Tải bản đầy đủ
5 Nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn lãi suất

5 Nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn lãi suất

Tải bản đầy đủ

14
ngắn hạn tại mức lãi suất thấp hơn OCR vì nó có thể vay RB tại mức OCR, mà
không có bất kỳ một rủi ro tín dụng nào.
Bằng cách vay mượn tiền qua đêm với khối lượng không giới hạn, RB có thể
duy trì một mức lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng tại mức lãi suất tiền mặt qua
đêm ORC của mình. Thông qua việc thiết lập OCR, thì RB có thể tác động một
cách đáng kể lên các dạng lãi suất ngắn hạn khác. Ví dụ: hối phiếu 90 ngày,
các khoản vay thả nổi… OCR còn có thể ảnh hưởng đến các loại lãi suất bán lẻ
khác được “phân phối” bởi các NHTM và các định chế tài chính khác. Kết quả
là, thay đổi OCR sẽ ảnh hưởng toàn diện đến hoạt động kinh tế và lạm phát của
một quốc gia. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi mức độ điều chỉnh phù hợp đối
với từng sản phẩm khác nhau.
Đo lường mức độ truyển dẫn lên lãi suất bán lẻ tại New Zealand, các tác giả đã
đã sử dụng mô hình Phillips Loretan và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để đo
lường mức độ truyền dẫn của lại suất chính sách sang lãi suất bản lẻ. Kết quả
cho thấy rằng hiệu ứng truyền dẫn toàn phần dài hạn chỉ ảnh hưởng đến một số
chứ không phải là tất cả lãi suất bán lẻ. Độ truyền dẫn trong dài hạn của lãi suất
thị trường đến những lãi suất bán lẻ khác nhau tùy theo các sản phẩm tài chính
khác nhau. Một số lãi suất thì có độ truyền dẫn hoàn toàn, một số thì không.
Hiệu ứng truyền dẫn ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau cho từng
loại sản phẩm.
Việc đưa vào áp dụng lãi suất tiền gửi qua đêm (OCR) làm tăng hiệu ứng
truyền dẫn dài hạn của lãi suất tiền gửi cố định và lãi suất tiền gửi thả nổi
nhưng không ảnh hưởng đến các lãi suất khác. Để đo lường tác động của sự
thay đổi chính sách này, tác giả đưa vào hô mình biến giả D để xem xét sự thay
đổi của tốc độ truyền dẫn so với khi chưa thay đổi chính sách. Kết quả nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng việc công bố OCR làm tăng hiệu ứng truyền dẫn đến lãi
suất thị trường và lãi suất tiền gửi nhưng lãi suất thế chấp cố định thì không.
Nói chung, những kết quả nghiên cứu của các ông xác nhận rằng lãi suất cơ

15
bản của chính sách tiền tệ có nhiều ảnh hưởng hơn đối với lãi suất ngắn hạn và
rằng sự minh bạch tăng đã làm giảm tính dễ biến động của công cụ và làm tăng
hiệu quả của chính sách.
2.5.2 Các nghiên cứu khác trên thế giới:
Harald Sander và Stefanie Kleimeier (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của
những biến động đã được dự đoán và những biến động ngoài dự đoán trong
chính sách tiền tệ lên sự thay đổi lãi suất trong tương lai của các ngân hàng bán
lẻ đồng thời xem xét tác động của một chính sách tiền tệ minh bạch lên sự
truyền dẫn lãi suất ở khu vực Châu Âu. Các ông đã sử dụng lãi suất EURIBOR
để đo lường ảnh hưởng những cú sốc biến động đã được dự đoán và nằm
ngoài dự đoán của chính sách tiền tệ lên lãi suất mong đợi. Đây là một điểm
mới trong lý thuyết về sự truyền dẫn. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là
mô hình “truyền dẫn chuẩn”, một dạng mô hình VAR đơn giản để kiểm định
mức độ truyền dẫn của lãi suất điều hành lên lãi suất bán lẻ của ngân hàng.
Ngoài ra để kiểm định sự tương quan giữa các biến, tác giả sử dụng mô hình
kiểm định DF, ADF, của Engle and Granger (1987); để kiểm định tính tự hồi
quy, tác giả sử dụng mô hình kiểm định TAR. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự
điều chỉnh mức lãi suất trong chính sách tiền tệ có một ảnh hưởng quan trong
lên sự truyền dẫn lãi suất. Lãi suất của các ngân hàng phản ứng nhanh hơn
trước sự thay đổi lãi suất điều hành khi những thay đổi này đã được dự báo
trước. Lãi suất ngân hàng có “tính cứng” và có sự khác nhau cần xem xét trong
sự dẫn truyền giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gởi ở các ngân hàng khác
nhau, cụ thể là lãi suất cho vay sẽ dẫn truyền nhanh hơn. Dẫn truyền là hoàn
chỉnh nhất trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp và có sự khác nhau trong cơ
chế dẫn truyền của các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu. Do đó
ngân hàng trung ương có vai trò quan trong trong việc truyền thông chính sách
tiền tệ giúp cho chính sách trở nên hiệu quả hơn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu
còn thấy được tính minh bạch trong chính sách điều hành của ngân hàng trung

