Tải bản đầy đủ
1 Động cơ thực hiện nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

1 Động cơ thực hiện nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ

4

Việt Nam giai đoạn từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2012 hay không?” Để
trả lời cho câu hỏi trên, luận văn hướng đến đối tượng nghiên cứu và phạm vi
nghiên cứu như sau:
1.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu.
Để đạt mục tiêu nghiên cứu như nêu trên, luận văn hướng đến các đối tượng
nghiên cứu như sau: Chỉ số giá nhập khẩu (IMP); chỉ số giá sản xuất (PPI); chỉ số
giá tiêu dùng (CPI); lỗ hổng sản lượng (OPG); giá xăng dầu thế giới (OIL); điều
hành lãi suất trong nước (R); tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đa phương (NEER);
chính sách điều hành tỷ giá hối đoái; sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá.
1.1.2.3 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu hướng đến các đối tượng như sau:
Các số liệu về chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng
của Việt Nam giai đoạn từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2012;
Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái, tỷ trọng nhập khẩu, cách tính chỉ số giá
tiêu dùng, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất giai đoạn từ tháng 1 năm 2001
đến tháng 12 năm 2012;
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực (NEER) của VND với một số đối tác
thương mại chính của Việt Nam. Rổ tiền tệ để tính NEER gồm 17 đồng tiền của 17
quốc gia - khu vực có khối lượng mậu dịch cao đối với Việt Nam trong kỳ nghiên
cứu, chiếm đến 96,28%, theo thứ tự đó là Trung Quốc, khu vực Euro, Nhật Bản, Mỹ,
Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Australia, Malaysia, HongKong,
Indonesia, Thụy Sỹ, Anh, Ấn Độ, Philippin và Nga... Mười bảy đối tác thương mại
trên chiếm trung bình khoảng 96,28% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu với Việt Nam.
Tác giả chọn khung thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12
năm 2012, dữ liệu nghiên cứu được lấy theo tháng. Tác giả chọn khung thời gian
trên vì đây là khoảng thời gian mà Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế, từ đó mức
độ truyền dẫn sẽ được đo lường và phản ánh đầy đủ thực tế.
*Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định

5

lượng dựa vào các mô hình kinh tế lượng. Trong bài viết sử dụng mô hình VSTAR
để đo lường và phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá tại Việt
Nam.
*Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Thứ nhất, “truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá” là một vấn đề không quá mới
mẻ trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên, bài nghiên cứu hi vọng sẽ giới
thiệu được một phần khía cạnh lý thuyết của vấn đề truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến
người đọc theo một hướng nghiên cứu mới.
Thứ hai, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo
lường sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến chuỗi ba chỉ số giá - chỉ số
giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam bằng mô
hình VSTAR – mô hình phi tuyến.
1.2. Bố cục luận văn.
Ngoài phần giới thiệu, lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
luận văn chia làm 4 chương. Chương 1: Tóm tắt, trong chương này tác giả tóm tắt
nội dung của nghiên cứu, nêu rõ phương pháp nghiên cứu để đưa ra được động cơ
thực hiện nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu là gì. Trong Chương 2: Khung lý
thuyết về truyền dẫn tỷ giá hối đoái và các bằng chứng thực nghiệm, tác giả đưa ra
định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái, các khung lý thuyết cơ bản tiếp cận đến vấn
đề truyền dẫn. Cũng trong chương 2, tác giả sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu về
vấn đề truyền dẫn của các tác giả trong và ngoài nước. Chương 3: Tổng quan cơ sở
lý thuyết về mô hình đề xuất sử dụng trong nghiên cứu, tác giả trình bày khung lý
thuyết về mô hình VAR và mô hình VSTAR được sử dụng để đo lường mức độ
truyền dẫn. Phần cuối của nghiên cứu là Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực
nghiệm tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tại Việt Nam, trong phần cuối
này, các kết quả thực nghiệm để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu trong chương 1 sẽ
được tìm thấy.

6

CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
Tỷ giá hối đoái là một trong những biến số quan trọng của nền kinh tế. Tỷ giá
hối đoái có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua nhiều kênh truyền dẫn khác
nhau như thương mại, giá cả và ngân sách. Một trong những ảnh hưởng quan trọng
nhất của nó là tác động đến lạm phát. Do đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá
hối đoái và lạm phát luôn là trọng tâm của các bài nghiên cứu về truyền dẫn.
Tầm quan trọng của truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá đã được đề cập khá
nhiều ở nhiều bài nghiên cứu trước ở một số quốc gia. Theo đó, các bài nghiên cứu
tập trung trả lời cho câu hỏi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng như thế nào đến giá cả, yếu
tố nào là nhân tố chính gây nên lạm phát trong thời kỳ này, đồng thời đo lường mức
độ truyền dẫn cú sốc tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước thông qua hệ số truyền
dẫn.
Nhìn chung, truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá có hai vai trò chính là giúp dự
báo khả năng lạm phát và ngụ ý trong điều hành chính sách tiền tệ, điều mà bất kỳ
NHTW nào cũng cần trong việc điều hành chính sách tiền tệ của mình. Hiểu biết và
đánh giá tốt truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá giúp NHTW có thể biết được ảnh
hưởng, mức độ, thời gian của cú sốc tỷ giá đến lạm phát. Do đó, NHTW, đặc biệt là
trong giai đoạn kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu, có thể đáp ứng kịp thời
các cú sốc với chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu. Theo Campa&
Goldberg (2002) một mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá thấp ngụ ý chi phí
chuyển đổi trong chính sách tiền tệ trong nước là thấp và chính sách tiền tệ thì hiệu
quả khi đối phó với những cú sốc thực. Trong trường hợp này, NHTW ít quan tâm
đến vấn đề tỷ giá hơn để tập trung cho các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế
hay gia tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu. Mặt khác chính sách tiền tệ sẽ bị ảnh
hưởng khi mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cao khi quốc gia đó theo đuổi
mục tiêu ổn định chính sách tiền tệ. Sau đây, bài nghiên cứu sẽ trình bày một số
khái niệm cũng như những lý thuyết nền tảng về “truyền dẫn tỷ giá hối đoái”.

