Tải bản đầy đủ
1 Chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn

1 Chính sách tiền tệ và các kênh truyền dẫn

Tải bản đầy đủ

6
Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau,
không tách rời. Rõ ràng sự phối hợp hài hòa ba mục tiêu trên là rất quan
trọng bởi vì không phải cùng một lúc ba mục tiêu đó có thể thực hiện
được mà không có sự mâu thuẫn với nhau. Do vậy, phải tùy lúc, tùy thời
và tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ tự ưu tiên khi đặt ra các mục tiêu
cho chính sách tiền tệ. Muốn vậy, Ngân hàng trung ương phải luôn nắm
bắt được diễn biến của quá trình thực hiện các mục tiêu và cần có sự phối
hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm điều chỉnh chúng bằng
những giải pháp kịp thời và thích hợp.
2.1.2 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
2.1.2.1 Kênh lãi suất: Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều
lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn
tiền tệ quan trọng trong mô hình IS - LM của phái Keynes, một nền tảng
cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay. Có thể khái quát kênh truyền
dẫn lãi suất theo sơ đồ:
irY
M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir
), do đó làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ
đó dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y).
Cụ thể, khi chính sách tiền tệ cần được thắt chặt (hay nới lỏng), ngân
hàng trung ương hay nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ sẽ tăng (hay
giảm) lãi suất điều hành (lãi suất chính sách) các ngân hàng và các định
chế tài chính khác sẽ tuân theo bằng cách tăng (hay giảm) lãi suất của các
khoản tiền gửi của họ và lãi suất cho vay. Khi đó, để đối mặt với chi phí
vốn cao hơn (hay thấp hơn), người tiêu dùng và các doanh nghiệp sẽ theo
đó điều chỉnh mức tiêu dùng và chi tiêu vốn, do đó ảnh hưởng đến sản
lượng và mức độ lạm phát. Hiệu lực của chính sách tiền tệ do đó phụ

7
thuộc vào tốc độ cho đến phạm vi mà các định chế tài chính truyền dẫn
những biến động trong lãi suất chính thức tới khách hàng
Như vậy, bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi
suất ngắn hạn. Qua đó tác động đến lãi suất thị trường theo nguyên lý cấu
trúc kỳ hạn của lãi suất. Nhìn chung, hiệu quả kênh truyền dẫn này phụ
thuộc vào mức độ phát triển của thị trường tài chính.
2.1.2.2 Những kênh tài sản khác: F.Mishkin (2000) phân ra ba loại giá cả tài
sản bên cạnh giá cả công cụ nợ (lãi suất) được xem như là những kênh
truyền dẫn quan trọng, thông qua đó chính sách tiền tệ tác động đến nền
kinh tế: (i) giá cả chứng khoán; (ii) giá cả bất động sản và (iii) tỷ giá hối
đoái. Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp thông qua các kênh truyền
dẫn này tác động đến tình hình lạm phát và đầu tư trong nền kinh tế được
minh họa qua sơ đồ dưới đây:

2.1.2.3

Các kênh tín dụng:

Có hai kênh truyền dẫn tiền tệ cơ bản đều xuất phát từ kết quả của vấn đề
thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng là: Kênh cho vay ngân
hàng và kênh bảng cân đối tài sản.
2.2

Lãi suất cơ bản:

2.2.1 Lãi suất cơ bản đối với các quốc gia khác trên thế giới:

8
Lãi suất cơ bản ở Canada và Mỹ (Prime rate hoặc Prime lending rate) là lãi
suất mà các NHTM lớn sử dụng để cho vay các khách hàng ưu đãi, có độ tín
nhiệm cao. Lãi suất này được các tổ chức tín dụng tham khảo trong việc tính
toán lãi suất cho vay các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế.
Ở Mỹ, lãi suất cơ bản thường cao hơn 3 điểm phần trăm so với lãi suất cho
vay bù đắp dự trữ bắt buộc (federal funds rate). Tạp chí Wall Street Journal
công bố theo định kỳ lãi suất cơ bản ở các nuớc (riêng ở Mỹ, lãi suất này
tính trên lãi suất cơ bản do 30 ngân hàng lớn nhất của Mỹ công bố).
Ở Malaysia, các ngân hàng sử dụng thuật ngữ Base Lending Rate (BLR) để
chỉ lãi suất cơ bản. Lãi suất này được tính bằng chi phí huy động vốn cộng
với các chi phí quản lý, và là như nhau đối với các ngân hàng lớn. Lãi suất
cơ bản thường xuyên được các ngân hàng điều chỉnh, nhưng không là đối
tượng điều chỉnh của pháp luật. Lãi suất cơ bản hiện nay ở Malaysia là 5,8%
(có hiệu lực từ ngày 09/3/2010).
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng trên thế giới, lãi suất cơ bản thường
được sử dụng làm cơ sở để tính toán lãi suất thả nổi cho các khoản vay ngắn
hạn (như cho vay qua thẻ tín dụng, cho vay thế chấp, cho vay cá nhân…),
theo đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản cộng thêm một tỷ lệ lãi suất cố
định, tương ứng với rủi ro tín dụng.
Như vậy, có thể rút ra một số nhận xét quan trọng về lãi suất cơ bản trên thế
giới:
-

Lãi suất cơ bản là cơ sở để tính lãi suất cho vay, có thể là giá vốn của
khoản vay (trường hợp Malaysia), hoặc lãi suất cho vay khách hàng có rủi
ro thấp nhất (trường hợp Mỹ).

-

Lãi suất cơ bản do từng ngân hàng quy định, không là đối tượng điều chỉnh
trực tiếp của pháp luật.

2.2.2 Lãi suất cơ bản ở Việt Nam:

9
Khái niệm lãi suất cơ bản xuất hiện lần đầu tiên trong Luật NHNN (1997),
theo đó, “Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các
tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”. Tuy nhiên, mãi đến năm
2000, NHNN mới có quy định cụ thể về việc áp dụng lãi suất cơ bản, cụ
thể là:
-

NHNN công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay
thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng
được lựa chọn theo quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ.

-

Các NHTM chuyển từ việc áp dụng trần lãi suất cho vay sang cho vay
theo lãi suất cơ bản cộng biên độ (cho vay ngắn hạn là 0,3%/tháng, cho
vay trung dài hạn là 0,5%/tháng).
Danh sách các tổ chức tín dụng được lựa chọn để cung cấp thông tin tham
khảo cho NHNN về lãi suất cho vay ban đầu gồm 15 ngân hàng, trong đó
có 4 NHTM nhà nước, 5 NHTM cổ phần đô thị, 2 NHTM cổ phần nông
thôn, 2 ngân hàng liên doanh và 2 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam.
Tuy nhiên, đến năm 2002, NHNN lại thay đổi cơ chế cho vay theo hướng
không áp dụng lãi suất cơ bản cộng biên độ, mà cho phép các NHTM áp
dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng. Lãi suất cơ bản vẫn tiếp tục được
duy trì, nhưng chỉ để tham khảo và định hướng đối với lãi suất thị trườngi.
Đến năm 2008, khi các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính thế giới đã rõ
rệt, và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước lâm vào
tình trạng khó khăn, NHNN trở lại với cơ chế điều hành lãi suất cho vay
theo lãi suất cơ bản, theo đó lãi suất kinh doanh của NHTM (lần này bên
cạnh lãi suất cho vay, có bổ sung thêm lãi suất huy động) không vượt quá
150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Danh sách các tổ chức tín
dụng được lựa chọn để cung cấp thông tin cho NHNN lên đến 25 ngân
hàng, trong đó có 20 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh và 3 ngân
hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Cơ chế cho vay này được thực