16
ương hữu ích cho tốc độ truyền dẫn, tuy nhiên không thể thay thế được thị
trường cạnh tranh.
Harald Sander và Stefanie Kleimeierb (2006) nghiên cứu cơ chế truyền dẫn
của chính sách tiền tệ tại bốn nước thuộc khu vực chính sách tiền tệ chung của
khối SACU để so sánh sự khác nhau khi sử dụng một chính sách tiền tệ đồng
nhất. Các tác giả sử dụng phương pháp định lượng để chạy mô hình tự hồi
quy ngưỡng và mô hình điều chỉnh đối xứng dựa trên số liệu của 02 loại lãi
suất ngân hàng (lãi suất cho vay cơ bản và lãi suất tiền gửi) và 02 loại lãi suất
chứng chỉ của chính sách tiền tệ (lãi suất trái phiếu kho bạc và lãi suất chiết
khấu) tại bốn nước CMA (South Africa, Lesotho, Namibia và Swaziland) trong
khoảng thời gian từ tháng 01/1991 đến tháng 5/2005. Kết quả cho thấy đối với
những quốc gia trong CMA theo một chính sách tiền tệ duy nhất thì thị trường
ngân hàng cho thấy một mức độ hội nhập với vai trò quan trọng của lãi suất trái
phiếu kho bạc của Nam Phi định hướng chính sách tiền tệ, lãi suất thị trường và
lãi suất ngân hàng. Hiệu ứng truyền dẫn của lãi suất cho vay của 4 nước thì tốt
nhưng không đồng nhất. Hiệu ứng truyền dẫn hoàn toàn trong dài hạn điều
chỉnh tương đối nhanh.
Sarno, L., Thornton, D.L., (2003) đã tìm thấy có sự ổn định đáng kể trong
mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất quỹ liên bang (lãi suất chính sách) và lãi suất
tín phiếu kho bạc (lãi suất thị trường tiền tệ) trong suốt giai đoạn nghiên cứu
mặc dù trải qua các thay đổi trong quy trình hoạt động chính sách tiền tệ. Các
tác giả cũng lý luận sự hợp lý của mô hình cân bằng hiệu chỉnh VECM phi
tuyến và bất cân xứng và sử dụng nó để định lượng cho mối quan hệ dài hạn ổn
định giữa lãi suất quỹ liên bang và lãi suất tín phiếu kho bạc 3 tháng đồng thời
tìm hiểu tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng thông qua lãi suất quỹ liên
bang, sự điều chỉnh về trạng thái cân bằng của lãi suất ở dưới mức cân bằng là
nhanh hơn so với lãi suất ở trên mức cân bằng.

17
Chong và các cộng sự (2005) kiểm tra lãi suất huy động ở các kỳ hạn khác
nhau và lãi suất cho vay ở cả NHTM và công ty tài chính ở Singapore và thấy
rằng định chế tài chính điều chỉnh lãi suất của họ tăng lên chậm hơn so với
điều chỉnh giảm. Họ cũng thấy rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau qua các sản
phẩm tài chính và khác nhau giữa các ngân hàng và công ty tài chính. Họ
không tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn của lãi suất.
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu của các tác giả khác như:
Mark A.Weth (2002) đã nghiên cứu về sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường
sang lãi suất cho vay ở Đức. Ông cho rằng tổ chức tín dụng lớn hơn điều chỉnh
lãi suất cho vay thị trường nhanh trường vốn và linh hoạt thay đổi để bù đắp sự
thay đổi trong lãi suất chính sách.
Hasan Muhammad Mohsin (2011) đã tiến hành nghiên cứu và rút ra kết luận
tại Pakistan thì đối với lãi suất cho vay, sự dẫn truyền cao nhất là cho NHNN,
sau đó là ngân hàng tư nhân, ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng đặc biệt
khác. Vì vậy, chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay nhiều hơn lãi
suất huy động ở Pakistan.
Claudia Kwail and Johann Scharler (1.2007) đã phân tích về tính chắc chắn
của mô hình giá có tính cứng đơn giản, thể hiện được rằng lãi suất bán lẻ điều
chỉnh chậm chạp so với những thay đổi của lãi suất chính sách tiền tệ và sự dẫn
truyền này có khả năng sẽ không hoàn toàn. Một kết quả chủ yếu của tác giả
nữa là nếu sự dẫn truyền đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn trong dài hạn,
thì nguyên tắc Taylor tiêu chuẩn sẽ không còn đảm bảo cho một mức cân bằng
được xác định.
M. van Leuvensteijn a, C. Kok Sorensen b, J.A. Bikkerc, A.A.R.J.M. van
Rixteld (2008) đã phân tích các tác động của cạnh tranh thị trường cho vay đối
với lãi suất cho vay và tiền gửi áp dụng ở các ngân hàng khu vực châu Âu
trong thời gian 1994-2004, bằng cách sử dụng một biện pháp mới cạnh tranh
được gọi là chỉ số Boone. Sử dụng phương pháp tiếp cận một mô hình hiệu