7

2.1 Khái niệm "truyền dẫn tỷ giá hối đoái".
Việt Nam nằm trong nhóm nước đang phát triển nên nghiên cứu này sẽ định
nghĩa khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo cách tương tự như các nghiên cứu
thực hiện tại các nước đang phát triển tức “truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm
thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một
phần trăm”. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản
xuất và chỉ số giá tiêu dùng.
Nếu tỉ giá hối đoái thay đổi 1% khiến cho giá cả thay đổi 1% thì sự truyền dẫn
được gọi là “hoàn toàn” (complete pass-through), và nếu nhỏ hơn 1% thì sẽ được
gọi là sự truyền dẫn “không hoàn toàn” (incomplete pass-through).
Theo Hakan Kara (2005) sở dĩ có sự khác nhau như trên là vì các nước đang
phát triển thường được xem là các nền kinh tế mở và qui mô nhỏ nên quyền áp đặt
giá trên thị trường là rất hạn chế. Điều đó có nghĩa biến động tỷ giá hối đoái được
cho là sẽ tác động mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến các chỉ số giá trong
nước trở nên rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
2.2 Các lý thuyết cơ bản tiếp cận giải thích sự hình thành và biến động tỷ giá.
2.2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (The Purchasing Power Parity Theory – PPP).
Trước đây, các mô hình xác định tỷ giá đều dựa vào sự luân chuyển tiền để
xác định tỷ giá (Phương pháp dòng tiền – Flow Approach). Ngoại tệ được đề cập
đến dưới vai trò trung gian trao đổi chứ không phải là một phương tiện cất giữ, vào
thời điểm này, cung và cầu ngoại tệ xác định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá là kết quả của
sự di chuyển dòng cung và dòng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Một sự gia tăng dòng
cầu hàng hoá nước ngoài sẽ làm đồng nội tệ giảm giá và ngược lại. Đây là cơ chế
hình thành “Lý thuyết ngang giá sức mua”.
Xét về tổng thể, lý thuyết này cho thấy khi có sự gia tăng năng lực sản xuất
trong nước sẽ làm tăng giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ. Một sự thay đổi trong
công nghệ, thị hiếu, chính sách thương mại hoặc lực lượng lao động sẽ làm thay đổi
năng lực sản xuất của một quốc gia và điều này làm thay đổi tỷ giá. Bên cạnh đó
cũng có những yếu tố nhất thời tác động đến PPP chẳng hạn như những biến động

8

trong thị trường hàng hoá và tiền tệ. Trong ngắn hạn giá cả hàng hoá có thể có
những đột biến, mức lương được xác định bởi hợp đồng lao động và có hiệu lực
trong một khoảng thời gian xác định. Do vậy lương được xem là ít co giãn trong
ngắn hạn. Ngoài ra, dòng chu chuyển vốn còn chịu sự tác động bởi sự phân kỳ trong
chính sách tài khoá và tiền tệ. Vì vậy, trong một vài trường hợp PPP có độ lệch lớn.
2.2.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất (The Interest Rate Parity – IRP).
Lý thuyết ngang giá lãi suất được xây dựng dựa trên phương pháp tài sản
(Stock Approach hoặc Asset model approach), đây là một phương pháp tập trung
vào tiền tệ - một loại tài sản bền vững, có thể hoán chuyển nhưng không bị hư hỏng
như các tài sản khác. Chẳng hạn, nếu cầu ngoại tệ không đổi, cung ngoại tệ tăng lên
do thu nhập của các nhà đầu tư hoặc lợi nhuận kỳ vọng tăng lên sẽ làm cho ngoại tệ
tăng giá tương đối so với nội tệ. IRP giả định sự chu chuyển vốn là tự do (bỏ qua
chi phí giao dịch, thuế) và sự chu chuyển vốn là hoàn hảo, rủi ro quốc gia là như
nhau. Ngay khi các áp lực thị trường làm cho lãi suất và tỷ giá thay đổi thì hoạt
động kinh doanh chêch lệch lãi suất phòng ngừa không còn khả thi, thì thị trường sẽ
ở trạng thái cân bằng gọi là ngang giá lãi suất (IRP). Trong thế cân bằng này, sự
khác nhau giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay giữa hai đồng tiền được bù đắp
đúng bằng chênh lệch lãi suất giữa hai nước đó.
2.2.3 Nguyên tắc Taylor.
Năm 1993, nhà nghiên cứu John B. Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ) đã
tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn 19801990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một
nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ
quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc
điều hành lãi suất của NHTW gọi là “nguyên tắc Taylor” (the Taylor Rule - TR).
Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh
lệch sản lượng (output gap - chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong
một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức