênh truyền dẫn và môi trƣờng truyền dẫn tỷ giá hối đoái.
2.3.1 Các kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái.
Theo Bạch Thị Phương Thảo (2011) tỷ giá hối đoái là một kênh truyền dẫn
các sự kiện, áp lực từ nước ngoài vào giá cả trong nước. Sự truyền tải áp lực nước
ngoài vào lạm phát thông qua kênh tỷ giá hối đoái được chia thành hai kênh: kênh
thứ nhất là thay đổi tỷ giá hối đoái truyền dẫn vào giá nhập khẩu và kênh thứ hai là
thay đổi tỷ giá hối đoái truyền dẫn vào lạm phát.
Theo Darvas (2001) cho rằng tỷ giá hối đoái có tầm quan trọng đặc biệt với
nhiều nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế đang hội nhập như Việt Nam. Tỷ giá ảnh
hưởng đến giá cả tương đối giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài, vì vậy nó tác
động đến nhu cầu của các loại hàng hóa. Kết quả là, cả sản xuất tổng hợp và mức
giá của một nền kinh tế mở phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái. Mức độ giá cả thay đổi để
phản ứng lại với những biến động tỷ giá bao gồm tác động của những thay đổi tỷ
giá hối đoái đến một trong những (1) giá nhập khẩu và giá xuất khẩu, (2) giá tiêu
dùng, (3) đầu tư, và (4) khối lượng giao dịch thương mại (trade volumes).

11

Từ những năm 1970, các nhà kinh tế học đã nghiên cứu tác động của những
biến động tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước vì nó có ý nghĩa quan trọng trong
việc truyền dẫn những cú sốc tiền tệ quốc tế, quyết định tối ưu của chính sách tiền
tệ trong nước và giải pháp cho sự mất cân đối của thương mại toàn cầu. Biến động
tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các chỉ số giá trong nước thông qua kênh trực tiếp
hoặc gián tiếp. Kênh truyền dẫn trực tiếp (theo Hyder và Shah (2004), diễn ra khi
biến động tỷ giá ảnh hưởng đến giá trong nước thông qua thay đổi của giá hàng hoá
nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng hoặc hàng hoá nhập khẩu sử dụng làm đầu vào cho
sản xuất trong nước. Khi đó, một sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm giá nhập khẩu tăng,
ngược lại một sự nâng giá nội tệ sẽ làm giá nhập khẩu giảm. Trong trường hợp phá
giá, chi phí nhập khẩu nguyên liệu cao hơn sẽ làm tăng chi phí biên và dẫn tới chi
phí sản xuất hàng nội địa tăng. Mặt khác, các công ty nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng
cuối cùng có thể tăng giá bán để phản ứng lại việc tăng chi phí hàng nhập khẩu.
Như vậy, kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái đầu tiên là các thay đổi của tỷ giá hối
đoái làm tăng giá nhập khẩu ảnh hưởng đến mức giá sản xuất, và cuối cùng ảnh
hưởng đến mức giá tiêu dùng.
Kênh thứ hai là những thay đổi trong tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá nhập
khẩu hàng hoá cuối cùng và do đó tác động vào giá tiêu dùng trong nước. Trong
kênh truyền dẫn gián tiếp này, khi phá giá đồng tiền, hàng hóa nhập khẩu trở nên
đắt hơn nên người dân trong nước có xu hướng chuyển sang tiêu dùng sản phẩm sản
xuất trong nước. Đối với thị trường nước ngoài, cầu về hàng hóa của nước có đồng
tiền phá giá có xu hướng tăng lên.Cả hai yếu tố này đều tạo áp lực tăng giá hàng nội
địa.
2.3.2 Môi trường truyền dẫn.
Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau đã cho thấy truyền dẫn tỷ
giá hối đoái vào các chỉ số giá phụ thuộc bởi các yếu tố vĩ mô và một số yếu tố của
môi trường truyền dẫn cụ thể như sau:
2.3.2.1 Môi trường truyền dẫn phụ thuộc vào chính sách áp dụng lạm phát.
Nó cho thấy rằng khi NHTW áp dụng lạm phát mục tiêu, nó sẽ ít phản ứng với