18
chỉnh sai số (ECM) để đo lường hiệu quả của cạnh tranh trên sự dẫn truyền của
lãi suất thị trường sang lãi suất ngân hàng, tác giả tìm thấy rằng các ngân hàng
có xu hướng định giá các khoản vay của họ theo quy định của thị trường trong
nước khi áp lực cạnh tranh mạnh hơn.

19
CHƢƠNG 3:

MÔ HÌNH ĐO LƢỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT
BÁN LẺ TẠI VIETCOMBANK

Chương này trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất dựa vào giả thuyết về mối
quan hệ tác động của các biến độc lập với biến phụ thuộc từ chương 2. Kế đến
trình bày các phương pháp kinh tế lượng sử dụng để ước lượng mô hình hồi quy
được sử dụng trong luận văn này. Trong phần này phương pháp kiểm định tính
dừng, kiểm định đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM được trình bày
một cách chi tiết.
Kế đến là phần mô tả, cách tính các biến. Sau cùng là phần thông tin về mẫu
nghiên cứu và nguồn dữ liệu nghiên cứu.
3.1 Mô hình nghiên cứu
Qua các bài nghiên cứu đã tham khảo trong chương 2 và cơ sở lý thuyết đã học
cho thấy các tác giả đều đưa ra một qui trình xử lý dữ liệu chuỗi thời gian
giống nhau và ứng dụng mô hình kinh tế lượng phù hợp đó là mô hình hiệu
chỉnh sai số ECM (Error Correction Model).
Trong các nghiên cứu trước do các biến kinh tế đều dưới dạng là chuỗi dữ liệu
thời gian (time series data) nên các nghiên cứu trước khi đưa vào áp dụng mô
hình nghiên cứu của mình đều thực hiện các bước xử lý như sau:
 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu của các biến dựa trên kiểm định
nghiệm đơn vị (Unit Root Test).
 Xác định bậc tích hợp của các biến I(d) để có được chuỗi dữ liệu dừng.
 Kiểm định đồng liên kết (cointegration test) dựa trên phương pháp của
Johansen (Johansen Cointegration test) (Johansen, 1988 và Johansen &
Juselius, 1990) để xác định có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến.

20
 Các nghiên cứu ứng dụng nhiều mô hình khác nhau như: mô hình
VAR( Vector Autoregressive Analysis), mô hình hiệu chỉnh sai số
ECM (Error CorrectionModel 2009). Trong đó mô hình hiệu chỉnh sai
số ECM được xem là mô hình năng động, được sử dụng phổ biến trong
kinh tế khi có sự kết hợp những thông tin trong dài hạn và ngắn hạn vào
phương trình bao gồm những thành phần dừng hợp thành. ECM thực sự
hữu dụng trong việc ước lượng tác động ngắn hạn và dài hạn của các
biến nghiên cứu dưới dạng chuỗi dữ liệu thời gian (time series).
Mô hình nghiên cứu đề xuất:
Như đã nói ở trên, mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất cơ bản
được diễn đạt bằng công thức:
Yt txtt 
Trong đó:
- Yt

: Lần lượt là lãi suất tiền gửi các kỳ hạn 06 tháng, 12 tháng, 18
tháng, 24 tháng và lãi suất cho vay thế chấp ngắn hạn và trung dài
hạn tại Vietcombank

- Xt

: Lãi suất cơ bản do NHNN công bố

- t

: Sai số thống kê

-  : hệ số trong dài hạn
- Chuỗi lãi suất được kỳ vọng là đồng nhất nhau
- Biến và sai số : cố định
- 0

: đo lường sự gia tăng của lãi suất

- 1

: hê ̣ số đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn (Rousseas, 1985)

Mức truyền dẫn trong dài hạn là hoàn hảo (truyền dẫn toàn phần) nếu có
ý nghĩa thống kê)